T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
Kỳ 8 – ĐIỆP VIÊN BÍ MẬT CỦA CHÚA GIÊ-SU
Grevinec đã sẵn sàng tiếp đón phái đoàn du khách người Ý; Viên giám đốc sở tuyên truyền và quảng bá công cộng đang đứng chờ ở cửa ngõ chính dẫn vào làng để đưa phái đoàn đến trụ sở hành chính của xô-viết địa phương, nơi đó, các vị lãnh đạo Đảng khu và chủ tịch Kolkhos sẽ đọc diễn văn chào mừng quan khách. Và tất nhiên, đồng chí Petrovna vẫn là người phụ trách công việc phiên dịch. Peppone cũng đọc một bài phát biểu đã được tập dượt kỹ lưỡng để đáp lại và sau đó đã hòa theo phong tục địa phương là cùng với tất cả mọi người vỗ tay tán thưởng.
Ngoài sự hiện diện của các nhân vật tai to mặt lớn, còn có một số các viên chức cấp dưới mà đồng chí Petrovna đã giới thiệu với quan khách: các vị đứng đầu các ban ngành trong nông trang: chăn nuôi gia súc, chăm ươm trái cây và rau xanh, sản xuất ngũ cốc, sửa chữa máy móc và v…v. Căn phòng nơi đang diễn ra buổi tiếp tân có kiến trúc giống như một nhà kho hay chuồng nuôi gia súc, một chiếc bàn bằng gỗ thô sơ kê ở giữa và chung quanh là những hàng ghế; phía trên một bức tường có treo chân dung của Lenin. Ủy ban tiếp tân đã trang trí bức chân dung có khung mạ vàng bằng những nhánh cây màu xanh chói lói, nhưng vẫn không thu hút được sự chú ý của quan khách bằng sự hiện diện của khá nhiều chai rượu Vodka bày trên bàn
*
Một ly rượu Vodka, được cho chảy nhanh xuống cổ như thể người ta uống rượu vang đỏ, thì chắc chắn sẽ có tác dụng kích thích rất mạnh đến cả tâm hồn lẫn thể xác. Và Peppone đã nhanh chóng đáp ứng sự kích thích ấy một cách hết sức nhiệt tình. Sau khi đồng chí Petrovna đã loan báo thông tin rằng đặc biệt kolkhos này đã được công nhận là đơn vị vô địch trong lãnh vực sản xuất thịt heo, sữa và ngũ cốc, Peppone liền xin phép được phát biểu. Đứng đối diện trực tiếp đồng chí Oregov, hắn bắt đầu mở lời và hoàn toàn là do ngẫu hứng chứ không có chút gì gọi là chuẩn bị. Sau mỗi câu nói, hắn ngưng lại để cho cô thông dịch làm việc.
“Thưa các đồng chí, tôi đến từ tỉnh Emilia, nơi mà đúng 50 năm trước, một số những hợp tác xã nhân dân đầu tiên nhất và thành công nhất đã được thành lập. Ở đây, nông nghiệp đã được cơ giới hóa cao độ nên các sản phẩm thịt heo, sữa, ngũ cốc đều đứng đầu cả về số lượng lẫn chất lượng sản phẩm. Ở làng tôi, tôi và các đồng chí đã thành lập một hợp tác xã những người làm việc trong lãnh vực nông nghiệp. Và cách đây không lâu, hợp tác xã ấy đã được vinh danh bằng một món quà tuyệt vời đến từ Liên-Xô.
Nói đến đây, Peppone lôi từ trong va-li của mình ra một xấp hình rồi trao cho đồng chí Oregov. Những bức ảnh cho thấy sự xuất hiện được dân làng chào đón nồng nhiệt của “Nikita”, chiếc máy kéo quà tặng và kế đó là những hình ảnh hoạt động của nó trên các khu đất hợp tác xã. Những bức ảnh ấy đã được chuyền tay đến tất cả quan khách hiện diện và đã nhận được đồng loạt những sự trầm trồ khen thưởng.
“Ở đất nước chúng tôi, chủ nghĩa Tư Bản đang dần dần bị tiêu diệt,” Peppone tiếp tục phát biểu. “Dĩ nhiên, chúng tôi vẫn chưa đi đến được giai đoạn cuối cùng nhưng đã có những tiến bộ rõ rệt, như đồng chí Tarocci đây, người đến từ một khu vực với tôi, sẽ làm rõ thêm điều đó. Và tất nhiên, như một định luật không thể tránh khỏi, những đặc quyền đặc lợi của địa chủ và tu sĩ sẽ bị xóa bỏ và một kỷ nguyên mới của tự do sẽ bắt đầu. Chẳng bao lâu nữa, các hợp tác xã mô phỏng theo các kolkhos của các đồng chí và các dự án nhà nước mô phỏng theo các sovkhos ở đây sẽ thay thế cho những điều kiện lao động mang tính cách nô lệ đã tạo nên những tàn dư đáng xấu hổ từ quá khứ. Các đồng chí có thể hiểu được lý do khiến tôi có một sự quan tâm sâu sắc đến hình thức kolkhos ở nước Nga. Tôi xin đồng chí Oregov và các đồng chí lãnh đạo ở đây chỉ dẫn cho tôi từng chi tiết trong việc điều hành nông trang Grevinec này.”
Đồng chí Oregov đáp lại rằng ông ta hoàn toàn nhận thức được tầm quan trọng của lời yêu cầu đến từ đồng chí trưởng đoàn khách và ông ta sẽ làm hết sức trong quyền hạn của mình để thỏa mãn lời yêu cầu đó. Ông ta đã trao đổi ý kiến với các nhà lãnh đạo kolkhos và đồng chí Petrovna đã truyền đạt lại nội dung những bàn bạc của họ cho Peppone biết.
“Đồng chí, tất cả mọi người đều đánh giá cao sự quan tâm của đồng chí đến những khía cạnh kỹ thuật và tổ chức trong công việc của chúng tôi. Nhưng nếu tôi đóng vai trò trung gian giữa đồng chí và các nhà lãnh đạo của kolkhos trong suốt thời gian thăm viếng của đồng chí thì các đồng chí sẽ không thể nào hoàn tất được chuyến viếng thăm đúng như chương trình đã vạch ra cho chúng ta. Nhưng cũng rất may mắn là trong số những chuyên viên kỹ thuật hiện diện ở đây, có một đồng chí sẽ truyền đạt toàn bộ thông tin các đồng chí muốn biết bằng ngôn ngữ bản xứ của các đồng chí.”
Cô ta dừng lại để ra dấu cho một người đứng trong nhóm người Nga, một thanh niên da ngăm đen, gầy ốm khoảng độ tuổi từ 35 đến 40, trong bộ quần áo thợ máy, bước tới đằng trước.
“Ở đây chúng tôi có một đồng chí với nhiệm vụ chính là trách nhiệm về sửa chữa và phụ tùng máy móc nông nghiệp, tên anh là Stephan Bordonny, một người Ý…”
“Tôi là Stephan Bordonny, công dân Liên Xô,” người thanh niên gầy ốm ngắt lời cô thông dịch viên, chìa tay ra cho Peppone bắt nhưng ánh nhìn lại hướng về phía đồng chí Petrovna với vẻ trách móc. “Đúng vậy, tôi là một công dân Xô Viết, cũng như các con của tôi.”
Đồng chí Petrovna chỉ cười để khỏa lấp sự sượng sùng của mình.
“Thưa đồng chí Công Dân, tôi xin sửa sai,” cô ta nói thêm. “Lẽ ra tôi phải nói rõ đồng chí là công dân Liên Xô có nguồn gốc từ nước Ý. Trong khi chúng tôi đi thăm viếng chung quanh, đồng chí sẽ là người hướng dẫn riêng cho đồng chí Thượng Nghị Sĩ Bottazzi.”
Nói xong, cô ta quay trở lại với những người còn lại của phái đoàn. Don Camillo vừa dợm bước để đi theo cô thông dịch viên thì Peppone ngăn lại.
“Đồng chí Tarocci, ông sẽ đi với tôi,” Peppone nói một cách quả quyết, “để ghi lại tất cả những gì chúng ta sẽ được tai nghe mắt thấy.”
“Tuân theo lệnh đồng chí,” Don Camillo nói với giọng diễu cợt.
“Anh có phải là Đảng viên không vậy đồng chí?” Peppone hỏi người hướng dẫn của mình.
“Chưa, tôi chưa có được cái vinh dự đó,” người thanh niên trả lời với một vẻ không một chút ngượng ngùng, mà cũng không lộ một chút gì vui buồn trong câu trả lời.
*
Công dân Bordonny đã có những câu trả lời dứt khoát cho mọi câu hỏi của Peppone mà Don Camillo đã ghi chép đầy đủ trong quyển sổ tay của mình, nhưng không thể không thấy rằng anh ta đã tìm cách làm ngắn gọn những câu trả lời của mình đến độ không thể nào ngắn gọn hơn được nữa. Anh ta biết rất rõ mọi chi tiết trong các hoạt động của kolkhos và trích dẫn chính xác ngày tháng, những số liệu nhưng không hề cho biết những cảm nghĩ riêng của mình. Anh ta lịch sự từ chối xì gà hay thuốc lá mà Don Camillo và Peppone đem ra mời. Và bởi vì hai ông khách hút thuốc, nên anh ta cũng móc trong túi ra một mảnh báo và một nhúm thuốc Makorta rồi khéo léo cuốn thành một điếu thuốc. Họ vào thăm tháp chứa lúa mì và nhà kho nơi chứa phân bón và các dụng cụ nông nghiệp nhỏ. Tất cả đều được sắp xếp gọn ghẽ, ngăn nắp
Ở một góc nhà kho có một cái máy trông còn mới tinh nhưng có hình dáng khá kỳ lạ; Peppone hỏi cái máy ấy dùng để làm gì.
“Nó dùng để chải bông cotton,” Bordonny trả lời.
“Chải bông Cotton?” Don Camillo kêu lên. “Ý anh muốn nói rằng trong cái khí hậu như thế này các anh vẫn trồng được Cotton?”
“Không,” Bordonny trả lời thật ngắn gọn.
“Vậy thì các anh làm gì với cái máy này?”
“Nó đến đây do có sự lầm lẫn. Chúng tôi đã yêu cầu một chiếc máy đập lúa mì.”
Peppone liếc nhìn Don Camillo nhưng ông này hình như đã ngửi thấy một điều gì đó nên không có ý định để câu chuyện trôi qua.
“Vậy anh có định cải tiến nó thành máy đập lúa?”
“Không,” người hướng dẫn lạnh lùng trả lời. “Chúng tôi tự lắp ráp một chiếc máy của riêng chúng tôi.”
“Vậy anh có biết những người đã đặt mua chiếc máy chải bông sẽ phải làm sao để xử lý mớ Cotton của họ?”
“Không phải việc của chúng tôi.”
“Không thể cho phép những nhầm lẫn kiểu này xẩy ra được!” Don Camillo nói một câu cộc lốc y hệt như Bordonny.
“Diện tích xứ sở của các ông chỉ có 150 ngàn dặm vuông, còn của chúng tôi là 11 triệu dặm vuông,” Bordonny trả lời.
Đến lúc này thì Peppone can thiệp vào, cùng lúc hắn ta dẵm lên chân của Don Camillo với một cung cách rất thiếu tế nhị.
“Đồng chí Bordonny à, đích thân đồng chí chịu trách nhiệm điều hành khâu này?” Hắn hỏi.
“Không. Tôi chỉ có một phần trách nhiệm giới hạn.”
“Tôi muốn được xem những máy móc lớn hơn,” Peppone nói.
Nhà kho chứa những máy móc lớn hơn không có gì đáng xem. Đó là một cái kho khá lớn, xây bằng gỗ, mái tôn cũ kỹ rỉ sét. Nhưng bên trong thì nó thực sự gây ấn tượng. Nền nhà bằng đất nện, sạch bóng. Những chiếc máy thì được lau chùi bóng nhoáng, nằm ngay ngắn thứ tự như thể được đem ra triển lãm ở hội chợ. Công dân Bordonny biết rất rõ ngày mua, mức tiêu thụ dầu, xăng và mã lực của từng chiếc một.
Ở phía cuối tòa nhà có một xưởng thợ xây bằng gạch. Bên trong chứa một lượng dụng cụ tối thiểu, vừa đủ cho nhu cầu. Tất cả đều được bảo quản và sắp xếp một cách hoàn hảo đến độ khi nhìn thấy, Peppone bị xúc động đến gần phát khóc. Một chiếc máy kéo đang được sửa chữa và nhiều bộ phận khác nhau của động cơ được xếp ngay ngắn gọn gàng trên dãy bàn làm việc. Peppone cầm lấy một bộ phận đã được tháo rời đưa lên chăm chút quan sát.
“Ai làm việc ở khu vực này?” Hắn hỏi.
“Tôi.” Công dân Bordonny lạnh lùng trả lời.
“Với cái máy tiện này?” Peppone hỏi, lấy tay chỉ vào một dụng cụ trông có vẻ như là một cái máy tiện.
“Không, với một cái giũa,” Người hướng dẫn trả lời.
Treo trên một cái móc lớn trên tường là một cây nối được buộc chặt vào móc bằng một sợi dây cứng cáp. Bordonny cầm lấy một chiếc tuốc-nơ-vít, gõ mạnh vào cây nối, tạo nên một âm thanh như tiếng chuông.
“Cây nối bị mất cân bằng,” Anh ta nói. “Nghe tiếng rung là tôi biết rồi. Chỉ cần một cái tai kinh nghiệm là đủ.”
Peppone bỏ mũ xuống, lấy tay lau mồ hôi đang đổ trên trán.
“Anh cũng có được đôi tai như vậy à? Tôi tưởng chỉ duy nhất có một người trên thế gian này dùng phương pháp tai nghe để sửa máy. Và ở đây, ngay giữa lòng đất mẹ nước Nga tôi lại gặp được thêm một người nữa.”
“Ai vậy?” Don Camillo hỏi.
“Người thợ máy ở Torricella,” Peppone trả lời. “ Một tay phù thủy tuyệt hảo, chuyên trị điều chỉnh máy móc các loại xe đua. Một người mà nhìn bề ngoài không ai dám tin anh ta có một xu nào trong túi, nhưng các tay đua xe khắp châu Âu thường gửi xe đến cho anh ta sửa. Khi chiến tranh bước qua năm thứ hai thì xưởng sửa xe của anh ta bị trúng bom, nguyên thủy là nhắm vào cây cầu bắt qua Stivone. Anh ta cùng vợ và hai đứa con bị chết ngay tại chỗ đó.”
“Chỉ có một trong hai đứa con trai của ông ấy chết ở đó mà thôi,” Bordonny tiếp lời. “Đứa kia may mắn hơn nhờ ở trong quân đội.” Trong giọng nói của anh ta đã có sự thay đổi khi anh ta nói thêm: “Tôi rất vui khi biết vẫn còn có người nhớ đến cha tôi.”
Họ im lặng ra khỏi tòa nhà. Bên ngoài, bầu trời đen kịt với với sự đe dọa một cơn bão sắp ập đến.
“Tôi ở trong căn nhà bên kia kìa,” Bordonny nói. “Tốt nhất chúng ta nên đi tìm chỗ trú ẩn trước khi cơn mưa bắt đầu đổ xuống. Trong lúc chờ mưa tôi vẫn có thể trả lời những câu hỏi.”
Họ vừa kịp đặt chân vào nhà khi những giọt mưa đầu tiên bắt đầu rơi xuống. Căn nhà trông đơn sơ nhưng ấm áp và thân thiện, với những thanh xà ngang ám đầy khói trên trần bếp. Peppone vẫn chưa hoàn hồn lại sau sự khám phá bất ngờ về tông tích người hướng dẫn viên khi cả bọn ngồi xuống chiếc bàn dài giữa nhà.
“Lần cuối cùng tôi đến xưởng sửa xe của cha anh là vào năm 1939,” Hắn nói với vẻ mặt mơ màng như thể đang nói với chính mình. “Chiếc xe cũ mua lại từ một người đã sử dụng rồi của tôi có một chút trục trặc mà tôi không tài nào tìm ra được nguyên nhân.”
“Đó là do cái cấy nối (Connecting rod),” Bordonny nói. “Và tôi chính là người đã sửa nó mà. Cha tôi cho tôi làm người giúp việc cho ổng mà. Chiếc xe giờ thế nào rồi?”
“Nó vẫn còn chạy tốt…để cho một chú bé gầy ốm với lọn tóc đen rũ xuống trước trán…”
“Năm đó tôi mới 19 tuổi,” Bordonny tiếp lời. “Và năm đó ông cũng chưa để ria mép như bây giờ đâu, nếu tôi nhớ không lầm.”
“Chưa có ria mép, đúng rồi,” Don Camillo xen vào. “Anh ta để ria mép khi bị ném vào tù về tội say sưa và có những hành vi gây rối. Thực ra, tội danh chính của anh ta là tuyên truyền chống Phát-Xít và cuối cùng, nhờ vậy mà anh ta thành công. Sau chiến tranh, anh ta được mang danh tù nhân chính trị và là kẽ tuẫn đạo cho chính nghĩa. Đó cũng là lý do khiến anh ta trở thành xã trưởng và bây giờ là Thượng Nghị Sĩ.”
Peppone hạ nắm đấm xuống mặt bàn.
“Đó không phải là toàn bộ câu chuyện đã xẩy ra!” Hắn phản đối.
Bordonny chăm chú nhìn Don Camillo.
“Khuôn mặt ông cũng không phải là không quen thuộc với tôi,” Anh ta nói. “Ông cũng đến từ cùng một nơi với ông này?”
“Không, không,” Peppone vội vã ngắt lời. “Ông ấy cũng ở quanh quẩn vùng ấy, nhưng đến từ một thành phố khác. Chắc là anh không biết ông ta đâu. Bây giờ, anh kể cho tôi nghe làm sao anh lưu lạc đến nơi đây?”
Bordonny nhún vai trả lời.
“Chẳng có ích lợi gì khi cứ nhắc lại những chuyện đã qua trong lúc người Nga đã bỏ quên một cách rất hào phóng,” Giọng nói của anh ta đã trở nên lạnh lùng trở lại. “Nếu quý ông muốn biết rõ thêm về kolkhos, tôi sẽ có sẵn câu trả lời.”
Nhưng Don Camillo không chịu chấm dứt câu chuyện dở dang ở đó.
“Này anh bạn của tôi, đừng để cái mác Thượng Nghị Sĩ Cộng sản của ông này ảnh hưởng đến câu chuyện của chúng ta. Chúng ta không phải lúc nào cũng quan tâm đến chính trị. Anh có thể nói chuyện với chúng tôi như là một con người với những con người.”
Bordonny nhìn vào mắt từng người một, rồi anh ta quả quyết nói.
“Tôi không có gì để giấu giếm hết. Tất cả mọi người ở Grevinec này biết quá rõ câu chuyện của tôi. Nhưng bởi vì không ai nhắc đến nó, nên tôi cũng không muốn tự mình nhắc lại làm gì.”
Don Camillo chìa ra gói thuốc lá sản xuất ở Ý.
Bên ngoài, trời đang bão. Những hạt mưa rơi xuống đập mạnh vào thành cửa sổ.
“17 năm nay tôi thèm một điếu thuốc lá như thế này,” Bordonny vừa nói vừa châm lửa điếu thuốc trên môi. “Tôi không bao giờ có thể làm quen được với thứ thuốc makorta
vấn bằng giấy báo. Mỗi lần hút là mỗi lần bao tử tôi nó như cuộn lên.”
Anh ta tham lam hít thêm vài hơi nữa rồi để cho khói từ từ bay từng ngụm ra khỏi miệng mình.
“Câu chuyện rất đơn giản. Lúc ấy, tôi đang ở tuyến đầu, đối diện với quân Nga, ngày ngày làm việc ở một trạm sửa chữa xe tải. Một hôm, quân Nga ùa vào, bắt tất cả bọn tôi và dẫn đi. Đó là thời điểm cuối năm 1942, trời đổ tuyết và gió lạnh làm nhiều người chết. Họ lùa chúng tôi đi phía trước như lùa một đàn cừu. Thỉnh thoảng có người đi không nổi, ngã xuống đất. Thế là bọn họ bèn chạy đến thưởng cho một phát súng vào đầu rồi để mặc cái xác nằm đó giữa đống tuyết lầy lội như bùn. Tôi cũng bị ngã xuống giữa đường, nhưng tôi biết chút ít tiếng Nga đủ để cho bọn lính hiểu mình nến khi có anh lính chạy đến đá cho tôi phát và bảo “Đứng Dậy” thì tôi có thể giải thích tình trạng của mình. Tôi nói: ‘Tovarisch (Đồng Chí), tôi không thể đi nổi được nữa. Hãy để tôi chết trong an lành.’ Tôi là một trong những tù binh đi cuối hàng. Những người ở phía trước đã cách tôi khoảng hàng trăm bộ và giữa trời đang đổ tuyết, tôi không còn có thể nhìn thấy họ được nữa. Anh lính Nga chĩa súng ở phía trên đầu tôi rồi nói nhỏ: “Chết nhanh lên đi. Đừng gây rắc rối cho tao nữa.”
Giữa lúc đó, một người quấn mình trong lớp bao tải sũng nước bước vào trong bếp. Khi cởi bỏ lớp che đậy bên ngoài, hiện ra một phụ nữ xinh đẹp không quá 30 tuổi.
“Vợ tôi,” Stephan bảo.
Người phụ nữ mỉm cười chào khách, lẩm bẩm vài câu gì không rõ rồi biến mất vào chiếc cầu thang hình trôn ốc.
Bordonny tiếp tục câu chuyện dở dang.
“Chúa đã định cho tôi phải sống. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình ở trong một cái isba (lều gỗ) ấm áp. Nơi tôi ngã xuống cách đó khoảng chừng nửa dặm, giữa những cánh rừng và làng mạc. Một cô gái 17 tuổi đi kiếm củi đã nghe được tiếng rên rỉ phát ra từ một đống tuyết. Cô ấy có đôi tay rất khỏe đã nắm lấy cổ áo của tôi mà kéo lê tôi đi như kéo một bao tải khoai tây, trên vai cô vẫn đeo đống củi thu nhặt được.”
“Những nông dân Nga này là những người tốt,” Peppone nói. “Một anh chàng khác có tên là Bago, từ Moinetto, cũng đã được cứu trong một trường hợp tương tự.”
“Rất nhiều người như tôi đã phải mang ơn họ cứu mạng. Nhưng cô gái này không phải người Nga, cô ấy gốc Ba Lan. Gia đình cô ấy dọn đến đây vì lúc ấy, ở đây, họ đang thiếu hụt công nhân làm việc trong lãnh vực nông nghiệp. Họ chia sẻ chút thực phẩm hiếm hoi họ có được với tôi và giúp tôi ẩn trốn trong hai ngày. Tôi hiểu rằng tình trạng như thế này không thể kéo dài mãi được. Thêm nữa, nhờ tôi và cô gái có thể trao đổi với nhau võ vẽ bằng một thứ tiếng Nga bồi nên tôi bảo cô ấy hãy đi báo cáo cho nhà chức trách biết rằng có một người lính Ý bị đi lạc và gia đình cô ấy tình cờ gặp được mới mấy tiếng đồng hồ trước đó. Tuy có vẻ ngần ngại nhưng cô gái cũng bằng lòng làm việc đó. Chẳng bao lâu sau, cô quay về với một người mang súng lục và hai người khác đeo súng dài. Tôi giơ hai tay lên và họ ra dấu cho tôi đi theo họ. Căn lều của gia đình người Ba Lan ở vị trí xa nhất trung tâm ngôi làng nên tôi phải đi bộ một đoạn đường rất dài với cây súng chĩa ngay bên cạnh sườn. Cuối cùng, chúng tôi cũng đến khoảng sân trống chỗ để cái tháp chứa hạt ngũ cốc mà các anh đã nhìn thấy đó. Một chiếc xe tải chất đầy những bao lúa mì đang đậu ở đó. Và một anh đang tìm cách cho máy xe nổ nhưng lại làm công việc ngược lại là phá máy. Nhìn thấy như vậy, tôi nổi sùng bèn quay qua nói với một trong những người đi bắt tôi: ‘Tovarisch này, anh ta sẽ phá toi bình điện mà vẫn không thể nào làm cho máy xe nổ được. Bơm phun chắc chắn là đã bị nghẹt rồi; bảo anh ấy bơm xăng ra ngoài.’ Anh chàng canh chừng tôi ngạc nhiên khi nghe tôi võ vẽ vài chữ tiếng Nga. Anh ta nghi ngờ hỏi lại. ‘Làm sao anh biết được nó bị như vậy?’ Tôi trả lời anh ta: ‘Nghề nghiệp của tôi mà.’Chiếc bình ăc-quy điện mỗi lúc một yếu đi nên anh ta đẩy tôi về phía chiếc xe tải và ra lệnh cho tài xế làm đúng theo lời tôi nói. Cái khuôn mặt ló ra khỏi cửa sổ cabin xe là một cậu bé rất trẻ trong bộ quân phục. Cậu ta thậm chí cũng không biết cái máy bơm nào tôi đang nói đến vì từ trước tới giờ cậu ta chưa bao giờ lái một chiếc xe chạy bằng dầu diesel. Tôi bèn hỏi mượn một chiếc tuốc-nơ-vít, mở nắp xe lên và tháo chiếc bơm phun ra lau chùi. Xong xuôi, tôi bảo cậu: ‘Giờ thì máy xe sẽ nổ.’ Vài phút sau chiếc xe tải chạy vụt đi.
“Sau đó, họ nhốt tôi trong một căn phòng nhỏ vốn là phòng làm việc của xô viết địa phương, cho tôi ít thuốc lá làm bạn. Chừng 10 phút sau họ quay lại, súng chĩa vào lưng tôi, đẩy tôi đến một chỗ giống như nhà kho với những sắp xếp tạm bợ cho việc sửa chữa máy kéo và các thứ máy móc nông nghiệp khác. Họ chỉ một chiếc máy kéo và bảo tôi xem coi nó bị hư chỗ nào. Tôi xin họ cung cấp cho một ít nước sôi để đổ vào bình tản nhiệt rồi tôi thử khởi động máy. Tôi nhảy xuống và bảo họ: ‘Trục trặc nằm ở cái xi-lanh. Phải tháo buồng máy ra hết và làm lại xi-lanh. Sẽ phải tốn khá nhiều thì giờ.’ Với những dụng cụ khốn khổ họ đưa cho tôi, tôi đã phải làm việc như điên trong 48 tiếng đồng hồ. Vừa đúng lúc tôi lắp toàn bộ động cơ trở lại vào máy thì có một viên sĩ quan và hai người lính trang bị súng tiểu liên đi tới. Họ đứng đó quan sát một lúc, trong khi tôi đổ thêm nước sôi vào bình giải nhiệt và thử khởi động máy. Chúa muốn cho tôi được sống bởi vì chỉ một lần khởi động là máy nổ và chiếc máy kéo chạy ngon lành như mơ. Tôi lái chiếc máy kéo vòng vòng quanh căn nhà kho rồi trở về đậu đúng vị trí cũ. Tôi với lấy một miếng giẻ vụn, lau tay rồi nhẩy xuống đứng trước mặt viên sĩ quan, hai tay giơ cao lên khỏi đầu. Tất cả những người có mặt đều phì cười. “Anh ta thuộc về đồng chí đấy!’ Viên sĩ quan nói với tay Đảng ủy khu vực. “Đây là trách nhiệm của đồng chí; nếu anh ta bỏ trốn, đồng chí phải trả giá cho việc đó.’ Tôi cũng góp với họ tiếng cười. Tôi nói: ‘Đại úy à, Nước Nga quá rộng lớn, mà tôi thì không chắc đủ sức chạy xa hơn chỗ cái isba biệt lập ở bìa rừng, nơi có một cô gái mà tôi đã phải lòng, cho dù chính cô ấy đi báo cáo sự có mặt của tôi.’ Viên sĩ quan nhìn tôi từ trên xuống dưới. ‘Anh là một công nhân Ý rất giỏi. Sao anh lại đi chống lại công nhân của Liên Xô?’ Tôi trả lời rằng tôi làm công việc ấy vì bị bắt buộc. Hoạt động duy nhất của tôi trong quân đội chỉ là sửa chữa xe tải và những người Nga duy nhất mà tôi giết là hai con gà do vô ý mà cán lên chúng…”
Bên ngoài, cơn bão hoành hành dữ dội hơn bao giờ hết. Bordonny đứng dậy và nói vào một chiếc máy điện thoại viễn liên cũ của quân đội đặt ở góc phòng.
Một lúc sau, anh ta quay lại và nói:
“Họ bảo hai ông có thể cứ nên ở đây. Những người khác trong phái đoàn của các ông đang bị kẹt tại Chuồng Gia Súc số 3, nằm mãi phía tận cùng ở một nơi không biết là đâu.” Rồi anh ta ngồi xuống.
“Rồi sau đó chuyện gì xẩy ra?” Don Camillo hỏi.
“Tôi làm việc cật lực như một con chó, sửa chữa máy móc cho họ và sắp xếp nơi làm việc cho đâu ra đó. Đến lúc mà tôi có thể tạm dừng tay để nghĩ về mọi việc thì chiến tranh cũng vừa chấm dứt. Cha của cô gái Ba Lan qua đời, chúng tôi kết hôn với nhau. Với thời gian qua đi, cả hai chúng tôi đều được cấp quốc tịch Xô Viết.”
“Và anh có bao giờ nghĩ đến việc trở về cố hương không?” Don Camillo hỏi.
“Để làm gì? Để chứng kiến đống vụn nát nơi mà cha anh tôi đã rữa xương ở đó? Ở đây, họ đối xử với tôi như là một trong những người nước họ. Thực ra, họ đối xử với tôi tốt hơn bởi vì tôi rất giỏi với công việc của mình. Ở quê nhà, đâu có còn ai nhớ đến tôi. Tôi chỉ là một trong những tù nhân chiến tranh đã bị mất tích ở nước Nga…”
Ngay lúc đó, có tiếng ồn ào khá lớn rồi cửa mở toang. Một dòng nước chảy vào nhà cùng với con quái vật hình dáng kỳ lạ trông rất giống một con rết khổng lồ. Không biết từ đâu xuất hiện cô vợ của Bordonny vội vã chạy ra đóng cửa. Lớp vải dầu bóng loáng phủ lên con quái vật rơi xuống nền nhà và để lộ ra nửa tá trẻ con. Từng đứa một nhảy ra, đứa sau trông sáng sủa hơn đứa trước, tuổi chúng sàn sàn từ 6 cho đến 12 tuổi.
“Thời gian anh mất tích ở nước Nga là một khoảng thời gian rất đáng giá. Tôi có thể nhìn thấy điều đó!” Don Camillo kêu lên.
Bordonny chăm chú nhìn Don Camillo lần nữa.
“Tôi có cảm tưởng mình đã từng gặp ông trước đó mà,” Anh ta nhắc lại.
“Không chắc đâu,” Don Camillo bảo. “Mà cho dù anh có gặp tôi trước đó, thì cũng nên quên đi nhé.”
Những đứa trẻ hẳn phải được nuôi dạy rất tử tế. Mặc dù chúng gây nên một sự ồn ào lúc mới từ ngoài mưa chạy vào, nhưng chỉ cần vài lời từ người mẹ là cả bọn đã ngoan ngoãn trở lại. Bây giờ thì chúng ngồi xuống một cái ghế dài gần lò sưởi và nhỏ giọng nói chuyện với nhau.
“Tụi nó còn nhỏ quá,” Người phụ nữ nói lời xin lỗi hai vị khách bằng một thứ tiếng Ý rất chuẩn làm khách khá ngạc nhiên. “Các cháu quên rằng bà ngoại đang bị bệnh nằm trên lầu.”
“Chúng tôi lên thăm bà được không?” Don Camillo hỏi.
“Bà sẽ rất vui được gặp quý ông. Hiếm khi nào bà có dịp gặp gỡ được ai cả.”
Họ leo lên một cầu thang hình tròn để bước vào một căn phòng có trần nhà hơi thấp. Một bà già bé quắt nằm trên chiếc giường phủ chăn nệm trắng phẳng phiu. Cô vợ của Bordonny nói với bà bằng tiếng Ba Lan một câu gì đó và bà thì thầm một câu trả lời.
“Bà nói xin Thiên Chúa ban phúc lành cho những người đến thăm kẻ bịnh,” Cô vợ giải thích. “Bà đã già lắm rồi và không thể làm gì khác ngoài nghĩ về quá khứ của mình.”
Ở đầu giường có một khung hình thánh; Don Camillo cúi xuống để nhìn cho kỹ bức hình.
“Đó là hình Đức Mẹ Đen,” Don Camillo nói.
“Phải,” người vợ thì thầm, “Đấng che chở cho Ba Lan. Người Ba lan trước đây đều là Công giáo. Vì tuổi tác khá cao của bà nên xin quý ông tha thứ cho bà.”
Người vợ nói một cách thận trọng và thoáng có một vẻ sợ hãi trong đôi mắt của người phụ nữ.
Peppone nói để trấn an:
“Chẳng có gì để phải xin tha thứ. Ở nước Ý, những người trẻ cũng theo đạo Công Giáo mà. Điều đó không có gì phải lo lắng miễn là họ giữ đạo ở một mức độ nào đó. Kẻ thù chính của chúng ta là giới tu sĩ, vì họ đã trộn lẫn chính trị vào tôn giáo.”
Bà cụ già nói nhỏ điều gì đó vào tai của cô con gái và người chiếu một tia nhìn dò hỏi về phía Bordonny.
“Họ không đến đây để làm bất cứ điều gì có hại cho chúng ta,” anh này nói với vợ.
“Mẹ muốn được biết…Đức Giáo Hoàng có khỏe không,” người vợ nói lắp bắp.
“Ông ấy rất khỏe mạnh!” Peppone trả lời.
Don Camillo rút ra một vật gì từ trong túi áo. Bà cụ già nhìn chăm chăm vào vật ấy đôi mắt mở rộng rồi thò ra cánh tay đầy xương xẩu. Bà phấn khích thì thầm vào tai cô con gái.
“Bà muốn được biết đó chính là Đức Giáo Hoàng.”
“Chính Ngài, không phải ai khác. Giáo Hoàng Gio-An thứ Hai Mươi Ba.”
Mặt Peppone bỗng xanh như tàu lá, nhìn xung quanh với một vẻ e ngại thấy rõ.
“Đồng chí này,” Don Camillo nắm lấy cánh tay Peppone và đẩy hắn về phía cửa, “xuống ngồi nói chuyện với công dân Bordonny và xem coi trời đã hết mưa chưa nhé!”
Peppone ra dấu phản đối, nhưng Don Camillo chặn ngay lại.
“Đừng có can thiệp vào việc của ta, nếu như ông muốn bản thân ông được an toàn.”
Bây giờ chỉ còn lại Don Camillo và hai người phụ nữ.
“Nói với mẹ của cô cứ nói chuyện một cách thoải mái, vì tôi cũng là người Công giáo giống như mẹ cô.”
Hai người phụ nữ nói chuyện với nhau một lúc. Rồi người trẻ hơn báo cáo lại:
“Mẹ tôi muốn tỏ lời cám ơn ông và xin chúc lành cho ông. Bây giờ thì bà đã có được bức hình giúp bà có được cảm tưởng mình sẽ chết trong yên lành. Khi cha tôi mất, mẹ tôi đã khổ sở vô cùng vì ông đã không nhận được những nghi thức cuối cùng của Giáo Hội.”
“Nhưng ở đây cũng có những linh mục hay đại loại như thế, được tự do ghé thăm giáo dân mà, đúng vậy không?” Don Camillo hỏi.
Người phụ nữ trẻ lắc đầu.
“Họ trông giống linh mục, nhưng họ là đặc phái viên không phải của Chúa mà là của Đảng. Điều ấy chẳng có ích gì cho người Ba Lan chúng tôi cả.”
Trời vẫn tiếp tục mưa như trút nước. Don Camillo cởi chiếc áo ngoài, kéo cây thánh giá giấu trong cây bút máy ra ngoài, nhét vào một cái cổ chai để nó đứng cho thẳng rồi để qua chiếc bàn nhỏ bên cạnh. Rồi ông lấy ra chiếc ly bằng nhôm được dùng làm chén thánh.
Khoảng 15 phút sau, sốt ruột vì sự im lặng khác thường ở lầu trên, cả Peppone và Bordonny bèn chạy lên nhìn qua kẽ hở ở cửa. Trước hai cặp mắt kinh ngạc của họ, Don Camillo đang cử hành thánh lễ. Bà cụ già, hai tay khoanh trước ngực, đôi mắt đẫm lệ nhìn theo mọi động tác của Don Camillo. Sau khi nhận được mình thánh, có vẻ như một luồng sinh khí mới đang chảy qua từng mạch máu trong cơ thể bà.
“Ite, missa est…(Lễ xong, chúc mọi người đi bình an)
Bà cụ già nói nhỏ một hơi không nghỉ vào tai cô con gái. Cô này bèn chạy đến đứng bên cạnh chồng.
“Thưa Cha,” cô nói với một giọng vô cùng phấn khích, “Cha sẽ làm phép cưới cho chúng con trước mặt Thiên Chúa chứ? Cho đến giây phút này, chúng con chỉ là vợ chồng trước mặt con người thôi.”
Bên ngoài, trời vẫn mưa tầm tã như thể toàn bộ mây trên bầu trời nước Nga đã đổ vể che phủ vùng Grevinec. Không có nhẫn cưới, nhưng người vợ đã lấy một chiếc nhẫn bạc màu ra khỏi ngón tay áp út của mình.
“Lạy Cha,” Don Camillo cầu khẩn, “Xin ngài đừng bực mình nếu con có bỏ sót vài chữ hoặc thậm chí cả câu.”
Peppone cứ đứng đó như một bức tượng cho đến khi Don Camillo đầy hắn xuống cầu thang.
“Đi xuống và đem chúng lên hết cả đây, hết tất cả!” Ông ta ra lệnh.
Cơn mưa bên ngoài đã bắt đầu dịu lại, nhưng Don Camillo đã quá căng thẳng đến độ không thể dừng lại được. Trong nháy mắt, cha Don Camillo đã rửa tội xong cho tất cả lũ trẻ. Và ông ta đã không bỏ sót một chữ nào, như đã đe dọa, nói gì đến cả một câu. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban cho ông ta sức mạnh và lòng tin để làm được những điều đó.
Tất cả đã hoàn tất chỉ trong một giờ, hoặc có thể nói chỉ trong một phút. Bây giờ thì Don Camillo, một lần nữa, đang ngồi trên cái bàn ăn giữa căn bếp, bên cạnh là Peppone và đối diện là Bordonny. Mặt trời đã ló ra khỏi đám mây. Trong một góc tối, những con mắt lũ trẻ sáng bừng lên. Don Camillo đếm từ con mắt; 12 con của lũ trẻ, 4 con của cha và mẹ, và 2 con của bà ngoại già. Bà cụ không thể xuống nhà đoàn tụ với con cháu, nhưng đôi mắt của bà đã hằn sâu trong ký ức của vị linh mục, bởi vì trước đó, ông chưa bao giờ nhìn thấy được những con mắt như thế,
Cùng lúc đó, đồng chí Nadia Petrovna xuất hiện trước cửa. “Mọi chuyện ổn cả chứ?” Cô ta hỏi.
“Mọi thứ đều tuyệt hảo, đồng chí à!” Don Camillo đáp lại.
“Chúng tôi vô cùng biết ơn đồng chí Oregov đã chỉ định cho chúng tôi một người hướng dẫn đầy năng lực như Công dân Stephen Bordonny,” Peppone thêm vào, quay lại bắt tay chủ nhà rồi tiến bước ra cửa.
Don Camillo là người sau cùng rời khỏi căn nhà. Khi ra đến thềm, ông ta quay lại làm dấu thánh giá.
“Pax vobiscum,” (Bình an ở cùng mọi người) Ông nói trong miệng.
Và đôi mắt bà cụ già đáp lời:
“Amen”
Chú Thích:
Kolkhos vàSovkhos: Cả hai đều là tên gọi các hợp tác xã nông nghiệp hay nông trang tập thể (collective farm) ở Liên-Xô trong thời kỳ sau cách mạng 1917, nhưng vẫn có sự khác biệt đáng kể. Trong khi Kolkhos là sự hợp tác giữa các cá nhân nông dân với nhau (tự nguyện hay bắt buộc) để cùng nhau canh tác, chăn nuôi và sản xuất; thì sovkhos là những nông trang rộng lớn do nhà nước sở hữu, quản lý trong mọi hoạt động canh tác, chăn nuôi và sản xuất. Công nhân nông nghiệp (agricultural worker) làm việc ở sovkhos được nhà nước trả lương (như công nhân làm trong các xí nghiệp, nhà máy). Những định nghĩa nêu trên đều chỉ là những định nghĩa trên sách vở, lý thuyết. Trong thực tế có thể có những sự khác biệt đáng kể khác tùy theo từng vùng, khu. Giờ đây, những khái niệm này chỉ còn là lịch sử. Những chú thích này chỉ có mục đích nhằm giúp độc giả hiểu rõ hơn nội dung những vấn đề đặt ra trong các câu truyện của tập (3) “ĐỒNG CHÍ CAMILLO”này. (Người Dịch)
