T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
Kỳ 13-CÀ PHÊ CỦA ĐỒNG CHÍ NADIA
“Đồng chí, tôi gặp rắc rối rồi,” Scamoggia nói.
“Ai làm thì người đó chịu,” Don Camillo trả lời, không ngẩng đầu.
“Nhưng rắc rối này không phải của tôi,” Scamoggia giải thích, “mà là của người khác. Nhưng đã được chuyển sang tôi, và nhiệm vụ của tôi là chuyển tiếp cho cấp trên trực tiếp của mình. Sau đó đồng chí sẽ báo cho thủ trưởng, rồi thủ trưởng báo cho cấp cao hơn nữa. Đó chẳng phải là thủ tục chính thức đúng quy trình sao?”
Don Camillo, đang mệt lử sau một buổi chiều náo loạn như Babylon dưới sảnh, đã lên phòng nằm vật ra giường.
“Nếu chuyện này là việc chính thức,” ông vừa ngồi dậy vừa nói, “thì đúng vậy. Ngồi xuống kể tôi nghe đi.”
Scamoggia nhún vai.
“Tôi kể cho đồng chí nghe rồi đồng chí tự quyết định xem nó có chính thức không,” hắn nói. “Đồng chí biết đồng chí Gibetti chứ?”
“Biết chứ,” Don Camillo đáp.
Thật ra ông chỉ biết những gì đã đọc trong hồ sơ của Peppone. Gibetti là người vùng Tuscany, bốn mươi tuổi, kỹ sư điện, từng là du kích quân, tư tưởng vững vàng, nắm chắc đường lối Đảng. Don Camillo chưa có dịp quan sát trực tiếp vì cũng như Li Friddi (người Sicily) và Curullu (người Sardinia), Gibetti là loại người kín tiếng, chẳng bao giờ để lộ suy nghĩ.
“Tôi quý anh ấy,” Scamoggia nói. “Cứng cỏi, giống tôi. Trong chiến khu, từng vào sinh ra tử không một lời kêu ca.”
“Tôi biết điều đó,” Don Camillo gật đầu.
“Đồng chí có biết thời chiến anh ấy từng chiến đấu ở Nga, gần Stalino không?”
“Nếu xét thành tích sau này của anh ấy trong lực lượng kháng chiến, thì chuyện đó không nên bị xem là điểm trừ.”
“Tôi cũng nghĩ vậy, đồng chí à. Nhưng trong trường hợp này, e là nó có hệ lụy.”
“Sao thế?”
“Khi ấy, anh ấy mới hai mươi ba. Dù đã được lệnh nghiêm cấm, nhưng vẫn nổi hứng ‘thân thiện với địch’. Và khi ‘địch’ là một cô gái Nga mười bảy tuổi đẹp rực rỡ thì… đồng chí cũng đoán được rồi đấy. Họ đi quá giới hạn. Rồi quân mình rút lui, mọi thứ kết thúc.”
Don Camillo dang hai tay ra.
“Chuyện không hay ho gì, nhưng trong chiến tranh thì những việc như vậy là khó tránh. Ở nước nào mà chẳng có những cô gái trót vướng vào lính ngoại quốc.”
“Đúng,” Scamoggia thừa nhận. “Nhưng điều hiếm thấy là một người lính vẫn nhớ mãi về cô gái ‘địch’ suốt mười bảy năm sau chiến tranh. Mà đó lại chính là chuyện của Gibetti.”
Hắn kéo một hơi thuốc, rồi kể tiếp:
“Anh ấy kể hết cho tôi nghe. Ban đầu, anh định đưa cô ấy về Ý. Cho cô mặc quân phục lính Ý, nhờ đồng đội giúp đỡ, tính đường rút lui. Nhưng rồi đơn vị bị quân Nga vây. Vì sợ cô bị bắt và xử tử, anh ấy đành đưa cho cô tất cả khẩu phần gom được, rồi bảo trốn vào một căn isba bỏ hoang. Hẹn: nếu họ thoát được, sẽ quay lại đón. Còn nếu bị giết hoặc bắt thì cô hãy đợi chiến tranh kết thúc rồi tìm đường về nhà – có thể nói rằng ‘bị người Ý bắt đi’.”
“Trận chiến kéo dài ba ngày. Cuối cùng phía Nga phải rút vì sợ bị bao vây ngược. Gibetti quay lại isba – thì cô ấy đã không còn ở đó nữa. Anh về nước mà hình bóng cô gái cứ ám ảnh. Sau hiệp định đình chiến, anh lên núi tham gia kháng chiến – vẫn chưa quên. Hết chiến tranh, anh vào Đảng – nhưng điều đó cũng chẳng giúp anh quên được hay tìm lại được cô ấy. Tất cả những gì anh làm được là gửi thư – nhờ bất kỳ đồng chí nào có dịp sang Nga. Chẳng biết thư có được gửi không, hay có đến được tay người nhận hay không – tóm lại là anh chẳng bao giờ nhận được hồi âm.”
“Và rồi, sau mười bảy năm, cuối cùng anh tìm được cách đến Nga – đúng vào lúc quan hệ hai bên có phần dịu lại…”
“Ban đầu, trong chương trình chính thức, chúng tôi sẽ ghé qua Stalino – cô gái đó hình như sống gần đó. Nhưng giờ lịch thay đổi, và anh ấy không biết phải làm gì. Đó là lý do anh tâm sự với tôi. ‘Cậu quen thân với đồng chí Nadia Petrovna mà,’ anh ấy nói. ‘Xem có giúp được gì không. Mình sẵn sàng ở lại đây nếu cần – mình làm bất cứ điều gì miễn là tìm được cô ấy.’”
“Tôi bảo anh ấy cứ để tôi lo, cứ tin tôi. Rồi tôi đến gặp đồng chí Nadia. Cô ấy là người có đầu óc tỉnh táo. Điều đầu tiên cô ấy nói là phải điều tra tình hình hiện tại của cô gái. Tôi đưa tên và địa chỉ, và cô ấy viết thư cho một người bạn đang giữ chức quan trọng ở Stalino.”
Scamoggia dừng lại, lấy từ túi áo ra một tờ giấy đánh máy.
“Đây là hồi âm,” hắn nói.
Don Camillo lật tờ giấy qua lại trong tay.
“Với tôi thì tờ này vô nghĩa,” ông nói. “Tôi đâu biết tiếng Nga.”
“Đây, bản dịch tiếng Ý của đồng chí Nadia,” Scamoggia đưa thêm một tờ nữa.
Lá thư ngắn gọn. Nói rằng một đơn vị cơ giới của Hồng quân đã tìm thấy cô gái, mặc áo khoác quân đội Ý, trong một căn isba gần chiến tuyến. Cô khai rằng người Ý đã đưa cô đến đó sau khi họ rút khỏi làng K., trái ý cô, nhưng cuối cùng cô đã trốn được. Sau đó, cô bị đưa về làng, giao cho chính quyền địa phương, bị buộc tội cộng tác với địch và bị xử tử tại chỗ.
“Nhưng tôi không thể nói chuyện này với Gibetti,” Scamoggia kết luận. “Nếu đồng chí thấy nên nói, thì cứ nói. Còn nếu không – nhớ là anh ấy vẫn khăng khăng đòi ở lại vì tin rằng sẽ tìm ra cô ấy. Chuyện này vượt quá sức tôi rồi, tôi xin rửa tay.”
Nói xong, hắn bước ra khỏi phòng, để lại Don Camillo một mình.
Liên Xô có thừa ma quỷ, và một tên trong số đó bắt đầu kéo tà áo chùng của Don Camillo – chiếc áo mà ông vẫn mặc trong tinh thần, dù hiện tại đang cải trang. Quỷ thì thầm: “Tiến lên đi, Don Camillo! Cơ hội đây rồi – hạ bệ Gibetti đi!”
Nhưng Don Camillo đá văng nó đi. Ngay lúc đó Peppone bước vào phòng, và Don Camillo lập tức túm lấy tay hắn.
“Dù sao thì đồng chí cũng là cấp trên của tôi,” ông nói, nhét tập giấy vào tay hắn. “Tôi giao lại vụ rắc rối nhỏ này cho đồng chí xử lý.”
Rồi vì đống giấy tờ chưa đủ để nói rõ sự tình, ông kể lại toàn bộ câu chuyện. Peppone quay người, khóa cửa lại rồi hét lên như bị chích điện:
“Lực lượng tinh hoa! Mười người được chọn kỹ càng! Và rồi sao? Rondella gây rối từ ngày đầu, phải cho về nước. Scamoggia thì nhét nước hoa trong túi, định đóng vai Don Juan, Capece thì hóa ra tình địch. Bacciga thì buôn lậu chợ đen, Tavan thì thắp nến cho mộ anh trai. Peratto bảo chụp ảnh cho báo Đảng, nhưng lại bán ảnh cho báo tư bản – hắn tưởng tôi không biết chắc? Tôi biết hết! Và giờ đến Gibetti – người tưởng chừng không chê vào đâu được – cũng góp phần làm loạn! Có phải không ai trong số này đến đây vì Liên Xô? Ai cũng có mục đích riêng, giấu trong tay áo!”
“Đồng chí khắt khe quá rồi,” Don Camillo an ủi. “Curullu và Li Friddi vẫn trắng trong như tuyết đầu mùa đấy chứ.”
“Cặp khúc gỗ ấy à? Im lặng không phải vì đạo đức, mà vì sợ vạ miệng!”
“Còn đồng chí quên mất Tarocci rồi!”
“Tarocci?” Peppone lẩm bẩm. “Là ai cơ?” Rồi hắn sực nhớ, đứng chống chân dang rộng, đưa ngón tay cái chỉ thẳng vào mặt Don Camillo.
“Là ông!” hắn gào. “Ông mà không cẩn thận là sẽ tiễn tôi về nước trong… quan tài! Từ ngày gặp lại ông ở Rome, đời tôi như địa ngục. Mỗi lần ông mở miệng là tim tôi nhảy lộn nhịp, bao tử tôi lộn tùng phèo. Đêm tôi mơ ác mộng, sáng dậy ê ẩm cả người.”
Hắn dừng lại, lau mồ hôi trên trán.
“Nếu mục tiêu của ông là làm tôi suy sụp – thì ông đạt rồi. Tôi gục thật rồi.”
Don Camillo chưa bao giờ thấy Peppone xuống tinh thần đến vậy – chưa bao giờ tưởng tượng được hắn lại bế tắc đến thế. Trong lòng ông dâng lên một cảm giác lạ: thương hại chân thành.
“Chúa là chứng nhân – tôi chưa bao giờ có ý hại đồng chí,” ông nói, giọng chân thành.
“Vậy sao lại lôi tôi vào trò đóng kịch này? Giờ đâu còn bức màn sắt nữa. Ông thấy rồi đó – người từ khắp nơi trên thế giới vẫn vào ra tự do. Ông có thể sang đây như một khách du lịch, mặc thường phục, tự túc. Tôi còn sẵn lòng trả tiền vé cho ông nữa kìa. Còn kiểu này – ông tuy không tiêu tiền của tôi – nhưng làm tôi khổ như trâu lăn bánh. Và chưa hết đâu. Chắc ông khoái chí vì được đi chơi bằng tiền của Liên Xô?”
Don Camillo lắc đầu.
“Tôi không muốn nhìn thấy Liên Xô như một khách du lịch. Tôi muốn nhìn nó qua mắt của đồng chí. Xem một vở diễn từ ghế khán giả khác hẳn với việc đứng sau sân khấu cùng những vai phụ. Trừ khi Đảng đã làm đồng chí lú hẳn rồi, đồng chí phải biết tôi thành thật.”
Peppone đứng dậy, bước lại bên cái giá để vali. Hắn bắt đầu mở khóa nhưng rồi khựng lại giữa chừng.
“Ông lấy cả chai rượu brandy của tôi luôn rồi!” hắn thốt lên. “Tôi muốn biết tại sao ông nhất quyết tặng nó cho đồng chí Oregov?”
“Chẳng vì gì cả,” Don Camillo điềm nhiên. “Tôi cũng thiệt như anh thôi, vì bây giờ tôi phải chia phần rượu của mình cho anh.”
Ông lôi từ túi ra một chai khác. Sau khi nốc một ly đầy, Peppone dường như lấy lại bình tĩnh và khả năng xử lý sự việc.
“Rồi, bây giờ thì sao?” Don Camillo lại giơ hai tờ giấy lên. “Đồng chí định giải quyết vụ này thế nào?”
“Ông tự xử đi,” Peppone gắt. “Tôi không muốn nghe gì hết.”
Don Camillo lập tức đến phòng của Gibetti. Không vòng vo, ông đi thẳng vào chuyện.
“Đồng chí Scamoggia có tin xấu, nhưng anh ấy không đủ can đảm để nói, nên tôi đến thay.”
Gibetti bật dậy khỏi giường.
“Anh nên quên cô gái ấy đi,” Don Camillo nói. “Cô ấy đã lập gia đình và có năm đứa con.”
“Không thể nào!” Gibetti sững người.
“Đồng chí có biết tiếng Nga không?” Don Camillo hỏi.
“Không.”
“Vậy mà sao lại ‘giao lưu’ với cô ta sâu đến thế?”
“Chúng tôi… hiểu nhau không cần lời.”
“Thế còn thư từ?”
“Tôi biết viết tên cô ấy và tên làng, rồi nhờ người dạy viết câu: ‘Tôi vẫn nhớ em. Tôi sẽ quay lại. Hãy viết thư cho tôi.’ Cô ấy có địa chỉ của tôi.”
Don Camillo lôi bản báo cáo tiếng Nga ra khỏi túi.
“Đây là báo cáo từ quê cô ấy. Đồng chí có thể nhờ ai đó dịch – sẽ thấy tôi nói đúng cả.”
Gibetti nhìn kỹ tờ giấy.
“Tên cô ấy và tên làng đúng rồi,” anh lặng lẽ xác nhận.
“Còn phần còn lại – cũng đúng như tôi đã kể,” Don Camillo tiếp. “Nếu không tin, khi về Ý đồng chí có thể kiểm chứng.”
Gibetti gấp tờ giấy lại, nhét vào túi. “Tôi không cần kiểm chứng gì cả. Tôi tin ông. Lần tới mà tôi lại mất đầu vì đàn bà, tôi chỉ cần lôi tờ này ra là khỏi cần thuốc chữa.” Anh cười buồn rồi nói tiếp: “Đồng chí biết hồ sơ Đảng của tôi mà. Tất cả những gì tôi làm – tốt có, xấu có – đều vì muốn sang được nước Nga, tìm lại cô ấy. Giờ thì… tôi phải sống sao đây?”
“Tiếp tục chiến đấu cho Lý tưởng.”
“Nhưng lý tưởng của tôi là Sonia, và giờ có người khác ‘nắm lý tưởng’ ấy rồi.”
Don Camillo nhún vai.
“Suy nghĩ cho kỹ, đồng chí. Tôi nói với anh với tư cách bạn bè – không phải Đảng viên. Với tư cách tổ trưởng, tôi hoàn toàn không hay biết gì về chuyện này.”
“Còn tôi,” Gibetti lẩm bẩm, “thì biết quá rõ… và đau lòng.”
***
Tối đó, cả nhóm cùng ăn tối – trừ Gibetti, nói là bị cảm. Đồng chí Oregov rất vui vì chương trình buổi chiều diễn ra suôn sẻ. Đồng chí Bacciga ngồi cạnh Don Camillo, thầm thì vào tai ông.
“Đồng chí, tôi đã chốt được vụ trao đổi rồi. Đổi hết tiền, mua được cái khăn choàng lông khác rồi.”
“Nhưng đồng chí định lách hải quan thế nào?” Don Camillo hỏi. “Không thể nói khăn choàng lông chồn là ‘đồ dùng cá nhân’ được đâu.”
“Tôi sẽ may nó vào cổ áo khoác ngoài. Nhiều áo khoác nam có lông trang trí mà. À mà này, báo chí phản động bên mình sai bét như thường lệ.”
“Tôi không nghi ngờ gì,” Don Camillo đáp. “Nhưng việc đó liên quan gì?”
“Ông nói tỷ giá chợ đen là hai mươi rúp đổi một đô. Tôi đổi được… hai mươi sáu!”
Vodka đang chuyền tay, không khí mỗi lúc một rôm rả.
“Đồng chí Tarocci,” Scamoggia nói, “rất tiếc đồng chí không đi cùng tụi tôi. Viếng lăng Lenin là trải nghiệm không thể nào quên.”
“Chuẩn luôn,” Curullu phụ họa từ bàn bên. “Thấy nơi an nghỉ cuối cùng của Stalin – thật xúc động vô cùng.”
Việc nhắc đến Stalin không hẳn là điều khôn ngoan trong một bữa tiệc chính trị, và không khí im lặng bất chợt bao trùm. Don Camillo nhanh trí lấp khoảng trống.
“Tất nhiên rồi,” ông nói một cách ngoại giao. “Tôi nhớ lần viếng lăng Napoleon ở Paris – cũng thấy ấn tượng. Mà Napoleon thì chỉ là chú lùn so với Lenin.”
Nhưng Curullu, nhờ vodka tiếp sức, không chịu bỏ chủ đề.
“Stalin – đó mới là vĩ nhân,” hắn nói u ám.
“Đồng chí nói phải,” Li Friddi gật gù. “Stalin là anh hùng kiệt xuất của Liên Xô. Chính Stalin đã thắng cuộc chiến.”
Đồng chí Curullu nốc thêm một ly vodka nữa.
“Sáng nay, trong hàng người chờ viếng lăng, có mấy du khách Mỹ. Mấy cô ăn mặc như sắp đi xem buổi chiếu sớm phim Marilyn Monroe. Tôi thấy phát chán!”
“Đúng quá rồi, đồng chí,” Li Friddi tán đồng. “Tôi cũng bực như đồng chí. Moscow này đâu phải Capri hay Monte Carlo.”
“Nếu Stalin còn sống, mấy đứa ngốc đó chẳng đời nào được bước chân vào đất nước này. Stalin khiến bọn tư bản phải khiếp vía run người.”
Peppone thì đang ra sức đánh lạc hướng sự chú ý của đồng chí Oregov, với sự hỗ trợ từ đồng chí Nadia Petrovna. Nhưng đến một lúc, tai Oregov bỗng dựng lên và ông đòi được phiên dịch lại mấy lời đang trao đổi ở đầu bàn kia. Peppone liếc về phía Don Camillo gửi tín hiệu S.O.S.
“Các đồng chí,” Don Camillo nghiêm trang lên tiếng với hai đồng chí ‘bất trị’, “không ai phủ nhận công lao của Stalin. Nhưng đây không phải lúc, cũng chẳng phải nơi để bàn về ông ấy.”
“Sự thật không chờ lúc thích hợp,” Curullu phản bác. “Ngay cả khi hôm nay Liên Xô lên tới mặt trăng, thì sự thật vẫn là: Đảng đã đánh mất cảm hứng cách mạng – điều mà 250 ngàn chiến sĩ đã ngã xuống để bảo vệ.”
“Chính sách phải thích ứng với hoàn cảnh hiện thời,” Don Camillo yếu ớt biện minh. “Cái đích mới là điều quan trọng, không phải phương tiện.”
“Nhưng sự thật là Stalin đạt được mọi thứ mà không cần rời khỏi Liên Xô một bước!” Curullu vẫn không nhượng bộ.
Don Camillo im lặng, để vodka tiếp quản. Từng chút một, các đồng chí – trừ Peppone – đều ngả nghiêng trong nỗi hoài niệm Stalin. Peppone ngồi cứng đờ, quai hàm nghiến chặt, chờ đợi quả bom nổ.
Đồng chí Oregov trao đổi gấp gáp với Nadia Petrovna, rồi đột ngột đứng bật dậy, đập tay lên bàn. Mắt ông sáng rực như lên cơn sốt, mặt trắng bệch như tờ giấy. Một khoảng lặng đóng băng căn phòng cho đến khi ông hét lớn, bằng tiếng Ý lơ lớ nhưng rõ ràng:
“Vạn tuế Stalin!”
Ông nâng ly, và mọi người nhất loạt đứng lên hô theo.
“Vạn tuế!”
Oregov nốc cạn ly, cả bàn tiệc cũng vậy. Rồi ông ném chiếc ly xuống sàn – họ cũng làm y hệt.
Nadia Petrovna tuyên bố ngay sau đó:
“Đồng chí Oregov xin gửi lời chúc ngủ ngon đến các đồng chí Ý.”
Cuộc tiệc vỡ tan trong im lặng. Don Camillo và Peppone là hai người cuối cùng rời khỏi phòng. Nadia Petrovna chặn họ lại ở cửa.
“Các đồng chí,” cô nói, “tôi mời hai người một ly cà phê nhé?”
Cả hai nhìn cô, ngạc nhiên.
“Tôi sẽ pha kiểu Ý,” cô mỉm cười. “Nhà tôi chỉ cách đây một đoạn.”
***
Phía sau những cung điện cổ kính và những tòa cao ốc kiểu Mỹ là khu lao động của thành phố. Nadia Petrovna sống trên tầng bốn của một căn nhà cũ, cầu thang nồng nặc mùi bắp cải luộc và dầu ăn. Căn hộ chỉ có một phòng, với hai ghế đi-văng, một bàn, bốn cái ghế gỗ, một tủ áo và một chiếc kệ đặt radio. Mành cửa tua rua, vài chụp đèn trang trí và tấm thảm trải sàn không giúp gì nhiều cho vẻ tồi tàn của nơi này.
“Đây là đồng chí tôi ở cùng,” cô giới thiệu cô gái vừa mở cửa. Cô gái trông lớn tuổi hơn, đậm người, dáng dấp quê mùa hơn Nadia, nhưng rõ ràng là cùng ‘một khuôn’.
“Cô ấy là phiên dịch tiếng Pháp, nhưng cũng biết kha khá tiếng Ý,” Nadia giải thích thêm.
Cà phê đang sôi sùng sục trên lò cồn nhỏ đặt giữa bàn.
“Tụi tôi pha tại phòng,” Nadia giải thích, “vì bếp chung nằm bên kia hành lang.” Mùi cà phê thơm ngát bất ngờ làm cả hai vị khách vô cùng hài lòng. Hai cô gái tỏ ra rất vui sướng vì được khen.
“Hy vọng các đồng chí đang có chuyến đi thú vị tại đất nước vĩ đại của chúng tôi,” Nadia lên tiếng sau màn tán thưởng.
Peppone đang trong tâm trạng phấn khích, bắt đầu thao thao kể lại những kỳ quan trong suốt hành trình. Nhưng cô bạn cùng phòng của Nadia ngắt lời:
“Mấy chuyện đó chúng tôi biết cả rồi. Nói cho chúng tôi nghe về nước Ý đi.”
“Các đồng chí,” Peppone nói, tay dang rộng như diễn viên kịch câm, “Ý là một đất nước nhỏ bé, đáng lẽ có thể rất đáng sống… nếu không bị tụi tư bản và giáo sĩ làm nhiễm độc.”
“Nhưng cũng có tự do chứ, phải không?” Nadia hỏi.
“Bề ngoài thì có vẻ tự do,” Peppone đáp. “Nhưng giáo sĩ thì kiểm soát kín đáo mọi thứ. Họ có tai mắt khắp nơi. Khi chúng tôi về nước, họ sẽ biết tường tận từng chi tiết chuyến đi.”
“Thật vậy sao?” cô bạn kia hỏi.
“Đồng chí nên để ông ấy kể thì hơn,” Peppone quay sang Don Camillo.
“Là sự thật,” Don Camillo xác nhận. “Tôi thề danh dự.”
“Khủng khiếp quá!” Nadia thốt lên. “Còn đời sống của công nhân bình thường thì sao? Chẳng hạn như đồng chí Scamoggia?”
“Scamoggia không phải công nhân bình thường,” Peppone giải thích. “Anh ấy là thợ máy lành nghề, có xưởng riêng, khách nườm nượp.”
“Thu nhập khoảng bao nhiêu?” cô bạn hỏi, tỏ ra vô tình.
“Nếu tính theo tỉ giá ba mươi lire đổi một rúp,” Peppone nhẩm nhanh, “thì tầm bảy trăm rúp một tháng.”
Hai cô gái trao đổi vài câu bằng tiếng Nga, rồi Nadia tiếp lời:
“Nhưng còn sức mua của đồng tiền thì sao? Một bộ vest hay một đôi giày nam giá bao nhiêu rúp?”
“Còn tùy chất lượng,” Don Camillo xen vào. “Vest thì dao động từ bảy trăm đến một ngàn bốn trăm rúp; giày thì khoảng bảy mươi đến ba trăm năm mươi.”
“Còn bộ vest đồng chí đang mặc thì sao?” cô bạn hỏi, tay sờ vào lớp vải sang trọng kiểu thượng nghị sĩ trên áo Peppone.
“Bốn mươi ngàn lire,” Peppone đáp.
“Khoảng một ngàn ba trăm năm mươi rúp,” Don Camillo tính nhanh.
“Nhưng quay lại chuyện Scamoggia,” Peppone tiếp, “tôi nhấn mạnh là trường hợp đặc biệt. Scamoggia…”
“Scamoggia! Lại Scamoggia!” cô bạn kia kêu lên. “Tôi suốt ngày nghe cái tên đó. Có phải hắn là người đã cư xử tệ hại ở kolkhos Tifiz? Tôi không hiểu tại sao một kẻ như vậy vẫn còn trong Đảng!”
“Hắn không đến nỗi nào đâu,” Peppone nói. “Đừng đánh giá con người chỉ qua vẻ ngoài. Scamoggia là một đồng chí thông minh và trung thành với Đảng.”
“Có lẽ cha mẹ anh ta không giác ngộ, không dạy dỗ đúng cách,” cô bạn cùng phòng nhận xét.
“Không, gia đình anh ta không có vấn đề gì cả. Muốn hiểu được Scamoggia thì phải hiểu đàn ông Rôma. Khi rời khỏi nhà, họ ra vẻ bất cần đời, nhưng hễ về đến nhà thì không dám hé răng vì sợ vợ.”
“Vậy Scamoggia sợ vợ à?” cô kia hỏi.
“Chưa đâu. Vì hắn chưa lấy vợ,” Peppone cười phá lên. “Nhưng một khi cưới rồi thì sẽ giống hết bọn tôi thôi.”
Nadia Petrovna quay lại tham gia cuộc trò chuyện với một câu hỏi về sản lượng cam quýt của Ý, và Peppone lập tức bắn ra một tràng số liệu thống kê dày đặc. Cô chăm chú lắng nghe và nhất định rót thêm cho họ mỗi người một tách cà phê nữa. Sau đó, cô ngỏ ý đưa hai người về khách sạn, nhưng họ từ chối, nói rằng tự đi được.
Trên đường về, Peppone buông một câu nhận xét:
“Hiếm có phụ nữ Ý nào đạt đến mức độ trưởng thành chính trị như đồng chí Nadia Petrovna và bạn cô ấy.”
“Anh thử tưởng tượng một cô gái Ý mà lại quan tâm đến công nghiệp nặng và sản lượng trái cây ở Liên Xô xem?” Don Camillo lạnh lùng nói, mặt tỉnh bơ.
“Không, tôi chịu,” Peppone đáp. “Con gái Ý chỉ chăm chăm vào thằng đang tán tỉnh mình. Cô ta sẽ lo kiểm tra xem anh chàng có vợ chưa, gia đình thế nào, lương bao nhiêu, tiếng tăm ra sao.”
Peppone bỗng đứng khựng lại, như thể có tia nghi ngờ vụt qua đầu.
“Ông định nói là…”
“Tôi chẳng ám chỉ gì cả,” Don Camillo cắt lời. “Một thượng nghị sĩ Cộng sản sang tận Moscow không thể nào là mối lái hôn nhân được. Ổng còn khối việc hệ trọng hơn việc tìm vợ cho mấy tay đồng chí độc thân.”
“Chuẩn khỏi chỉnh!” Peppone gầm lên, chẳng để ý chút nào đến giọng mỉa mai của Don Camillo. “Tôi chẳng nghĩ gì đến mấy cô gái đẹp, cũng chẳng quan tâm gì đến đàn bà có chồng, dù vợ tôi cứ khăng khăng bắt tôi mang về một cái khăn lông chồn y như con hàng xóm.”
Chủ đề đó rõ ràng là chỗ đau của Peppone, và nói ra được như trút được gánh nặng. Lúc ấy đã mười giờ tối, một cơn gió lạnh quét qua những con phố vắng. Moscow giờ đây trông như thủ đô của nỗi buồn Xô-viết.
G.G.
