CHÂN Y NGHIÊM: NHƯ MỘT DÒNG SÔNG (HỒI KÝ) – KỲ 7: Tình Yêu Và Tôn Giáo

Sư cô Tịnh Nguyện lúc còn là sa di, 1959

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

KỲ 7: Tình Yêu Và Tôn Giáo

Vào buổi sáng mùa Thu 11-11-1960 , một cụ già khoảng 70 tuổi, dáng người chất phác, nhỏ con, da ngăm đen vẻ quê mùa, đến chùa Phước Hải xin gặp sư cô Tịnh Nguyện. Sư cô còn rất trẻ, dáng nhỏ nhắn, xinh đẹp, có đôi mắt to đen láy, cái nhìn sâu thẳm hiện lộ vẻ tinh anh. Tôi với sư cô học cùng lớp trường Hàn Thuyên. Tôi thân với sư cô trong tình đạo vị. Tôi thường đến chùa và ở lại, có chuyện buồn vui gì cũng kể hết cho nhau nghe. Tôi muốn xuất gia, sống trọn cuộc đời trong tình thương của đức Phật. Mất mẹ rồi là mất cả bầu trời. Tôi chỉ còn có ba, nhưng ba lại dành cuộc đời còn lại cho người đàn bà khác. Tôi chỉ còn lại chị Nghĩa, chị đã thay mẹ nuôi nấng chúng tôi. Nhưng rồi chị cũng phải lập gia đình. Chúng tôi không thể bám vào chị mãi làm lỡ dở tuổi thanh xuân của chị.

Sư cô rót nước mời ông cụ ngồi, rồi hỏi:  Thưa cụ, cụ gặp chúng tôi có việc gì?

Ông cụ liếc nhìn căn phòng dựng bằng vách gỗ, mái lợp lá cọ, trên tường có treo ảnh đức Phật, sàn nhà lát xi măng, vẻ đơn sơ, thanh bần.

Nâng ly trà nóng tỏa hương, cụ nhìn thẳng vào đôi mắt đen láy của sư cô, nhẹ nhàng nói:  Con trai tôi là cậu Vũ Anh Phương, sáng nay phải lên Đà Lạt nhập học, cậu nhờ tôi đến gặp sư cô, xin cô kết hợp cho cô Thục Trinh và con trai tôi được kết hôn, hai người rất thương yêu nhau, nhưng vì tôn giáo, nên gặp trắc trở. Mong sư cô giúp cho hai trẻ được về với nhau, cậu Phương không thể sống nổi nếu không được kết hôn với cô Thục Trinh. Cậu ấy nói, cậu đã quen nhiều cô sinh viên, nhưng cậu ấy không tìm thấy cô nào khiến cậu ấy vừa ý. Vợ chồng chúng tôi đã già rồi, mong con trai tôi gặp người nết na rồi nên vợ chồng, có vài đứa cháu, chúng tôi có về với chúa cũng vui lòng.

Sư cô Tịnh Nguyện cho gọi tôi ra gặp ông cụ. Tôi lễ phép cúi chào cụ, rồi hỏi sư cô: Thưa sư cô gọi con ra có chuyện gì ạ?

Sư cô nhìn ông cụ rồi nhìn tôi, khẽ nói: Đây là cụ thân sinh ra anh Phương, sáng nay anh Phương đi Đà Lạt nhập học, nhờ ba anh đến chùa xin sư cô kết hợp cho Thục Trinh và anh Phương được kết hôn. Sư cô tu hành, không được phép can thiệp vào việc thế gian, nhất là việc hôn nhân. Hạnh phúc cuộc đời do Trinh hoàn toàn lựa chọn. Nhưng hạnh phúc không hẳn là tạo nên bởi lứa đôi, mà nó còn tùy thuộc vào những yếu tố tinh thần khác. Em suy nghĩ cho kỹ rồi trả lời cụ.

Tôi ngồi im lặng nhìn cụ, một ông già chất phác quê ở Phát Diệm, đó là nơi đạo Thiên Chúa phát triển rất mạnh, con chiên rất ngoan đạo, quy luật nhà thờ rất nghiêm khắc. Tôi từ nhỏ đã xa lạ với đạo Thiên Chúa rồi, nhưng tôi rất yêu Phương. Anh là một thanh niên tính tình chín chắn, dịu dàng, độ lượng và nhận thức nhân sinh quan sâu sắc. Tôi thiếu tình thương của mẹ và ba từ thuở thiếu thời. Tình yêu chân thành của anh đã sưởi ấm tâm hồn tôi.

 Nhưng anh lại yêu cầu tôi hy sinh cho anh, tôi đã tìm thấy mẹ tôi nơi đức Phật, tôi đã phát lời thệ nguyện với ngài, sống vị tha, thương yêu giúp đỡ các trẻ em côi cút, bất hạnh như tôi. Bây giờ, nếu tôi chọn Phương, tôi sẽ phản bội lời thề trước Tam Bảo.

Tôi nhìn cụ, mắt rưng rưng sắp khóc, nhẹ thưa: Thưa cụ, cháu chưa thể trả lời cụ lúc này. Cháu sẽ trả lời anh Phương sau. Cháu cảm ơn cụ đã bỏ thời giờ đến đây vì anh Phương và cháu.

Cụ nói với tôi, ánh mắt trìu mến: Bác hy vọng cháu sẽ về với Phương, cậu ấy tính tình rất tốt, có tinh thần trách nhiệm. Hạnh phúc, và tình yêu chân thật chỉ đến một lần, cháu hãy suy nghĩ cho kỹ.

Cụ đứng lên chào sư cô. Tôi tiễn cụ ra cổng chùa mà thấy lòng dạ ngổn ngang.

***

Tôi quen biết anh Phương trên trang tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong với lời đăng đứng đắn, chân thành: “Sinh viên khoa Triết, viện Đại học Đà Lạt, tính tình trầm lặng, muốn tìm chị gái trên 27 tuổi và em gái dưới 15 tuổi.” Thư gửi về tòa soạn chuyển giao.

Năm đó tôi mười tám tuổi, đang có chuyện buồn, đọc lời rao tìm chị và em gái, anh chàng này chắc đứng đắn. Tôi viết thư cho anh, xin làm bạn, vì tôi chưa đến tuổi làm chị mà cũng quá tuổi làm em. Thư gửi đi một tháng sau, tôi nhận được tin nhắn: Mời cô Thục Trinh lên tòa báo Văn Nghệ Tiền Phong nhận thư.

Cầm lá thư trong tay mà tôi thấy bồi hồi. Anh nói rằng trong 300 lá thư anh nhận được, anh chỉ chọn một mình tôi. Mà anh gửi về tòa soạn, thư đều bị thất lạc.

Anh viết: “Tìm em như thể tìm chim. Chim đang bể Bắc, anh tìm bể Đông.” Bây giờ anh tìm thấy em rồi, không được trốn anh nữa.

 Nét chữ anh rất đẹp, lời anh dịu dàng, có chiều sâu và chân thực. Thế là từ đó hàng tuần tôi viết thăm anh và anh viết thăm tôi. Mỗi trang thư anh đều ép bông hoa Pensee màu tím với dòng chữ: Gửi em đóa hoa Pensee màu tím nhớ thương.

Chúng tôi gửi hình để nhận diện nhau. Ba tháng sau, anh hẹn sẽ gặp tôi, anh nhớ tôi nhiều lắm. Anh hẹn sẽ gặp tôi ở nhà ga xe lửa Sài Gòn. Sáng hôm đó ngày thứ hai, tôi xin phép nghỉ học, mặc bộ áo dài trắng, đứng đợi anh trước cửa phòng bán vé nhà ga. Tôi thấy một chàng thanh niên dáng gầy, nét thanh tú, mặc chiếc áo sơ mi màu xanh da trời bạc màu, dắt chiếc xe đạp cũ tiến lại phía tôi, khẽ hỏi:

– Cô là Thục Trinh phải không?

– Dạ phải, em là Thục Trinh đây. Anh là Anh Phương, phải không?

– Phải, anh Phương đây. Anh mừng rỡ định nắm tay tôi, nhưng anh dừng lại.

Đôi mắt sâu thẳm với hàng mi dài, anh nhìn tôi thật lâu, như cuốn hút hồn tôi. Đứng trước anh, tôi thấy mình thật bé bỏng, sự dịu dàng và nghiêm túc của anh khiến tôi kính trọng và rất thương mến anh.

– Em viết thư hay lắm. Thư của em còn hay hơn bà văn sĩ nổi tiếng bên Pháp. Nếu sau này anh làm bộ trưởng Giáo Dục, anh sẽ cho học sinh giờ văn học thư của em – anh trìu mến nhìn tôi mỉm cười, nhẹ nói.

Anh dẫn tôi đi dạo quanh sân ga, rồi ra chợ Bến Thành. Anh kể chuyện về Đà Lạt, về viện Đại học anh đang theo học:

– Chung quanh sân trường là những hàng thông cao vút quanh năm bao phủ sương mù, những vườn hoa khoe đủ màu sắc, khóm hoa Pensee màu tím đong đưa theo gió nhẹ, một màu tím dịu dàng, có vẻ buồn man mác khiến anh thật nhớ đến em. Anh phải về để gặp em, để nhìn sâu vào đôi mắt em, để nhận diện ra con người thật của em có chân thành, có mơ mộng, có dịu dàng, có phảng phất bóng dáng cô gái Hà Nội, mang những ý tưởng vị tha, yêu quê hương, tổ tiên nguồn cội hay không. Những lá thư em viết cho anh đã nuôi dưỡng tâm hồn anh hướng thượng, mở rộng lòng vị tha, thương đồng bào nghèo khổ. Những dòng chữ của em như dòng suối ngọt ngào đưa anh vào giấc ngủ.

– Bây giờ, anh đã gặp em rồi, em dịu dàng như trang thư em viết cho anh. Trinh ơi, anh vô cùng thương quý em. Anh sẽ không để mất em đâu. Anh sẽ giữ em trọn cuộc đời và mãi mãi.

Hôm sau anh phải về Đà Lạt, tiếp tục việc học. Còn tôi, một cô thiếu nữ ngây thơ mồ côi mẹ, nhà thật nghèo. Tôi không dám mơ mộng cao xa.

Ngoài giờ đến lớp, tôi thường hay đến chùa Giác Minh, cơ sở Giáo hội Tăng già Bắc Việt tại miền Nam. Nơi đó, tôi đã gặp các bậc chân tu, có tư tưởng tiến bộ, muốn đem Phật giáo vào đời, giúp cho xã hội tiến bộ một cách thực tế.

 Tôi đã gặp sư cô Tịnh Nguyện, học lớp đệ nhị với tôi ở trường Hàn Thuyên. Sư cô dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt đẹp như trăng rằm, nụ cười cô thật tươi và đôi mắt đen láy, sâu thẳm. Chúng tôi rất thân với nhau, các sư cô hay giữ tôi ở lại chùa ăn cơm vì nhà tôi xa, ở mãi đường Ngô Tùng Châu, Gia Định, cạnh xóm Gà, Gò Vấp. Ngày Chủ Nhật tôi sinh hoạt Gia đình Phật tử ở chùa Giác Minh, các thầy đều quý mến tôi có lẽ vì cái dáng dấp tôi vừa mơ mộng, vừa đoan chính, hiền lành.

Tôi có chỉ mỗi chiếc áo dài màu tím mặc đi học và đi sinh hoạt. Hàng ngày tôi phải đi bộ từ đường Ngô Tùng Châu Gia Định tới trường Hàn Thuyên ở đường Cao Thắng . Còn Chủ Nhật sinh hoạt ở chùa Giác Minh đường Phan Thanh Giản. Thầy Tuệ Hải thấy tội nghiệp nên cho tôi tiền để mua chiếc xe đạp cũ. Thế là từ đó tôi có chiếc xe đạp cũ màu xanh làm bạn với tôi. Tôi rất mang ơn thầy Tuệ Hải và giữ gìn nó, thương yêu nó như chính bản thân tôi.

Mặc dù tôi mất mẹ sớm, gia đình tôi nghèo, nhưng tôi không lạc lõng cô đơn. Tôi sống vui vẻ, hòa hợp với mọi người, và được các anh chị huynh trưởng, các bạn, và các thầy trong chùa rất thương mến tôi. Khi có việc đi xa vào ngày lễ, các thầy thường cho phép tôi đi tháp tùng. Các sư cô đi chùa đều cho tôi đi chơi. Thế nên, ngôi chùa là mái ấm thân thiết của tôi. Thượng tọa Đức Nghiệp và thầy Quảng Thiệp dạy Anh văn miễn phí cho tôi. Thượng tọa Đức Nhuận, cũng là nhà văn và thi sĩ, hay đọc thơ thầy cho tôi nghe, và khi có bài viết về văn học hoặc Phật học mới, thầy thường chia sẻ với tôi, và hỏi tôi ý kiến. Mỗi năm vào dịp gần Tết, thầy mừng tuổi trước cho tôi. Tôi rất mang ơn thầy.

Tuy tôi sống cuộc sống của cô bé mồ côi, và thiếu may mắn trong học tập, nhưng tôi luôn vui vẻ với mọi người và giữ gìn phẩm hạnh để mẹ tôi vui lòng nơi chín suối. Tôi đến với chùa không hẳn vì tín ngưỡng, mà vì thương yêu đức Phật như chính mẹ tôi.

Tôi đã quỳ dưới chân đức Thế Tôn mà hứa nguyện rằng: Phật ơi, con hứa với Ngài, sau này con sẽ đi tu, con sẽ dâng hiến đời con cho thiện nguyện, sẽ cứu vớt những trẻ mồ côi, cho các cháu một mái ấm gia đình, một tình thương của người mẹ.

Lời khấn nguyện ấy khắc sâu vào tâm hồn, tôi lớn lên trong trong tình thương của đức Phật, của mái chùa.

 Tôi đến với anh Phương bằng tình thương thuần khiết. Tôi viết cho anh với tất cả sự chân thành của người em gái bé bỏng. Có lần ngồi dưới ánh trăng sáng đêm rằm, tôi đã rất nhớ anh, viết cho anh thật tha thiết:  Em viết tên anh trên sân gạch đỏ, em viết tên anh trong trái tim em, dòng máu anh hòa quyện trong dòng máu em để trọn đời chúng ta là ruột thịt.

Tuần nào anh cũng viết cho tôi, anh học triết nên thật sâu sắc. Anh thường ép bông hoa Pensee màu tím và gửi cho tôi 10 chữ T. Anh bảo tôi giảng nghĩa 10 chữ T.

Tôi đoán: Thành Thật – Tin Tưởng – Tình Thương – Tha Thiết – Trung Thành – Tình thương chúng tôi dành cho nhau đẹp như trăng sao. Tôi sống trong hạnh phúc ngọt ngào, như tình yêu mẹ dành cho tôi.

 Ngày 11 tháng 11 năm 1960, biến cố đảo chính xảy ra lật đổ chế độ gia đình ông Ngô Đình Diệm, cầu Bình Lợi bị bom gãy đổ. Trường học đóng cửa. Tôi thật nhớ anh. Tôi mong anh về bên tôi lúc này để tôi đỡ cô quạnh, trống vắng. Bỗng tiếng mô tô rộn rã trước cổng, nhìn ra, tôi thấy anh đang đứng đó nhìn tôi. Tôi chạy ra, muốn ôm chầm lấy anh, mừng rỡ. Niềm vui đột ngột khiến xúc cảm đến nghẹn ngào, tôi đứng yên lặng nhìn anh. Bốn mắt nhìn nhau, hai tâm hồn hòa quyện lấy nhau trong vô thức.

– Thục Trinh, mở cửa cho anh vào. Sao em đứng ngây ra vậy.

Chúng tôi ngồi bên nhau, anh ôm bờ vai tôi như sợ tôi biến mất, anh nói với tôi bằng giọng nói vừa nghiêm túc, chân thành: -Em biết không, anh rời Đà Lạt lúc ba giờ sáng, cầu Bình Lợi bị gãy nên anh phải khó khăn lắm mới về tới đây để gặp mặt em, để nói với em những điều chân thành, khẩn thiết của trái tim anh.

Anh nâng nhẹ cằm tôi lên, đôi mắt tràn đầy tình yêu thương anh nhìn thật sâu vào đôi mắt tôi khẽ hỏi:

– Trinh ơi, trên đời này ai yêu thương em nhất?

– Mẹ em!

Tôi trả lời một cách chân thành.

– Thế em có thương mẹ em không?

– Dạ có.

– Em có nghĩ rằng tình yêu thương anh dành cho em cũng sâu nặng như mẹ em không ?

– Dạ có.

– Thế em có yêu thương anh như mẹ em không?

Tôi nhìn anh thật sâu, khẽ gật đầu.

– Có khi nào mẹ đưa em đi chơi, dẫn em vào những nơi nguy hiểm như lửa cháy, hầm hố, rắn rết làm khổ em không?

– Không bao giờ anh ạ.

– Em có tin rằng anh cũng giống như mẹ em, không bao giờ làm em đau khổ không?

– Dạ, em tin.

– Em có biết mẹ luôn dang rộng vòng tay yêu thương, che chở cho em không?

– Dạ có.

– Em có nghĩ rằng anh sẽ mãi mãi bên em, thay mẹ để yêu thương và che chở cho em không?

– Em tin anh sẽ thay mẹ che chở cho em.

– Em có dám hy sinh cho mẹ em không?

– Dạ có.

– Vậy em có dám hy sinh vì anh không?

Tôi như một cô học trò bé bỏng ngồi trước mặt anh. Anh vừa nghiêm nghị, vừa dịu dàng, đôi mắt anh tỏa sáng tình yêu thương, giọng anh nhẹ, ngọt ngào, anh đưa tôi vào cơn mê. Tôi như đang bị nhấn chìm vào ly rượu đào mật ngọt. Nhưng khi anh hỏi tôi có dám hy sinh cho anh không, tôi chợt tỉnh, hỏi anh:

– Mà em phải hy sinh cho anh điều gì, xin anh nói rõ.

– Chiều nay, anh mời em đi xem phim này, em sẽ rõ là hy sinh cho anh điều gì.

Sau khi xin phép chị Nghĩa, anh đưa tôi ra phố, đi dạo tới rạp chiếu bóng Sài Gòn. Lần đầu đi xem phim với một người con trai, tôi cảm thấy ngại ngần. Anh cầm tay tôi đi tìm hàng ghế thứ nhất có ghi số 10 và 11. Rạp có máy lạnh, tôi cảm thấy dễ chịu và thật vui khi ngồi bên anh. Sau phần quảng cáo, màn ảnh rộng bắt đầu vào phim chính với tựa đề: “Tình yêu và Thiên Chúa.” Tôi cảm thấy ngỡ ngàng khi trên màn hình toàn nói về Chúa Giêsu, về cảnh Chúa bị đóng đinh trên cây thập giá. Tôi không có hứng thú nên đòi về.

Anh đưa tôi đi dạo phố, vào tiệm kem, vào hiệu sách, anh mua tặng tôi quyển sách Hạnh phúc gia đình.

Tôi đi chầm chậm bên anh trên con đường Tú Xương. Nắng chiều vàng nhạt lấp lánh trên vòm cây, những giọt nắng rơi rớt trên vỉa hè, soi từng bước chân đi của chúng tôi. Mùi hoa Ngọc Lan từ những ngôi biệt thự bên đường tỏa hương thơm ngát.

Một niềm hạnh phúc dâng tràn, tôi ngả đầu vào vai anh thầm nói: Em yêu anh vô cùng, anh có biết không

Bỗng nhiên anh dừng lại, ôm chặt bờ vai tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi, anh nói giọng xúc động:

– Trinh ơi, anh yêu em. Anh yêu em vô cùng. Đây là lần đầu tiên trong đời anh nói: Anh yêu em. Anh chưa nói với người con gái nào câu nói thiêng liêng ấy. Bởi vì anh là một tu sĩ, sắp thụ phong linh mục, anh phải ra đời để chăm sóc mẹ anh bị bệnh nặng. Khi đọc thư em gửi cho anh, anh đã cảm nhận ra em sẽ là người duy nhất anh yêu thương, em sẽ là người vợ hiền của anh, anh nguyện trọn đời chung thủy yêu em và che chở cho em. Anh không nói thật với em anh đạo Chúa, vì anh sợ sẽ mất em. Nhưng đến bây giờ, sắp ra trường, anh phải lấy vợ để mẹ anh vui lòng. Người anh sắp cưới phải là em. Nhưng thầy mẹ anh không chấp nhận người con dâu ngoại đạo. Mẹ anh chỉ có hai người con trai, anh Chương đậu tiến sĩ Thần học là linh mục, hiện đang ở tòa thánh La Mã. Quê anh ngoài Bắc, ở Phát Diệm, gia đình anh là đạo gốc từ bao đời rồi, nên anh xin em hy sinh vì anh, theo cùng đạo Chúa để anh được cưới em làm vợ. Chúng ta sẽ thành vợ chồng, sẽ yêu nhau trọn đời, cùng nhau nhìn về một hướng sẽ có những đứa con gái xinh xắn hiền thục như em, những đứa con trai học giỏi và đạo đức như anh. Anh thành khẩn xin em đồng ý làm vợ anh, em nhận lời cầu hôn của anh, Thục Trinh!

Anh ôm chặt tôi, như sợ tôi vuột khỏi cuộc đời anh.

Tôi bàng hoàng, bị lôi cuốn vào cơn mê. Tôi yêu anh, yêu anh vô cùng. Để làm vợ anh, tôi phải theo đạo Chúa, hình ảnh đức Phật và mẹ tôi chợt hiện về, khiến tôi giật mình tỉnh thức. Tôi vuột khỏi tay anh, chạy về hướng chùa Phước Hải.

Tôi thuật hết mọi chuyện cho sư cô Tịnh Nguyện nghe. Cô im lặng, lấy cơm cho tôi ăn rồi bảo tối nay tôi ngủ lại chùa, không về nhà nữa.

Chiều hôm đó, anh đến chùa Phước Hải tìm tôi, các sư cô ngăn không cho tôi ra, sai một người ra nói với anh: Không có cô Thuần ở đây. Cửa chùa không mở.

Nhìn anh buồn bã ra về mà lòng tôi tan nát. Nước mắt tôi ràn rụa, tôi thấy thương anh và cả thương tôi. Tôi tự hỏi: Tại sao tôi làm khổ nhau thế này!

Rồi hôm sau, ông cụ thân sinh anh đến chùa gặp sư cô Tịnh Nguyện xin cô kết hợp cho chúng tôi. Đó là một ngày định mệnh, thay hẳn cuộc đời tôi.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search