KỲ 11
MƯỜI NĂM HẠNH PHÚC
Tôi vâng lời thầy, trở về tiếp tục cuộc sống với Bang.
Bang dạy học lớp đệ nhị cấp , môn Toán và môn Triết lớp 12 bây giờ tại các trường tư thục có uy tín ở Sài Gòn. Bang đẹp trai, dáng người cao ráo, tính tình vui vẻ, rộng rãi, nói năng điềm tĩnh, phong độ, trầm ấm nên được các học trò quý mến – cả nam sinh, lẫn nữ sinh. Các nam sinh coi anh là thần tượng, trong khi các nữ sinh xem anh là bóng hình người đàn ông lý tưởng của đời mình, nhất là các cô nữ sinh con nhà giàu. Có một nam sinh kể rằng, chỉ cần thầy Bang xuất hiện, cả trường sẽ chạy tới, vây quanh xin gặp được thầy. Cả tôi và Bang đều không đeo nhẫn cưới, nên họ nhầm tưởng Bang chưa có vợ.
Có một lần, các cô nữ sinh rủ nhau đến nhà thăm thầy Bang, thấy tôi mặc quần áo cũ đang ngồi tiếp ông Hải, bạn của Bang. Các cô chào thầy Hải rồi cất tiếng hỏi: Thưa thầy, thầy Bang có nhà không ạ. Hôm nay thầy Bang hẹn tụi em đến chơi mà thầy lại đi vắng.
Cô gái xinh đẹp có vẻ giận hờn, còn cô khác nhìn tôi soi mói hỏi: Cô là thế nào với thầy Bang, cô chăm sóc cháu thầy khéo quá. Em nào cũng trắng trẻo khôi ngô.
Tôi vui vẻ trả lời: Tôi là người giúp việc nhà thầy Bang. Hôm nay thầy đi vắng, mời các cô hôm khác đến thăm thầy.
Các cô nữ sinh vẻ không vui, chào thầy Hải rồi ra về.
Các cô vừa ra khỏi cửa, thầy Hải nói với tôi: Sao chị lại dễ dãi với với mấy đứa này vậy? Nếu tôi là chị, tôi đã lấy chổi đập tụi nó rồi.
Tôi chỉ mỉm cười nhân hậu, không trả lời.
Cuộc sống của gia đình chúng tôi bình an, đơn giản trong không khí thanh bình của thành phố Sài Gòn, mặc dù hằng đêm tôi vẫn nghe vẳng từ ngoại ô, tiếng súng nổ lác đác vọng giữa màn đêm.
Bang là giáo sư giỏi, được học sinh mến mộ, nên số giờ dạy tăng lên. Tiền lương hàng tháng Bang đều giao cho tôi quản lý. Nhưng Bang giao thiệp rộng, phóng khoáng nên thường rút ra chi phí. Tôi thấy bất tiện nên chỉ giữ đủ số tiền chợ hàng tháng, còn giao lại hết cho Bang, yêu cầu anh gửi ngân hàng, để dành mua nhà. Hiện tại chúng tôi vẫn ở nhà thuê chung cư Ấn Quang.
Tôi là người phụ nữ hướng nội, tôn trọng giá trị đạo đức của Phật và tổ tiên. Bây giờ làm vợ Bang, một con người ghen tuông thái quá, tước hết mọi tình cảm trong tâm hồn tôi. Bang chỉ muốn tôi hoàn toàn thuộc về anh, cả trong tình cảm và hành xử. Tôi hàng ngày phải chăm sóc sáu đứa con, tuổi xấp xỉ bằng nhau. Các cháu khôi ngô, thông minh, ngoan ngoãn, đó là niềm hạnh phúc của chúng tôi. Bang đi dạy học suốt ngày, trưa và chiều đều về nhà dùng cơm. Tôi tôn trọng tự do của Bang nên chưa bao giờ tôi vặn hỏi sinh hoạt hàng ngày của anh, dù có đôi lần anh về trễ, say rượu và vai áo dính màu son đỏ.
Về tiền bạc, tôi không hỏi tháng này anh lĩnh bao nhiêu, đòi xem thẻ ngân hàng đứng tên Bang. Tôi cũng không đòi hỏi anh phải mua sắm quần áo, nữ trang cho tôi hoặc vật dụng trong nhà. Tôi để anh hoàn toàn quyết định, tôi chỉ nhận đủ số tiền chợ hàng tháng đã quy định. Thỉnh thoảng anh chở tôi đi mua sắm đồ dùng cần thiết trong nhà như tủ lạnh, tivi, bàn ghế…, nhưng chưa bao giờ anh hỏi tôi có cần mua nữ trang, son phấn và quần áo không, dù anh biết, ngoài số tiền chợ hàng tháng tôi không có khoản tiền nào khác cho riêng tôi. Tôi có tính tự trọng rất cao, tôi không hề xin tiền dù người đó là chồng tôi.
Thỉnh thoảng anh có đưa cả nhà đi nhà hàng hoặc đi thăm Sở Thú. Các cháu vui lắm, chạy nhảy đùa vui bên bố mẹ. Còn tôi, tôi vẫn mặc chiếc áo lụa cũ bạc màu, lặng lẽ đi bên anh và các con. Bỗng nhiên tôi mỉm cười khi nghĩ ngày xưa chị Cao Ngọc Phượng vẫn đến nhà tôi ở Ngô Tùng Châu, đón tôi đến sinh hoạt ở Làng Tình Thương bên cầu Kênh Thị Nghè.
Nơi đó có thầy, có chị Nhất Chi Mai, chị Cao ngọc Phượng, chị Phùng Thăng, chị Cao Ngọc Thanh, chị Mai Tuyết An… có các anh sinh viên như anh Trâm, anh Phúc và rất nhiều các anh chị khác. Chúng tôi chia ra từng nhóm đi vào Làng chăm sóc sức khỏe cho từng gia đình, chỉ bảo họ cách giữ gìn vệ sinh, cách sống sạch sẽ…
Làng có dựng mấy căn nhà lá mở lớp học Tình Thương. Tôi được đề nghị dạy một lớp mẫu giáo. Tôi dạy các cháu đánh vần, tập viết. Ngoài ra, tôi còn dạy các cháu hát những bài hát ngắn sinh hoạt, vui chơi. Tôi cho cháu bánh kẹo, các cháu vui lắm.
Tôi thương bầy trẻ nhỏ ở làng Cầu Kênh, gia đình rất nghèo, bố mẹ các cháu phải lao động vất vả mới có đủ chén cơm hàng ngày, đâu còn thì giờ chăm sóc các cháu như tôi chăm sóc bầy con tôi bây giờ. Các con tôi được nuôi nấng đầy đủ, dạy dỗ trong tình thương của bố mẹ. Tôi đang thả hồn viễn du về quá khứ, bỗng một cái đập mạnh vào vai, tiếng nói Bang gay gắt:
– Em đang nghĩ đến ai mà mơ mộng, cười vui thế, nói mau.
Bang định giơ đánh tôi, nhưng nhìn thấy hai cháu lớn đang chăm chú nhìn bố, Bang dừng tay. Cuộc đi chơi mất vui. Ngồi vào bàn ăn, nhìn những món ăn ngon mà lòng tôi chua chát.
Cuộc sống cứ như vậy bình thản trôi qua. Hàng xóm nhìn gia đình chúng tôi mà khen chồng tôi là một người đàn ông lý tưởng, tôi là người vợ tốt số, có người chồng đẹp trai, phong độ, gương mẫu, kiếm được nhiều tiền nuôi vợ con đầy đủ. Họ chưa bao giờ nghe thấy chúng tôi to tiếng, giận hờn nhau. Các con tôi thì ngoan ngoãn, mạnh khỏe.
Bang bằng tuổi tôi nên bề ngoài anh trẻ hơn tôi, năng động và sung sức. Còn tôi sống nội tâm, nhẹ nhàng, trầm lắng. Tôi luôn ngọt ngào với anh và các con. Tôi dạy con tôi bằng tình thương, nhưng nghiêm khắc. Tôi không nuông chiều con. Tôi tập cho chúng tính tự lập và biết nhận lỗi khi làm sai, tính chia sẻ đồng đều khi được bố mẹ cho quà bánh, biết thương những trẻ em nghèo khó, giúp đỡ những cụ già và những người tàn tật. Gia đình tôi ấm êm hạnh phúc.
Có một lần, với vẻ nửa thật nửa đùa, như là để thử tôi, Bang kể cho tôi nghe về một người phụ nữ, và muốn tôi chấp nhận cho anh dan díu với cô ta.
Tôi phẫn uất nói: Được, anh có quyền muốn làm gì thì làm. Nhưng ngay sau đó, chúng ta sẽ dứt khoát đường ai nấy đi. Tôi không cần bất cứ trợ cấp nào của anh. Tôi sẽ dẫn các con đi thật xa. Mẹ con tôi sẽ tự lo liệu cuộc sống. Nếu đồng ý như vậy thì làm ngay, còn nếu không thì đừng bao giờ nhắc đến chuyện này nữa. Tôi không ghen tuông như đàn bà khác. Anh có thể trăng gió với bất kỳ người nào, nhưng phải xa khuất mắt tôi, nếu anh để tôi nhìn thấy, tôi sẽ bỏ anh ngay. Tôi sống với anh vì tình yêu cao thượng, vì đàn con của chúng ta. Tôi không cần người đàn ông nhớp nhúa làm chồng. Tôi hiền nhưng tôi không nhu nhược. Tôi nhường nhịn anh vì tôi theo tấm gương đức hạnh của mẹ tôi, vì tôi vâng lời thầy, nếu anh còn thương yêu tôi và các con. Khi anh thay lòng đổi dạ, thì đường ai nấy đi. Tôi không ngu đần mà phục tùng anh nữa.
Tôi nói lời đanh thép rồi bỏ ra ngoài.
Từ hôm đó, chúng tôi không nói chuyện với nhau. Bang vẫn về nhà dùng cơm bữa trưa và tối bình thường. Không khí lạnh lẽo trong gia đình khiến các con tôi ngơ ngác, chúng không hiểu chuyện gì đã xảy ra.
Chủ nhật Bang đề nghị cả gia đình đi chơi và dùng bữa trưa ở nhà hàng. Tôi không nỡ để các con buồn, hơn nữa thấy Bang không nhắc đến chuyện không vui, không cằn nhằn, có ý muốn làm lành. Tôi tự biết điều hòa cuộc sống, đàn căng thì đứt dây, tôi không muốn các con khổ, nên đã vui vẻ chấp nhận ý kiến của Bang, chúng tôi đi chơi thật hạnh phúc.
Thấm thoắt mười năm. Tôi và Bang đã vun đắp cuộc sống trong tình yêu. Tình yêu Bang dành cho tôi cuồng nhiệt, bốc lửa, luôn ghen tuông, chiếm hữu. Còn tôi, tôi ảnh hưởng mẹ, một người đàn bà hiền lành, đức hạnh, chiều chồng, thương con. Cả cuộc đời mẹ luôn chịu thiệt thòi, hy sinh cho chồng, con, không một lời than thở. Tuổi thơ của Bang và tôi đều mất mẹ sớm, chúng tôi đều không có bầu trời tình thương của hiền mẫu. Nhưng tôi may mắn hơn Bang, tôi được sống với mẹ đến năm 14 tuổi, được đón nhận hương vị của chuối ba hương, của đường mía lau, được hiểu về tấm lòng mẹ rộng như biển cả, được chia sẻ với mẹ niềm đau và hạnh phúc. Tôi đến chùa, gặp Phật, tôi đã tìm thấy trên gương mặt ngài nét bình an, tình thương như biển rộng của mẹ tôi. Tôi vui sống trong tình yêu thương của ngài. Ngài luôn hiện diện trong tôi từng bước đi khiến tôi không vấp ngã, không lạc lối.
BÃI BỂ NƯƠNG DÂU
Nhìn lại quá khứ và lịch sử quê hương, tôi thấy cuộc đời của những người sinh ra trong thế hệ chúng tôi đã trải qua đầy bất trắc, khủng hoảng, tang tóc và đau thương. Chúng tôi đã chứng kiến bao nhiêu là biến cố lớn xảy ra trong suốt thời gian dài. Những biến động đầy nghiệt ngã đã này làm thay đổi vận mệnh của đất nước, kéo lê theo số phận của hàng chục triệu người Việt Nam khắp mọi miền đất nước, từ già đến trẻ .
Năm 1954 – Đất nước Việt Nam bị chia đôi. Miền Nam may mắn thuộc chính thể Tự Do.
Dưới chế độ gia đình trị chặt chẽ của tổng thống Ngô Đình Diệm, miền Nam được sống trong thanh bình. Hoàn cảnh kinh tế tuy khó khăn nhưng nhà nhà được sống bình yên. Trẻ em được đi học trường công miễn phí, người bệnh được nhà thương chăm sóc miễn phí. Nền giáo dục được dạy dỗ trong tinh thần Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng.
Năm 1963 – Cái năm tang thương, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết chết. Lúc đó tôi 23 tuổi, bận rộn lo cuộc sống, tôi không tham gia vào bất kỳ phong trào nào lúc bấy giờ.
Mặc dầu phong trào tranh đấu Phật giáo lên đỉnh điểm thắng cuộc, mọi người hồ hởi vui mừng, trước cái tin anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại. Nhưng trong lòng tôi, một vầng mây đen ùa tới, một nỗi buồn thương, nuối tiếc. Tôi không có cảm tình mến mộ gì với anh em ông Diệm và em dâu của ông, bà Nhu, nhưng sự ra đi của ông, tôi thấy quê hương mình rồi đây sẽ lâm vào chiến tranh và mất nước. Tôi chỉ buồn, mà không biết nói cùng ai. Chung quanh tôi mọi người đều vui mừng, hớn hở.
Các vị thầy học cao, chức lớn, tôi rất kính trọng. Các thầy luôn mượn giáo lý của đức Thế Tôn giảng những bài pháp thoại rất hay. Nào Từ, Bi, Hỷ, Xả, nào diệt tam độc Tham, Sân, Si, biết dừng lại, thực hiện hạnh biết đủ. Nhưng sau bao tháng ngày tranh đấu đòi tự do tín ngưỡng, đòi công bằng đối xử với Phật giáo, Tăng ni trẻ và Phật tử nhiệt tâm đã hy sinh nhiều nhân lực, trí lực.
Hôm nay, các ngài đã thắng lợi rồi, đã thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi quyền lợi, sao các ngài không dừng lại, chấn chỉnh nội bộ Giáo hội, Tăng ni.
Các ngài quay ra đấu đá nhau, giành giật quyền lợi thiệt hơn, chia rẽ môn phái, đòi hỏi địa vị, vai vế trong chính quyền non trẻ, khiến cho thế sự rối ren. Và, đau đớn hơn cả, Ngài T- Q đã lợi dụng lòng tin mù quáng của Phật tử, kêu gọi họ mang hết bàn thờ Phật xuống đường để tạo áp lực với quân đội, trong khi Cộng Sản đang lăm le chiếm miền Nam, biến nơi đây thành ngục tù tăm tối.
Ngày 30 tháng tháng tư 1975 đã xảy ra. Cơn cuồng phong đã đổ ập lên đầu thành phố Sài Gòn. Thành phố bị bùng nổ trong cơn khủng hoảng. Cả chục ngàn người Saigon cuống cuồng chạy ra bến sông Bạch Đằng, mong tìm Hạm đội Hải Quân để tẩu thoát, có hàng trăm người chạy ra sân bay mong được cao chạy xa bay. Họ bỏ rơi tiền, vàng bạc, chỉ mong thoát thân, đến bến bờ tự do.
Trong khi đó, Đoàn giải phóng quân tiến vào Sài Gòn, rợp bóng cờ, hò hát vang trời, mừng ngày chiến thắng.
Bầu trời Sài Gòn âm u, nửa mưa, nửa nắng. Dân Sài Gòn đang trong cơn xoáy, nửa khóc, nửa cười. Không biết tôi nên khóc hay cười. Thôi thì cứ mặc cho thế sự xoay vần. Mình cứ chấp nhận hoàn cảnh như nhiên.
Dòng sông Sài Gòn vẫn bình thản trôi, khóm lục bình xanh điểm dăm cánh hoa màu tím lấp lánh dưới ánh nắng vàng úa trải khắp dòng sông. Bang đưa mẹ con chúng tôi đi dạo chơi trên bến Bạch Đằng, các cháu chạy nhảy, hân hoan như chim sổ lồng. Bang và tôi ngồi trên ghế đá nhìn các con chơi đùa mà thấy vui vui. Các con là nguồn huyết mạch của chúng tôi. Tương lai, hạnh phúc các con tùy thuộc vào sự nuôi dưỡng và dạy dỗ của chúng tôi. Cha mẹ là cội nguồn, là gốc rễ nuôi dưỡng thân cây, nếu gốc rễ không vững chắc, thì thân cây sẽ bị bão tố xô gãy đổ.
Sài Gòn đang trong cơn bát nháo, điên đảo, và tang thương. Tiếng loa thông báo kêu gọi các quân nhân, cán chính ra trình diện học tập, hòa trong tiếng nhạc giải phóng vang vang khắp phố phường. Các ngã tư đường phố, những câu mỹ từ rẻ tiền được lấy từ kho văn chương ra, e thẹn như cô gái làng chơi, khoác màu vàng óng ả nằm phơi trên những tấm băng rôn màu đỏ máu. Ôi, Sài Gòn mỹ lệ em ở đâu. Sài Gòn đã từng đẹp lắm, Sài Gòn ơi!
Bang và tôi không phải trình diện học tập, vì chúng tôi dạy trường tư thục, không thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Bang làm Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề Thủ Đức, thuộc Giáo hội Việt Nam Thống nhất.
Chính thể mới tiến hành xóa bỏ các trường tư, tịch thu và thành lập trường công. Bang được đưa về trường Hùng Vương quận 5, còn tôi về trường Lữ Gia, quận 11.
Bang được xếp dạy Văn cấp 3, còn tôi dạy Anh văn cấp 2. Chúng tôi được gọi đi học các lớp chính trị một tháng. Chúng tôi phải khai bản lý lịch từ ba đời, rất nhiều trang giấy, khai đi khai lại nhiều lần, nếu không giữ lại bản giấy nháp, những lần sau khó lòng mà nhớ nổi.
Sau thời gian học chính trị, chúng tôi về nhận nhiệm sở mới. Tôi dạy tiếng Anh, sách English for Today, nên ít chạm đến vấn đề tư tưởng mới. Bang dạy Văn lớp 12, chưa quen với tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng Hồ Chí Minh, bài học đầy tính cách tuyên truyền, sai lịch sử, Bang xin nghỉ, trả lại toàn bộ sách giáo khoa cho Phòng Giáo dục.
Ngày 6 tháng 6-1975, ngân hàng đóng cửa.
Ngày 22 tháng 9 năm 1975, tiền Việt Nam Cộng Hòa mệnh giá 50 đồng bị cấm lưu hành, phải đổi sang tiền mới.
Tin này được loan báo trên đài phát thanh lúc 4 giờ sáng ngày 21 tháng 9 quy định người dân phải về nhà trước 11 giờ đêm để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ sáng ngày 22 tháng 9, loan tin về quy định đổi tiền, chỉ có 12 giờ đồng hồ để thi hành.
Từ Quảng Nam Đà Nẵng trở vào, hối suất tiền 500 đồng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tương đương với 1 đồng Cộng hòa miền nam Việt Nam (CHMNVN).
Từ Thừa Thiên Huế, phía bắc đèo Hải Vân trở ra thì hối suất là một ngàn đồng VNCH bằng 3 đồng CHMNVN. Mỗi gia đình bị hạn chế đổi có một trăm ngàn đồng VNCH thành 200 đồng CHMNVN.
Thế là, từ một trăm ngàn đồng, qua tay chính phủ cộng sản chỉ còn lại 200 đồng. Số tiền Bang gửi ngân hàng, để dành suốt 5 năm để dành mua nhà, bây giờ bị cướp trắng. Trước giải phóng, Bang nói sẽ mua căn biệt thự ở Gia Định vì nhà mình đông con. Ước mơ chưa kịp thực hiện, hôm nay đã thành mây khói.
Lương giáo viên mỗi tháng 45 ngàn đồng. Mọi người được mua gạo và thực phẩm bằng tem phiếu, tùy nhân số trong gia đình. Gạo không có nên phải thay thế bằng bo bo, khoai mì hoặc khoai lang. Thịt, cá một tuần mua một lần, số lượng hạn chế, toàn rau già cá ươn. Các con tôi còn nhỏ nên số lương thực mua cũng đủ cho hàng tháng.
Bang thất nghiệp, tình trạng túng thiếu trong gia đình khiến anh trở nên bi quẫn. Người bạn thân chỉ cho anh cách làm thuốc lá vấn, bán bỏ mối cho cô học trò ở cư xá Thanh Đa. Ngoài giờ dạy học, tôi phụ giúp anh làm thuốc lá. Nhưng thuốc làm ra mà không thấy tiền, ti vi, tủ lạnh, quạt máy… trong nhà lần lượt ra chợ trời. Tôi không hề phiền trách, chỉ nói anh dẹp đi, công việc này không thích hợp với anh.
Chế độ này không cho người ta con đường sống Nên anh liên hệ với mấy người bạn cũ, âm thầm tìm cách đi vượt biên, anh dẫn theo con trai lớn, cháu 12 tuổi. Tôi đồng ý. Một tuần sau, anh bị bắt, con trai tôi được một người đàn bà mang về.
Ngoài giờ dạy học, tôi phải sang Chợ Lớn mua thuốc lá Saigon giá sỉ, về bỏ mối cho các cửa hàng bán lẻ. Số tiền lời cũng đủ chi phí hàng ngày nuôi các con tôi. Bây giờ Bang bị bắt, hàng tuần tôi phải đi thăm nuôi anh ở trại giam Tây Ninh. Tôi làm đơn lên Ban quản trại, trình bày hoàn cảnh khó khăn của tôi vừa phải đi dạy học, vừa phải buôn bán thêm để nuôi các con. Bây giờ hàng tuần, tôi phải đi thăm nuôi chồng, sức tôi kiệt quệ, không thể đứng lớp dạy học trò tốt được, tôi mong Ban quản trại giúp cho Bang được về, trông nom các con, để tôi làm tốt công tác dạy học. Bang được thả về. Nhưng 6 tháng sau Bang lại vượt biên, lần này anh bị bắt, giam vào trại Duyên Hải. Thế là thân cò, tôi lại phải đi Duyên Hải thăm Bang.
Cuộc sống khó khăn cứ chất chồng trên đôi vai gầy yếu của tôi, nhưng tôi chưa hề than thở. Tôi vui vẻ sống như chưa có chuyện gì xảy ra. Các con tôi còn nhỏ, tôi phải gửi mấy cháu vào chùa Phước Hải để nhờ nhà chùa trông nom hộ, mỗi chiều tôi vẫn đến thăm các con, mua thêm thức ăn cho các cháu, sợ nhà chùa ăn chay, các cháu không đủ dinh dưỡng. Ni sư giận, nên trả các con tôi về nhà. Tôi thuê một bé gái giúp việc chăm sóc các con tôi.
Thời gian sau, Bang được thả về. Tính tình anh thay đổi. Những lần cố gắng vượt biên thất bại, rồi sau đó bị cộng sản giam cầm một thời gian dài trong tù đã làm biến đổi anh từ một người đàn ông vui vẻ, hào hoa và lịch thiệp trở thành một người buồn rầu và tàn nhẫn. Anh đã bị bệnh trầm cảm.
Anh trở nên trầm lặng, đôi lúc nóng nảy, la mắng các con. Nhiều đêm khuya, anh kéo tôi dậy, tra hỏi:
– Trong thời gian anh bị bắt, em ở nhà gặp gỡ những ai, đi chơi với ai?
– Em bận kiếm tiền nuôi các con và thăm nuôi anh, còn thời gian đâu mà đi thăm ai?
– Anh không tin, em nói dối. Anh vô dụng, không nuôi được vợ con, để em được tự do buôn bán rồi hẹn hò với người yêu cũ. Anh sẽ tự hành hạ cho đến chết. Em hả dạ, tự do đi lại với người ấy.
Nói xong, Bang đập đầu vào tường. Tôi ngồi lặng im, nhìn anh tự hành hạ mình mà lòng đau xót. Trong cơn đau khổ, hoảng sợ và tự trách tột cùng, Bang lảo đảo ra hành lang chung cư, nằm vắt vẻo trên bờ thành, miệng nói lời cay đắng: Tôi chết đi để em vui lòng, hả dạ mà đi hẹn hò với người tình cũ.
Tôi bình tĩnh đến ôm ngang người Bang, ngọt ngào nói: Anh đừng có dại dột mà chết kiểu này, chỉ làm khổ vợ con, làm trò cười cho thiên hạ. Không ai thương tiếc anh đâu, họ sẽ phỉ báng anh là thứ hèn nhát, trốn trách nhiệm. Chung quanh chúng ta, biết bao nhiêu người đau khổ. Cả vạn sĩ quan bị đi cải tạo xa xôi, tận miền Bắc giá rét, áo không có mặc, cơm chẳng có ăn, phải vào trong rừng sâu chặt cây, khuân vác, cực khổ trăm bề, tối về không được ngủ yên giấc, bị gọi lên tra vấn đủ chuyện. Còn nhân viên, công chức ở thành phố, thất nghiệp, họ phải đạp xe ba gác, xích lô, khuân vác cực khổ, làm những nghề lao nhọc để kiếm tiền nuôi vợ con. Anh nhìn mấy người bạn, có ai rảnh rang như anh không, có ai ghen tuông, tự đày ải mình như anh không?
– Anh phải tin em, vợ chồng chung sức làm, kiếm tiền nuôi các con. Buổi sáng em đi dạy học, chiều phải đạp xe, bỏ mối hàng đến khuya, đêm về lại còn bị anh hành hạ, em kiệt sức rồi. Em nhiều bệnh lắm, không biết có sống nổi để tiếp tục nuôi anh và các con nữa không. Anh phải mạnh mẽ lên, cố vượt qua thời buổi khó khăn này.
Bang nhìn tôi, vẻ hối hận, anh cầm bàn tay gầy của tôi, năn nỉ:
– Anh xin em dẫn anh đến nhà người bạn cũ của em, hỏi anh ta có phải thời gian anh bị bắt, anh ta hay gặp em, hai người đi chơi với nhau không. Anh nghe người bạn anh nói như vậy.
Tôi buồn cười nhìn anh, như nhìn một em bé:
– Thôi được, em sẽ dẫn anh đến gặp anh ta.
Sáu giờ sáng, chúng tôi đạp xe trên đường Trương Minh Giảng, đến nhà anh Phương. Nhà anh đã đổi chủ. Giữa nhà kê một bàn thờ đức Phật, khói hương nghi ngút. Tôi chỉ cho Bang, nhà Phương đã dọn đi rồi. Nhà anh ta theo đạo Chúa. Ra ngoài đầu ngõ, tôi hỏi thăm cô bán thuốc lá, cô cho biết ngày 30 tháng Tư, có chiếc trực thăng đến đậu trên mái nhà rước cả gia đình ông Phương đi rồi.
Tôi thở ra, lòng nhẹ thênh thang. Thôi thế là xong, nghìn trùng xa cách. Những hoài niệm cũ từ nay sẽ không còn. Bang ra về, còn tôi tiếp tục đến trường dạy học
(Còn Tiếp)
