KỲ 12
MƯA RÀO TRONG CƠN NẮNG HẠ
Năm 1978 tôi sinh thêm bé Phúc, thế là gia đình tôi thêm một thành viên bé bỏng. Tôi biết làm sao đây khi tôi quá vất vả nuôi chín miệng ăn trong thời buổi bao cấp này? Tôi phải vừa đi dạy học, vừa buôn bán thêm.
Lúc đến bệnh viện khám, bác sĩ báo tin tôi có thai, họ đòi phá bỏ, vì tiêu chuẩn của giáo viên chỉ có hai bé thôi, mà tôi có sáu con rồi. Họ đưa tôi vào phòng mổ để phá em bé. Tôi cương quyết phản đối, rồi tôi bỏ ra về. Từ đó, tôi không đi bệnh viện nữa.
Chín tháng sau, tôi đến bệnh viện Hùng Vương sinh bé. Thật tội nghiệp bé. Bé sinh ra trong hoàn cảnh thật khó khăn. Tấm thân gầy ốm của tôi bây giờ phải cõng bảy đứa con còn thơ dại với một ông chồng bất đắc chí. Tôi không hề buồn, tôi rất thương yêu con tôi. Tôi nuôi em bé bằng nước cháo nấu với cà rốt và khoai tây, vậy mà nước da bé trắng hồng, thân thể bé mập mạp, mấy đứa trẻ hàng xóm gọi em là bé Liên Xô.
Sau ba tháng được nghỉ, tôi tiếp tục đi dạy học và đi buôn bán thêm để có tiền trang trải tiền thuê nhà, tiền mua gạo trắng và các thứ cần thiết khác để nuôi cả gia đình. Cũng may nhờ Trời Phật thương, các con tôi đều khỏe mạnh, nhất là bé. Bé không bị trái gió trở trời, đau ốm lặt vặt như những trẻ khác. Tôi vẫn nuôi người giúp việc trông nom em bé. Tôi chia việc cho các con tôi thay nhau đi chợ, nấu ăn. Con trai, gái phải làm việc như nhau, trừ các cháu còn nhỏ được miễn làm việc.
Năm 1980, tôi được chuyển về trường Hồng Bàng, tọa lạc tại 132 Hồng Bàng, P.12, Q.5.
Ngôi trường này được người Pháp xây dựng từ năm 1933 làm trường học nội trú cho trẻ em là con của những người Pháp đến Việt Nam làm việc và lập gia đình với người bản xứ.
Sau đó, trường trở thành một chi nhánh của Trường Jean-Jacques Rousseau tại Chợ Lớn – Sài Gòn. Đến năm 1967, người Pháp giao trường lại cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, lúc bấy giờ thành lập Trung tâm Giáo dục Hồng Bàng.
Sau năm 1975, Trung tâm Giáo dục Hồng Bàng được chính quyền cách mạng tiếp quản và thành lập trường THCS Hồng Bàng cho đến nay.
Trường có kỷ luật và nề nếp học tập tốt. Hiệu trưởng là chị Bùi Thị Mạnh, người miền Nam, Ban giám hiệu là những đảng viên, thuộc chế độ cũ, nên họ vẫn giữ nét văn hóa thanh lịch, trí thức.
Sài Gòn yên bình, hoa lệ, rực rỡ như viên ngọc dưới ánh đèn đâu còn nữa. Những căn nhà đẹp trên đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Công Lý, Pasteur… đã thay đổi chủ. Trên lề đường, những tấm bạt được trải ra bày bán đủ thứ những vật dụng gia đình như nồi, xoong, chảo, bát đĩa, quạt máy…, quần áo cũ, vải vóc, thành khu chợ trời trải dài khắp lề đường. Ngoài giờ dạy học, tôi cũng hòa nhập vào những người buôn bán bất đắc dĩ ấy. Chúng tôi mua những món hàng từ những bà vợ trẻ cần tiền đi thăm nuôi chồng đang học cải tạo ở miền Bắc xa xôi.
Chính sách ngăn sông cấm chợ đã tạo nên đời sống cơ cực. Người ở nông thôn trồng được nông sản như lúa gạo, khoai bắp, đậu phộng, đậu đen… hoặc có con gà, con heo… thì phải bán cho Hợp tác xã với giá rẻ mạt. Họ không được mang tới khu vực khác để bán hoặc tặng người thân quen. Dân quân canh gác khắp các ngả đường. Người dân nghèo sẽ bị tịch thu toàn bộ nông sản, con gà, ký thịt heo mà họ mang theo, lại còn bị phạt tiền nữa, nếu không khai báo mà để công an khám xét thấy.
Người ở thành phố thì thiếu rau xanh, thiếu gạo, thiếu tôm, cá, thịt gà, thịt heo nên giá cả cực kỳ đắt đỏ. Người ở nhà quê thì nông sản phải bán rẻ mạt cho cửa hàng thương nghiệp, nên không có thu nhập. Tất cả sản phẩm của miền Nam được chở ra ngoài Bắc, hoặc bán cho Trung Quốc. Đời sống bị bế tắc, người dân cơ cực không lối thoát. Thế nên những người có tiền, họ lần lượt tìm đường vượt biên. Mặc dù con đường vượt biên rất nguy hiểm, họ biết mạng sống rất mong manh. Họ sẽ bị cướp biển trấn lột, đàn ông thì bị giết, phụ nữ thì bị hãm hiếp, nào bão tố, sóng dữ sẽ vùi lấp thân xác họ xuống đáy biển, nào chết đói, chết khát nếu tàu hết xăng dầu và lương thực. Viễn cảnh chết chóc như đe dọa họ, cái cảnh thảm thương đang đón chờ họ. Nhưng ở lại, gia đình họ sẽ chết dần mòn, con họ không có tương lai. Mọi người lần lượt ra đi tìm tự do – miền đất hứa.
Năm 1980, anh Thanh, người anh hai của tôi, đã cùng đoàn người đi bộ vượt biên qua đường Campuchia. Đoàn anh đi ba người thì hai người bị bắt, anh may mắn tới được Trại tị nạn Thái Lan. Nơi đây anh đã gặp phái đoàn cứu giúp người vượt biên của thầy Nhất Hạnh. Anh kể cho chị Cao ngọc Phượng nghe về người em ruột của anh là Thuần, rất kính thương thầy. Thế là chị Phượng gửi điện tín về cho tôi, báo tin chị đã gặp anh Thanh và cho tôi địa chỉ để liên hệ với chị. Cầm tờ điện tín của chị mà tôi rưng rưng nước mắt, người run run vì xúc động. Tôi thầm gọi:
– Thầy ơi, con đã tìm thấy thầy. Từ nay, con có thầy rồi, con không còn cảm thấy đơn côi nữa.
Nửa tháng sau tôi nhận được hộp thuốc tây 1kg của chị Cao Ngọc Phượng từ Pháp gửi về. Chị báo tin thầy vẫn khỏe mạnh, rồi hỏi thăm Bang và các cháu. Chị dặn dò tôi nhiều điều và bảo tôi viết lá thư cảm ơn các chị đã gửi thuốc cho gia đình tôi. Đọc thư chị mà tôi khóc. Xa cách nhau 15 năm trời, nhưng tình yêu thương chị dành cho em vẫn như xưa. Chị ơi, em sẽ bán hộp thuốc này và chỉ nhận 7 phần của số tiền. Còn 3 phần còn lại, em sẽ dành cho những người cùng khổ hơn em, bởi vì đây là lộc trời, là cơn mưa rào trong nắng hạ. Em phải chia sẻ bớt cho người nghèo đang nằm lay lắt trên các vỉa hè trong thành phố.
Nhờ số tiền chị cho, tôi sang Chợ Lớn mua thuốc lá giá sỉ, về bán lại cho các cửa hàng, các quầy thuốc lá ngồi dọc đường, các căng tin trường đại học. Giá thuốc lá lên xuống từng giờ, nếu là người khôn lanh, tôi sẽ kiếm tiền lời mau chóng. Nhưng bản tính chân thật, tôi không thể tính lời nhiều trên gói thuốc. Thế nên, bạn hàng quí mến không rời bỏ tôi.
Công việc mỗi ngày của tôi như chiếc kim đồng hồ, nó phải chạy đúng giờ, không thể chậm trễ. Năm giờ sáng tôi dậy nấu nồi cháo cho bé Phúc, xay nhuyễn rồi cho vào bình thủy, nấu nồi cơm, làm đồ ăn cho các con tôi đi học. Sáu rưỡi, tôi đạp xe đến trường, đúng bảy giờ tôi vào lớp học.
Buổi trưa, tan trường, tôi phải đạp xe đến Chợ Lớn mua cả thùng thuốc lá để có thuốc bán buổi chiều và sau bữa ăn trưa, tôi ra chợ mua đồ ăn về làm cơm cho gia đình, chăm sóc bé Phúc, coi lại bài vở ở trường, chấm bài cho học sinh. Chiều tối, tôi lại tiếp tục đạp xe mang thuốc lá đi bỏ mối cho cửa hàng và các quầy thuốc bán dọc đường.
Như một dòng sông đều đặn trôi không ngừng, tôi bị cuốn trôi theo nước thủy triều lên xuống của dòng đời. Trong cơn nắng hạ, hay trong bão táp mưa sa, dòng sông vẫn nhịp nhàng kéo theo từng cơn sóng. Kiếp người sinh ra và mất đi, như từng bọt sóng nổi lên và biến mất. Trong lúc trôi theo dòng nước, sóng biết bản thể của nó chỉ là sông nước, nó phải tuân theo định luật của dòng chảy, nó không thể nào tự vùng vẫy ra khỏi cơn sóng gió ngút trời. Nó im lặng mở lòng ra chấp nhận.
Ngồi trên chiếc xe đạp, chở thùng thuốc lá phía sau, tôi đi từ con đường này sang con đường khác, ghé bỏ dăm gói thuốc lá cho bạn hàng. Bạn hàng của tôi đủ loại, từ cụ già tóc bạc, anh thương phế binh, cô gái tuổi xuân phơi phới cho đến người đàn ông có vẻ trí thức thất thời. Tôi chứng kiến những mảnh đời sa cơ, lỡ vận hằn khổ đau trong ánh mắt vô vọng. Thương người như thể thương thân. Người hiện hữu đang là ai, là Tôi, là anh Bang hay là những gia đình từ Kinh Tế Mới trốn chạy về, nằm la liệt trên những tấm bạt rải kín vỉa hè Thành phố Hồ Chí Minh
Tôi đứng lặng yên, nước mắt ứa ướt mi. Tôi nghĩ đến thầy, đến chị tôi, đến gói quà chị gửi cho tôi với bao tình thương yêu gói vào trong đó. Tôi đã trích 3 phần số tiền bán hộp thuốc đó để giúp đỡ những gia đình nạn nhân thời cuộc. Tôi đến bên họ, nhẹ nhàng trao cho họ hai chục ngàn rồi nói với họ rằng: Đây là tiền của chị tôi gửi về cho gia đình tôi, tôi bớt chút đỉnh để chia sẻ với gia đình bạn. Tôi yêu cầu bạn viết vài lời cảm ơn chị, để chia sẻ niềm vui với chị. Cứ như thế, tôi chia sẻ hết số tiền trích từ hộp thuốc chị cho tôi. Tôi gom những lá thư có lời cám ơn, gửi sang chị. Đó niềm biết ơn của tôi và đồng bào khổ đau đang sống lay lắt trên quê hương.
Ba tháng sau, tôi nhận được hai hộp thuốc chị gửi về. Chị bảo một hộp cho các cháu, chị bảo tôi nên mua cá, thịt cho các cháu ăn để chúng đủ sức khỏe mà học. Còn hộp thứ hai, chị nhờ tôi chia sớt cho đồng bào nghèo từ Kinh Tế Mới.
Trong thời buổi này, người nghèo khổ nhiều như lá rụng mùa thu. Những công nhân viên chức thì mỗi hộ gia đình được cấp tem phiếu, mua nhu yếu phẩm giá chính thức, tạm chi dùng hàng ngày. Người dân thường được mua rất ít, phải mua thêm giá chợ đen. Buôn bán thì ế ẩm, công việc làm không có. Nạn trộm cắp, cướp giật nhan nhản khắp nơi. Từ hôm chị Phượng gửi cho gia đình tôi những hộp thuốc tây, các con tôi như được cứu sống, các cháu không còn phải ăn hạt bo bo, bữa cơm thỉnh thoảng có cá, thịt. Nhờ chị Phượng và những vị hảo tâm bên Pháp dù xa quê hương, quí vị vẫn giúp đỡ đồng bào khó khăn nơi quê nhà.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Dù xa quê mẹ vẫn thương đồng bào
Ơn nghĩa của chị và quý vị tôi không bao giờ quên. Dù còn bao khó khăn vây quanh, tôi xin nguyện cố gắng tiếp sức với chị, vươn cánh tay dài tới những vùng quê hẻo lánh, kinh tế mới xa xôi, nơi đó còn rất nhiều mảnh đời đang cần sự giúp đỡ.
Nông Trường Xà Bang.
ĐƯỜNG VỀ KINH TẾ MỚI
Tôi thân với cô Bích Ngân dạy Sinh vật cùng trường, cô là Phật tử, ăn trường chay, thường đi về các chùa vùng xa xôi để giúp người nghèo.
Trưa thứ bảy, cô Ngân hẹn tôi ở bến xe đò Long Khánh. Bang chạy ra bến, gọi tôi về. Tôi đang phân vân, thì cô Ngân kéo tôi đi, giọng cương quyết: Chị nghe em, cứ đi. Thế là chúng tôi lên xe.
Đây là lần đầu tiên đi về Hàng Gòn, thuộc tỉnh Long Khánh, Tôi có mang năm kilô gạo và ít quần áo cũ. Xe đạp chất đầy trên mui xe đò. Hành khách rất đông, chen nhau mà ngồi, có người đu cuối xe, ngồi cả trên nóc xe. Chiếc ô tô cũ, ì ạch chạy trên đường ổ gà, dưới cái nóng oi bức mùa hè khiến tôi ngạt thở.
Xe tới bến Long Khánh lúc 5 giờ chiều. Cô Ngân chở tôi trên chiếc xe đạp với 5 ký gạo và mớ quần áo. Xe đang đi thì đứt xích, mà đoạn đường đó rất vắng, không có người sửa xe. Trời về khuya, đường quê vắng lặng, chúng tôi đi nhanh dưới ánh trăng vằng vặc sáng. Vừa đi tôi vừa niệm thầm câu thần chú Án Ma Ni Bát Minh Hồng. Tôi tin đức Quan Âm sẽ che chở cho chúng tôi. Đi qua bãi tha ma lạnh lẽo, có đám thanh niên du đãng cười hô hố cất tiếng nói: Hai em đi đâu khuya vậy, vào đây chơi với các anh.
Tôi hơi sợ, nhưng bình tĩnh cất tiếng kẻ cả, dõng dạc trả lời: Các chị già lắm rồi. Các em tìm người khác mà chơi đi.
Mấy đứa thanh niên im bặt rồi bỏ đi.
Lạy Phật, thoát nạn rồi. Tôi và cô Ngân đi nhanh về phía Hàng Gòn.
Tám giờ tối, chúng tôi đến chùa Từ Ân. Ngôi chùa nhỏ nằm khuất sau rặng cây. Nghe tiếng chó sủa, sư cô chạy ra. Gặp Ngân, sư cô mừng rỡ:
– Chào hai cô, hai cô về trễ vậy, đi đường có sao không?
Tôi chắp tay chào sư cô, rồi hỏi:
– Ở đây có an ninh không, thưa cô.
– Trong chùa thì không sao. Đường khuya vắng hay có cướp, nhất là bãi tha ma. Đêm hôm qua mới có vụ cướp. Hai vợ chồng ở Thành Phố về, bọn cướp lấy xe, cướp hết tiền bạc, người chồng kháng cự, bị tụi nó đánh phải vào nhà thương.
Sư bà niềm nở chào đón chúng tôi. Sư cô nấu hai bát cháo, bảo chúng tôi dùng cho nóng, rồi đi nghỉ sớm. Ở đây, họ thấy chùa bật đèn có khách, vào kiểm tra hộ khẩu thì phiền phức lắm.
Đêm về khuya, tiếng cóc, tiếng ễnh ương và tiếng ve sầu cùng cất lên bản hòa tấu nghe xôn xao. Tôi nằm co ro trong chiếc mền mỏng. Nghe gió lạnh lùa qua khe cửa, tiếng tàu lá chuối sau vườn sột soạt theo cơn gió, tiếng quạ kêu trong đêm vắng, tiếng mèo kêu ngoa ngoa nghe thảm thiết như trẻ sơ sinh, tôi nghĩ đến thảm cảnh của các bà mẹ, các bà vợ có chồng đi học cải tạo, các gia đình từ vùng kinh tế mới đang nằm co ro khắp các vỉa hè Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiếng thở dài đêm khuya nghe sao buồn da diết, giọt nước mắt cứ rơi rơi. Tôi đang khóc cho thân phận tôi, hay thân phận quê hương… nỗi buồn mênh mang đưa tôi vào giấc ngủ…
Bốn giờ sáng, tiếng khánh báo thức, kêu các cô tiểu dậy công phu. Ngân và tôi cũng dậy đi ra ngồi thiền.
Từ giã sư bà, cô Ngân chở tôi đến Nông trường Cù Bị. Đây là nông trường trồng cao su, đồng bào ở đây đa số là di dân Kinh Tế Mới từ miền Trung chạy vào. Công việc của họ là cạo mủ cao su, hưởng lợi tức theo sản phẩm thu được. Số cây trồng không đủ cho họ cạo mủ, nên đời sống đói kém.
Đường vào khu dân cư xa lắc. Chúng tôi đi trong cái nắng hanh nóng gay gắt của buổi trưa hè trên con đường đất dẫn đến khu dân cư. Cô Ngân dẫn tôi thăm vài gia đình đông con, họ sống nheo nhóc trong cảnh túng thiếu, vài gia đình có cụ già bệnh hoạn thiếu người chăm sóc, có gia đình người chồng bị tai nạn xe hơi. Tiền thì có hạn, trước những cảnh thương tâm ấy, tôi chỉ còn biết chia sẻ mỗi gia đình vài chục ngàn, gọi là chút quà ngọt bùi của các vị hảo tâm ở phương xa gửi về chia sẻ với đồng bào.
Nắng đã ngả màu, chúng tôi phải đi nhanh ra đường cái đón xe về Sài Gòn.
Cứ ba tháng một lần, chị gửi về cho tôi hộp thuốc, tôi bán số thuốc đó lấy tiền mặt để giúp đỡ đồng bào nghèo vùng Kinh Tế Mới.
Cô Ngân giới thiệu cho tôi gia đình anh Nòi ở Kinh Tế Mới Xà Bang. Gia đình anh chị là Phật tử thuần thành, có thể dẫn tôi đi giúp nhiều đồng bào nghèo đang gặp khó khăn.
Bang không cho tôi đi một mình vì sợ nguy hiểm, bắt tôi phải dẫn cháu Đức, con trai thứ hai của tôi.
Mười hai giờ trưa tôi và cháu Đức ra bến xe Long Khánh. Khi đến Nông trường Xà Bang, nhìn đường dài rợp bóng hàng cây cao su xanh mướt, tôi quên cả mệt nhọc. Chúng tôi thong thả đi trên con đường đất đỏ vào Nông trường. Đi mãi vào bên trong, tôi thấy những mái tranh có những bà mẹ già lom khom nhặt những củ khoai mì, có những đứa trẻ đang chơi đùa.
Tôi tìm đến nhà anh Nòi . Thật may mắn, nhà anh cũng ở cạnh nông trường. Anh tướng to con, để râu quai nón, nước da ngăm đen, giọng nói miền Trung nghe thô tháo. Sau khi nghe tôi tự giới thiệu, anh vui vẻ nhận lời giúp tôi.
Sau khi dùng bữa bằng bát bánh canh và vài củ khoai mì luộc do chị Nòi mang ra, Anh Nòi chở tôi trên chiếc xe đạp cũ, đi xuyên qua rừng cao su để đi thăm một số gia đình có cụ già, đông con gặp khó khăn để giúp đỡ họ. Bây giờ, ngồi sau xe anh băng qua khu rừng vắng, dưới ánh trăng nhấp nhô trên con đường đất gồ ghề, rừng cao su lặng im, vắng ngắt, chỉ có tiếng ve kêu ra rả và tiếng quạ kêu tìm mồi trong không gian tĩnh lặng làm tôi nghĩ tới chị, và mỉm cười. Tình thương của chị giúp em vượt qua mọi sợ hãi. Em đã đến những gia đình bất hạnh, để trao tận tay họ những đồng tiền mà các bạn và chị ở bên đó gom góp gửi giúp đỡ đồng bào. Nhờ chị và các bạn mà em có cơ hội thể hiện Tình Thương đến với những người kém may mắn.
Tôi tiếp tục đến nông trường Xà Bang và Nông trường Thiện Mỹ vào mỗi chiều thứ Bảy để chia sẻ giúp đỡ những người nghèo. Một tháng sau, tôi nhận được thư của anh Nòi nhắc tôi đừng về Nông trường nữa, sẽ nguy hiểm cho tôi. Công An Xã họ đang theo dõi.
Tôi tạm ngưng một thời gian không về thăm vùng Kinh Tế Mới.
Bốn tháng sau, nhận được hộp thuốc từ Pháp chị gửi về, tôi bán đi, có tiền, tôi lại tiếp tục về các vùng Kinh Tế Mới xa xôi với hình thức một người bán thuốc lá và thu mua nông sản từ những gia đình nông dân nghèo. Tôi giúp họ bằng cách nói tôi là người đi bỏ mối thuốc lá và thu mua nông sản, về bán cho các bạn hàng ở các chợ nhỏ. Tôi trả tiền cho họ trước, thời gian sau, tôi đến thu mua lại những sản phẩm như khoai lang, khoai mì, đậu phộng. Tôi yêu cầu họ viết cho tôi tờ giấy thiếu nợ và sẽ trả lại tôi bằng những nông sản khi họ thu được. Tôi cứ tiếp tục buôn bán mà không thu lại sản phẩm như vậy, những công an xã họ không để ý đến sự có mặt của tôi.
Về Nông trường, đối với tôi bây giờ là một điều thú vị. Ở đó tôi gặp những người bạn chất phác, chân thật và thân tình. Tôi gặp những em bé lễ phép, ngây thơ, và hiếu học. Chúng tôi chơi với nhau một cách hồn nhiên dưới những cây trứng cá, cây mít, cây xoài và nắm tay nhau đi vòng quanh hát ca.
Chúng tôi ngồi trên thảm cỏ xanh hát cho nhau nghe, kể những câu chuyện cổ tích rồi đố nhau trả lời những câu hỏi có tích cách đạo đức, sinh hoạt trong gia đình.
Thỉnh thoảng vào chiều thứ bảy, tôi về Nông trường cao su Xà Bang thăm các cụ già, thăm các học sinh, tặng cho các cụ vài hộp sữa, ít tiền để các cụ tiêu vặt, cho các em học sinh nghèo tập vở và chút tiền đóng học phí.
Sự thân mật, đơn giản của tôi khiến dân chúng thấy gần gũi. Các cán bộ thấy tôi là giáo viên dạy anh văn cho các cháu, họ không e ngại về sự có mặt của tôi, nên tôi về thăm Xà Bang như về thăm quê hương. Nơi đây tôi được hưởng không khí trong lành của bầu trời xanh và tình người ấm áp.
Dân chúng rất sùng tín đạo Phật, có vài em thiếu nữ, thiếu nam xuất gia. Tôi đã giúp cho các em những phần học bổng để các em yên tâm theo học.
Các cụ già khởi công xây dựng ngôi chùa, tôi có một phần đóng góp công sức, chút tịnh tài và cầm quyển sổ của Ban Tổ chức đến chùa Ấn Quang, gặp Thượng tọa Trí Quang xin thầy đóng góp chút đỉnh với mục đích sự có mặt danh dự của thầy để tạo phước cho ngôi chùa làng quê.
Thầy tặng cho chùa mười ngàn, viết vài câu khuyến khích Phật tử. Đó là điều vinh dự cho Nông trường Xà Bang, vì Phật tử miền Trung họ rất ngưỡng mộ Thượng tọa Thích Trí Quang.
Đến bây giờ mỗi khi nghĩ về Nông Trường Xà Bang, tôi luôn cảm thấy gắn bó với ngôi chùa, với đồng bào vùng kinh tế mới, với miền đất nơi ấy như quê hương nhỏ bé của tôi.
Nơi ấy, tôi đã làm được nhiều bài thơ gửi cho chị Cao Ngọc Phượng và những bạn bè phương xa, đã chia sẻ, giúp những đồng bào còn nhiều khó khăn nơi quê nhà.
[Thương tặng chị Cao Ngọc Phượng – và các bạn Hiểu và Thương.]
Rừng cao su, chiều sương thấm lạnh
Hoàng hôn đỏ thắm cuối trời tây
Chuông chùa thong thả buông từng tiếng.
Chim gọi nhau về vang khóm cây.
Tôi thả ưu phiền theo cơn gió
Để thấy hồn dâng ngập mến thương
Để thấy trong tôi niềm xao xuyến
Nghĩ đến bạn bè nơi viễn phương.
Dù bao gian khó tôi vẫn đi
Lên đường theo ánh đuốc từ bi
Sáng lên ngọn lửa tình thương ấy
Cho ánh đạo vàng mãi khắc ghi
Tôi sẽ đến với em bé nghèo
Sẽ mang cho bé tiếng cười reo
Tung tăng trong nắng hồng tươi sáng
Để mắt em bừng lửa tin yêu
3-11-1984
(Còn Tiếp)

