KỲ 6: Trăng Mười Sáu
Gia đình nhỏ của ba tôi về ở trại định cư Suối Lồ thuộc huyện Thủ Dầu Một, tỉnh Sông Bé, cách Sài Gòn khoảng 20 cây số. Mỗi gia đình được cấp một căn nhà rộng 5 mét, dài 15 mét, có sân phía trước cửa, phía sau có khu vườn nhỏ trồng rau.
Thỉnh thoảng vào chiều thứ Bảy tôi về thăm ba, chơi với em Lan. Em kém tôi hai tuổi, tính tình vui vẻ, hiền lành. Cách khu dân cư có dòng suối chảy khá mạnh. Chúng tôi thường ra suối xách nước về vo gạo, rửa rau, nấu nước uống. Có đôi khi còn giặt giũ và tắm rửa trong dòng suối đó.
Khu định cư nhỏ có khoảng 10 hộ dân, đa số là người Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn Tây theo đạo Phật. Người già thì hưởng tiền trợ cấp, người trẻ đi học được chính phủ miễn học phí, cấp sách vở và tiền sinh hoạt hàng tháng, thế nên cuộc sống cũng nhàn hạ.
Hàng xóm của gia đình ba tôi có ông giáo Mứt, ông bà có hai cậu con trai, cậu anh tên Trung học lớp nhất, em tên Hậu học lớp nhì trường Trần Quốc Toản mãi tận trên xã.
Cụ Tổng nhà kế bên có cô con gái là chị Đoài, dáng người mảnh khảnh. Chị hiền, vẻ chân quê. Anh Dự là con trai lớn, làm nghề thợ mộc; anh Thuận học đại học văn khoa Sài Gòn, dáng người cao, to, rất đẹp trai, tính tình hoạt bát, vui vẻ.
Chiều thứ Bảy anh Thuận và người bạn tên Nguyên hay về thăm nhà.
Hai anh thường gọi mấy đứa trẻ hàng xóm, con ông giáo Mứt, con ông Lộc, tôi và em Lan sang chơi. Anh Nguyên dạy chúng tôi hát, những bài hát về cha mẹ, về quê hương. Những buổi tối có trăng, hai anh chơi đàn và hát, những bài hát mang âm hưởng quê hương, hồn thiêng dân tộc. Anh Thuận còn tập cho chúng tôi nhiều trò chơi vui nhộn. Anh kể truyện lịch sử, truyện cổ tích, những câu chuyện mang tính cách đạo lý, dạy làm người. Anh thường hay đọc thơ, những bài thơ cổ của Khuất Nguyên, tráng sĩ Kinh Kha hùng tráng…, những bài thơ của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, giọng anh sang sảng mạnh mẽ, đôi lúc thật trầm buồn.
Tráng sĩ hành
“Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi, không bao giờ về!”
Tay nâng chén rượu giả người cũ,
Miệng đọc câu ca chân bước đi.
Dao tình mài liếc với thanh khí.
Chí hùng tung bốc đầu sơn khê.
Nghe tiếng đờn trúc gõ réo rắt,
Mặc cho kể hết niềm phân ly.
Đã bước chân ra không hẹn kỳ,
Túi áo xênh xang ba tấc kiếm,
Bụi hồng rong ruổi đôi bánh xe.
Ngoảnh lại thành Yên đầy uất khí,
Thấu lòng họa chỉ người tương tri.
Hoặc những bài thơ của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm:
Lời mẹ dặn
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét,
Dù ai ngon ngọt nuông chiều,
Cũng không nói yêu thành ghét,
Dù ai cầm dao dọa giết,
Cũng không nói ghét thành yêu.
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
(Phùng Quán)
*********
Tôi bước đi
Không thấy phố
Không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
Trên màu cờ đỏ
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
Máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?
A! Cái lưỡi dao cùn!
Không đứt được mà đau!
Chúng định chém tôi làm hai mảnh
Ôi cả nước! Nếu mà lưng tê lạnh
Hãy nhìn xem: có phi vết dao?
Không đứt được mà đau!
Lưng Tổ Quốc hôm nay rớm máu
Tôi đã sống rã rời cân não
Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam…
(Trần Dần)
***
Những đêm trăng thanh, gió mát, những tiếng đàn ghi ta réo rắt âm điệu reo vui, hòa quyện tiếng hát thanh thoát của anh Nguyên:
Những nẻo đường Việt Nam, khắp từ Cà Mau trải tới Nam Quan. Ôi những nẻo đường về đâu… Yêu là yêu không bờ bến rồi, yêu là yêu những nẻo đường mới… ai đành tâm chia đường cách đôi…
Những bài thơ, những bản nhạc đậm tình quê hương dân tộc hòa trong lời thơ tiếng nhạc trầm ấm của hai anh đã cuốn hút tâm hồn tôi, cô bé mười sáu tuổi mộng mơ, thiếu tình thương của mẹ.
Ánh mắt của anh Thuận luôn nhìn tôi say đắm, làm xao xuyến trái tim tôi, trái tim bé bỏng khát khao tình thương yêu, thứ tình thương ngọt ngào của người mẹ, ấm áp của người cha. Tôi đã tìm thấy trong đôi mắt anh nụ cười hiền dịu của mẹ tôi, sự che chở của ba tôi, đã thiếu vắng trong tôi từ ngày mẹ tôi mất.
Vầng trăng mười sáu tỏa sáng không gian, ánh mắt ngời sáng của anh nhìn tôi, cuốn hút tôi vào khung trời mộng mơ, đầy ắp tình thương, căng tràn sức sống. Anh đã kéo tôi đứng dậy, bước đi vững chãi bằng lòng tự tin, bằng chí phấn đấu, tấm gương sáng ngời của cô Bắc, cô Giang, bà Trưng, bà Triệu. Tình yêu quê hương, dân tộc bừng sáng trong tôi.
Tôi thầm nói với Mẹ: Mẹ ơi, con sẽ sống xứng đáng là con của mẹ, con sẽ cố gắng học hành và làm những việc tốt cho mọi người, để mẹ an vui về đứa con hiếu thảo. Tôi bắt đầu làm thơ, bài thơ đầu đời tôi làm tặng mẹ.
Anh đến với tôi bằng mối tình đầu trong sáng, anh dìu dắt tôi như một đứa em thơ. Gặp lại anh vào mỗi cuối tuần, được nghe anh kể truyện, những câu chuyện ấm áp tình người, nghe anh ngâm thơ, những bài thơ chan chứa tình dân tộc, anh đàn anh hát, những bài hát chất ngất hồn thiêng sông núi. Những buổi đi dạo trong rừng, vui đùa trên dòng suối. Tình yêu của chúng tôi trong suốt như nắng ban mai, như đôi chim ríu rít trong vùng trời xanh bát ngát bao la, vô tận.
Đã hai mùa xuân trôi qua, tâm hồn tôi căng tràn nhựa sống của tuổi mười tám. Hàng tuần chúng tôi gặp nhau, ngồi bên anh nghe anh kể chuyện, đi chơi với anh trong rừng cây rợp nắng, ngồi chơi với anh bên bờ suối, đùa vui trong dòng suối mát. Anh say đắm hôn tôi, rồi dìu tôi lên bờ đá. Trong cơn cuồng nhiệt của yêu đương, anh đã suýt chạm đến ranh giới mà lễ giáo không cho phép vượt qua. Tôi kịp lúc bừng tỉnh cơn mê, đẩy anh ra, vụt chạy lên bờ, ngồi khóc.
***
Trước khi quay về Sài Gòn, tôi nói với anh: Nếu anh yêu em thật lòng, anh nói với thầy anh mang trầu cau sang thưa chuyện với ba em, xin đính hôn. Chúng ta chính thức yêu nhau trong lễ giáo. Em sẽ đợi anh ra trường, chúng ta làm đám cưới. Em mất mẹ rồi, em không thể đùa giỡn với tình yêu, nếu không may có chuyện xảy ra, em xấu hổ với gia đình và mẹ em nơi chín suối. Em đợi, nếu tuần sau, anh không thực hiện lời yêu cầu của em, chúng mình giã biệt.
Tuần sau, tôi gặp lại anh, tôi không ra suối chơi mà ngồi trước sân nhà. Anh nhìn tôi tha thiết, nắm chặt tay tôi, anh nói trong đôi mắt đỏ hoe:
Thuần, anh rất yêu em, anh muốn làm đám cưới với em, nhưng không phải bây giờ. Bản thân anh chưa có sự nghiệp, chưa thể có cuộc sống vững chắc để lo cho em, nên anh không muốn ràng buộc em. Em có thể đợi anh, anh không muốn mất em.
Anh siết chặt tay tôi, nói khẩn khoản: Em ráng đợi anh. Anh yêu em.
Anh ôm chặt lấy tôi, hôn tôi cuồng nhiệt.
– Đợi anh. Đợi đến bao giờ?
– Bây giờ chúng ta tạm xa nhau. Khi nào đủ điều kiện, gặp lại nhau, anh và em chính thức làm đám cưới.
Tôi lảo đảo đứng lên, chào anh. Ngay hôm đó, tôi về Sài Gòn. Cũng từ hôm đó, tôi không trở lại Suối Lồ thăm ba nữa.
***
Mãi đến sáu năm sau, khi sắp sửa lấy chồng, tôi gặp lại anh qua sự sắp xếp của cô Nhị, em gái nhà thơ Vương Đức Lệ. Anh hối tiếc vì đã mải mê xây dựng sự nghiệp nên để tôi đợi chờ quá lâu, Anh cũng tỏ ý, mong rằng tôi sẽ hối hôn để trở về bên anh. Tôi nhìn anh, cười buồn, kiếp này tôi có duyên với anh mà không có nợ.
Khi tôi ra về, cảm thấy như là đã được đặt một dấu chấm cho mối tình đầu của mình. Ký ức đẹp, tư tưởng đẹp về kiếp nhân sinh, tình tự dân tộc qua những bài thơ, bài hát nặng tình yêu quê hương mà Thuận đã trao truyền – như dấu ấn – vào một tâm hồn trong sáng, đa cảm của một cô bé mười sáu tuổi trăng tròn, hình thành nên một nhân cách đẹp, sống có lý tưởng như tôi hôm nay. Xin cảm ơn anh. Anh không cùng tôi đi suốt cuộc đời, nhưng tinh thần, lý tưởng rất đẹp của anh vẫn còn mãi trong tôi. Tôi biết làm thơ từ thuở ấy.
***
Thu nhớ Mẹ
Dưới trăng thanh mắt mờ lệ nhỏ
Vài hàng thơ kính mẹ hiền yêu.
Còn đâu nữa buổi chiều năm ấy
Dưới trăng thu lòng thấy nhẹ vui
Ngước nhìn mẹ lòng tôi cảm thấy
Niềm kính yêu tràn dậy tâm hồn.
Lòng mẹ như nước biển nguồn
Tình mẹ như sóng tràn tuôn vỗ bờ
Lời dịu ngọt ầu ơ biển lặng
Ru con vào giấc ngủ bình yên
Ánh mắt mẹ,
Ngời sáng yêu thương
Con bơi tắm
Trong suối nguồn hạnh phúc,
Bàn tay mẹ dịu êm ấm áp
Xoa đầu con khi trái gió trở trời
Nhưng bây giờ,
Mẹ ơi,
Khung trời vắng
Không trăng sao,
Không cả đại dương.
Mất mẹ rồi,
Con thơ lạc hướng,
Ngơ ngác đêm sâu.
Mẹ ở đâu?
Mẹ ở nơi đâu?
Con kêu gào rát cổ.
Chỉ có tiếng gió thì thào,
Tiếng côn trùng nức nở, và,
Màn đêm đang giăng phủ đời con!
(Suối Lồ – đêm Thu tháng 7, 1955)
(Còn Tiếp)
