Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 314)

Văn học miền Nam nhìn từ miền Bắc

Ta thấy hình ta những miếu đền là một bài thơ của Mai Thảo. Thần tình của bài thơ là hai từ “sao không” được lặp lại trong suốt các khổ của bài thơ. Sao không là sự rút gọn khẩu ngữ của mệnh đề-phó từ “sao chẳng không là vậy”.

Mệnh đề-phó từ này được rút gọn thành phó từ sao không, trở nên gọn nhẹ, lại có hơi hướng khẩu ngữ, lại xen vào liên tiếp như là câu hỏi…, tất cả làm cho toàn bộ bài thơ hoạt hẳn lên.

Sao không vừa là câu hỏi, vừa là tâm thế xác quyết, một cách xác quyết thi sĩ, không giáo điều, không áp đặt. Phó từ sao không đựơc sáng tạo, đưa vào thơ, lần đầu tiên xuất hiện trong bài Ta thấy hình ta những miếu đền của Mai Thảo. Ðọc văn học Việt Nam hải ngoại tôi gặp những từ được sử dụng rộng rãi nhưng trong văn học trong nước, nhất là văn học miền Bắc hầu như không thấy dùng, mà những từ này tuy lạ nhưng có thể đoán ra nghĩa và thấy hay hay.

Trong Ðại từ điển tiếng Việt, từ chỉ được tường giải như là danh từ. Trong truyện Auld Lang Syne của Song Thao, từ được dùng hai lần như là động từ:

Công việc của họ quá bận rộn, tiền vô như nước, họ đâu có tới cái hãng lộn xộn nhếch nhác của ông bố.

gì tới tôi, bà ơi! Dù có cả một hồ nước mắt, tôi cũng chẳng phí phạm một giọt cho những mất mát của một anh già chẳng ăn nhậu gì tới tôi cả… (tr. 75)

Trong Ðại từ điển tiếng Việt từ khơi khơi chỉ được tường giải hai nghĩa. Trong Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác, từ này được sử dụng vài chục lần, ít ra với năm nghĩa khác nhau. Một sự nghiên cứu đầy đủ từ vựng trong ngôn ngữ văn học Việt Nam hải ngoại chắc chắn sẽ đem lại những sự bổ sung quan trọng cho các bộ từ điển tiếng Việt.

(Hoàng Ngọc Hiến – Đọc văn học Việt Nam hải ngoại)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

– Thà nhịn đói chứ không nhịn nói.

Thơ Bút Tre và Hồ Xuân Hương

Chưa đi chưa biết Sài gòn
Đi rồi mới biết chẳng còn một xu
Về nhà mới biết là ngu
Mồm tiêu thì ít thằng cu tiêu nhiều.

Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam

Thuyết dưới đây được Petrus Trương Vĩnh Ký đưa ra dựa theo sự “nghe nói” như sau: 
“Sài là mượn tiếng viết theo chữ Hán có nghĩa là củi gỗ; Gòn là tiếng Nam chỉ bông gòn. Người ta nói rằng tên đó phát sinh bởi sự kiện nhiều cây bông gòn do người Cao Miên đã trồng chung quanh đồn đất xưa của họ, mà dấu vết nay vẫn còn ở chùa Cây Mai và các vùng lân cận”.
(Pétrus-Trương Vĩnh Ký – Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, trong Excursions et Reconnaissance X. Saigon , Imprimerie Coloniale 1885). 

Không biết tại sao mà sau này Louis Malleret và Vương Hồng Sển lại quả quyết thuyết này là “của” Trương Vĩnh Ký, mặc dù ngay sau đoạn này, Trương Vĩmh Ký lại viết tiếp:

“Theo ý tôi, hình như tên đó là của người Cao Miên đặt cho xứ này, rồi sau đem làm tên gọi thành phố. Tôi chưa tìm ra được nguồn gốc đích thực của tên đó”.
Tương tự, có nhiều thuyết phụ theo nói rằng Sàigòn từ “Cây Gòn” (Kai Gon) hay “Rừng Gòn”

(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)

Truyện cực ngắn – Thời

Cải cách ruộng đất. Quy thành phần, bố tôi là địa chủ! Tất cả nhà cửa, ruộng nương bị tịch thu chia cho tá điền.

50 năm sau

Khu ruộng của bố tôi ngày xưa hoá thành trang trại. Những hộ nhận khoán sản cho Hợp tác xã (trong đó có tôi) được ông chủ mới đền bù tính theo đầu sào một khoản tiền mang tính tượng trưng! Không ruộng, không biết nghề gì ngoài nghề nông, tôi thành tá điền! ….

Bố tôi và tôi đều không thức thời! Bố tôi là địa chủ hơi sớm! Còn tôi, ngược lại… tôi là tá điền hơi muộn!

Câu đố tình tự II

Từ khi thiếp tới cửa chàng

Cớ sao chàng để nằm ngang chàng dùi

Buông ra cho thiếp kêu trời

Kẻo rồi lại có kẻ cười người chê

Truyện và thơ

Truyện là sản phẩm tưởng tượng, hay nói cách khác văn là hư cấu, thì thơ là tình thật. Nhân vật trong tiểu thuyết là người ta, nhân vật trong thơ là ta – chính ta. Viết cho cái ta khó lắm, trừ phi ta tha hóa, coi ta là người khác, làm thơ tưới sượi như phạt cỏ vét bùn, tát nước sang ao. Làm thơ theo tôi (Viên Linh) là cách viết nhật ký, song không viết cho mình hôm nay, mà viết cho mình ở đâu đó, có khi là ở mãi tận mai sau.

Viết truyện là dựng nên, hay vẽ ra, những nhân vật điển hình của một xã hội, làm thơ là đào sâu chôn chặt chính mình vào trong lòng mộ, có thể là một ngôi mộ tâm linh mà thôi. Mà đường đời thì rải rác những ngôi mộ hoang, những mồ vô chủ. Thơ ta mà có người hương lửa thì ta không mong gì hơn.

(Viên Linh – Văn chương tôi không phục vụ niềm vui)

Câu đố tình tự II

– Cái điếu

Sáng tác khó hay phê bình khó?

Người ta thường nói sáng tác thì khó, phê bình thì dễ. Tôi không nghĩ thế. Viết dở thì sáng tác hay phê bình đều dễ cả. Nhưng viết cho hay thì phê bình không dễ lắm đâu. Sáng tác chỉ cần có năng khiếu, có trải nghiệm và cảm hứng.

Bởi vì một nhà phê bình phải có cùng một lúc hai năng lực. Một là phải có khả năng phản ứng nhạy bén với cái đẹp về tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ. Đây là chuyện năng khiếu. Hai là phải có trình độ văn hoá cao, tư duy lôgích tốt. Vì phê bình phải làm hai nhiệm vụ: một là phát hiện và diễn tả những khái niệm, những phạm trù, những quy luật, một yêu cầu của khoa học; hai là phải cảm nhận được và chuyển tải được tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ chứa đựng trong văn thơ.

Ngoài ra nhà phê bình phải đọc nhiều văn chương Đông Tây Kim cổ để so sánh đối chiếu, và để thực sự hiểu được văn thơ. Xuân Diệu nói, thơ là gì rất khó định nghĩa được thấu đáo, cứ phải đọc nhiều thơ hay thì mới hiểu được. Cho nên Kim Lân, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Anh Thơ, Trần Đăng Khoa có thể sáng tác tốt tuy chỉ học hết cấp một. Nhưng phê bình thì phải là Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, đây là chỉ nói các nhà sáng tác…viết phê bình.

(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)

Tục ngữ Ta và Tầu

Nhân nghĩa bà Tú Đễ

Nễ bất khả sát kê vấn khách

(Đừng bao giờ hỏi khách nên mổ gà đánh chén chăng)

(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)

Địa danh miền Nam trong văn học sử

Lịch sử chứng minh rằng Saigon có trước, rồi người Tàu mới đọc theo và đọc trại ra thành Thầy Ngòn, Xi Coọn.

Vì theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống Suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ “Luỹ Sài Gòn”. Đây là lần đầu tiên chữ Sài Gòn xuất hiện trong tài liệu sử sách Việt Nam.

Theo Hán-Việt viết là “Sài Côn”, vì thiếu chữ viết nên chữ Hán “Côn” được dùng thế cho “Gòn”. Nếu đọc theo Nôm là “Gòn”, còn không biết đó là Nôm mà đọc theo chữ Hán thì là “Côn”. 

Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Saigon! Thì làm gì phải đợi đến 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cổng (dựa theo Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm).

(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)

Tận tín thư bất như vô thư

Hôm nghe bố giảng Tận tín thư bất như vô thư xong, tôi (Nguyễn Dư) nghịch ngợm hỏi : “Tại sao bây giờ bố không viết?” – “ Viết cái gì cơ chứ?”. Thôi đừng nói chuyện vớ vẩn nữa. Mày phải bớt lêu lổng, chịu khó học hành. May ra sẽ khá. Nhưng tôi không gặp may. Mấy kì thi lần nào cũng chỉ trông mong vào môn toán để bù cho văn chương triết lí. Vốn liếng văn chương của người khác thì phải lấy bồ, lấy va li mà chứa mới xuể. Còn vốn của tôi thì chắc chắn không cần đến cái chai bia 33 để đựng. Ngay cả bao thuốc lá Cotab cũng chưa chắc đã được lưng lưng.

Trớ trêu thay, đến khi trên đầu lốm đốm hai thứ tóc, rồi tóc bắt đầu rụng dần, thì tôi trở chứng. Thấy xung quanh xì xào chuyện sách vở chữ nghĩa, tôi tò mò…bắt chước. Bây giờ đọc để biết chuyện trên trời dưới đất. Nói một cách trang trọng là đọc để mở rộng kiến thức. Khiêm tốn thì nói là đọc để cho bớt ngu.

Được tí nào hay tí ấy. Muộn còn hơn không ! Đọc sách để mỉm cười ngắm cái ” lá diêu bông ” của Hoàng Cầm đã được một nhà khoa học trong nước lặn lội tìm ra được?! Không ngờ đọc sách lại thú vị như vậy. Học được nhiều điều hay, lắm điều lạ. Bớt cả tin, bớt thành kiến. Càng đọc càng thấy phải đọc thêm. Đọc sách để biết  Nói có sách, mách có chứng!

Đồng thời để hiểu rằng Tận tín thư bất như vô thư  !

(Nguyễn Dư – Chimviet.free.fr)

Ca dao tình yêu miền Nam

Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị, hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu miền Nam. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, qua những từ ngữ mộc mạc, chân thật có khi “rầu thúi ruột”:

“Thác ba năm thịt đã thành bùn

Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em”

(Đoàn thị Thu Vân – Chất hóm hỉnh trong ca dao miền Nam)

Chữ và nghĩa

Rất nhiều từ ngữ mà chúng ta cho là của người trong nước sau 75, thực ra là của Việt Nam trước đó. Vậy tiếng nào là tiếng của người Việt trước hay sau 75?

Cảnh báo – “cảnh báovà “báo động” được dùng ở cả hai miền. Thí dụ Miền Nam: Việt-Pháp Từ điển Ðào Ðang Vỹ viết: “Cảnh báo” : signaler, avertir. Tân Ðại Tự điển Việt Anh Nguyễn Văn Tạo: “Cảnh báo: alarm.” Chính xác hơn, cảnh báo là báo trước nguy cơ có thể tới để đề phòng; báo động là báo khi nguy cơ bắt đầu xảy ra để tránh thoát,  

(Tâm Thanh – Chiêu hồi ngôn ngữ)


Tứ hỉ

Tứ Hỉ phát xuất từ quan niệm của người Trung Hoa, cho rằng trong đời người, có 4 điều tốt lành mà ai cũng đáng vui mừng:
Cữu hạn phùng cam vũ
Tha hương ngộ cố tri
Động phòng hoa chúc dạ
Kim bảng quải danh thì.

Có nghĩa là: 
Hạn hán lâu ngày nay có mưa
Nơi xứ lạ quê người gặp được bạn cũ
Đêm động phòng hoa chúc của vợ chồng mới cưới
Lúc thi đỗ bảng vàng.

(Khải Nguyên – Giải nghĩa thành ngữ dân gian)

Câu đối thợ nhuộm

“Xuất đối dị, dị đối nan” hiểu theo nghĩa là “ra đối dễ, đối lại khó” . Tuy nhiên một đôi khi lại ngược lại “xuất đối dị, dị đối…dị” như vợ khóc chồng là thợ nhuộm:

Thiếp từ khi lá thắm duyên xe, khi vận tía, lúc cơn đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ

Chàng ở suối vàng có biết, vợ má hồng, con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh

Câu phúng trên do cụ Nguyễn Khuyến viết cho chị hàng xóm khóc chồng, có đủ mầu sắc của nhà thợ nhuộm: thắm, tía, đen, điều, đỏ, vàng, hồng, trắng, tím, xanh…

(Nguyễn Kiến Thiết – báo Thời Báo)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

Bài Mới Nhất
Search