(Kỳ 1)
Nằm gác đầu lên gối sách Đông-Tây kim cổ cũng trên dưới mười năm, nửa đêm về sáng vắt tay lên trán tự thấy là người hòai cổ, nhuốm mùi nho phong mực tầu giấy bản bấy lâu. Nên ngồi không đuổi ruồi ngẫm chuyện nhân sinh đầy những nỗi mang mang u hòai và yếm thế với “Cửa tiên công khi xây đắp đỉnh chung, mấy thu tròn tìm thú cỏ hoa, chăn thúy vũ những bèo trôi xốc nổi…”. Thế nên còn bụng dạ nào với….”Vèo trông lá rụng đầy sân – Công danh phù thế có ngần ấy thôi”, ấy là chưa kể đến gặp ngày nắng quái chiều hôm, ngửa mặt kêu trời với tri thiên mệnh chập chờn như áng mây trôi ngang ngang đầu núi…Đành chép miệng rằng: Tôi là anh già, đang khật khừng ở cái tuổi vào thu với những nghi hoặc, mở mắt thao láo ngắm lá vàng, gặp ngày nắng ong ong, nhìn bức tượng thiền sư ngòai vườn khô khốc và bất chợt cảm khái rằng công danh phù thế hay thế sự thăng trầm chẳng qua là hư ảo của thế tục, chỉ là giấc mộng đầu hôm cuối bãi, cứ chơi vơi là sương là khói.
Rồi nhằm vào một chiều cuối tuần, cũng vẫn anh già tôi đang lửng lơ với u u minh minh, đang đốt thời gian bằng khói huyền bay lên cây…Chợt bồi hồi thấy rồi một ngày tóc đã nhuộm mầu quan san ngập muối tiêu, muối nhiều hơn tiêu, lẩn mẩn đếm trên đầu ngón tay, hai…”mùa thu chết” nữa là đến cái tuổi quy khứ lai từ với cỏ cây. Cùng ngày tháng chồng chất, cùng mảnh vườn ấy, bắt gặp một cái lá vào độ lập đông lạc vào vườn nhà hai mầu đỏ nâu…như một cái bóng. Lại luộm thuộm với dăm chữ nếu, rằng bằng cái tuổi này, nếu nhằm vào một ngày nắng quái chiều hôm, ngửa mặt kêu trời với tri thiên mệnh chập chờn như áng mây trôi ngang ngang đầu núi. Giữa ngã ba đường, bên một quán vắng, bất chợt nhìn thấy một mái tóc hay tà áo bay bay trong gió để có những đổi thay cả một quãng đời. Giấy một túi, bút một túi, lúi húi vun sới thành truyện ngắn, dài này kia cô đọng cùng những năm tháng. Không ngòai là những dấu ấn của thời gian và không gian nào đó cùng những hòai niệm này nọ. Nào có khác gì biên khảo, sưu khảo theo thứ tự niên kỷ, niên đại như gà qué đuổi nhau nhung nhăng.
Hay là…Hay là hãy một lần trong đời, cố vót nhọn đầu bút để dối già lăng nhăng với kim đâm vào thịt thì đau, thịt đâm vào thịt nhớ nhau muôn đời. Ừ thì đã dan díu với văn chương lâu nay đến nẫu người, nay hãy tập tành…làm tình ướt át với chữ nghĩa xem sao!
Muốn vậy thì phải có mặt của một người nữ trong truyện…Mà theo thuyết nhân qủa của nhà Bụt, mọi sự đã có túc duyên trước rồi. Cứ việc đợi. Đợi đến lúc việc ấy sẽ đến giống cụ Tiên Điền với tri thiên mệnh “Mới hay tiền định chẳng lầm – Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau – Còn nhiều ân ái với nhau – Ông thiên đã dậy ắt thì chẳng sai”. Hóa ra chẳng sai thật, như người nữ trong truyện này, một lần đã lẩy Kiều “Thiếp như hoa đã lìa cành – Chàng như con buớm liệng vành mà coi”. Tôi biết người nữ đang nhíu mày vì đã dặn dò tôi…đừng mang hai câu thơ ấy vào bài mà, chẳng qua…“người” sợ nó lậm vào…người ngợm đấy thôi. Nhưng câu Kiều tôi đưa vào đây vì nó có ăn nhập tới truyện ngắn Tiền Kiếp ở khúc sau. Như lời nhỏ to của hai cánh tay trong phần dẫn nhập rằng: Đây chỉ là một truyện ngắn, trong những truyện ngắn, cho một truyện dài. Hay luận theo thuyết nhân sinh của nhà Bụt cùng nước chẩy mây trôi, tôi đang gieo nhân để hái quả. Tôi đang đợi hoa rơi cửa Phật. Vẫn chưa xong, miệng người lại he hé bắng nhắng hỏi gì nữa đây? À…tôi hiểu rồi: Người muốn hỏi cái hình bìa khỏa thân xâm mình có chữ thư pháp ngoằn ngoèo như con giun ấy mà. Ấy là chuyện số mạng với ông sư cãi số trời, nào có khác gì người với hữu duyên thắng số, cũng chỉ vì cái tật lanh chanh, tò mò để nó vận vào người, để khi không của người phúc ta, tôi như ếch vồ hoa mướp tạo dựng được một bài viết này.
Tất cả ở cái định mệnh oái oăm của tôi, ngày rộng tháng dài đâm nghĩ quẩn rằng cớ sự gì các thi sĩ, nhạc sĩ vợ con đầm đìa, hay ở cái tuổi gần đất xa trời. Từ những rung động nào họ lại sáng tác được những tác phẩm để đời vung vãi qua những bài thơ tình bất hủ, những tình khúc bất tử vượt thời gian và không gian. Riêng cái thân tôi sau khi lẩn quẩn, chui rúc trong cái đám mờ mịt của những mảnh tình đã thành tro bụi trong quá vãng, đã trang trải trên giấy trắng mực đen nào là Tình đầu, Tình giữa, Tình cuối, vốn liếng cạn cụt theo những mùa thu đi…Tôi cũng nhấp nhổm muốn có một chuyện tình cho ra hồn. Tôi đã từng bương bả yêu nhiều với nhiều thể loại của tình yêu, tình phất phơ nhẹ như lông hồng, lông ngỗng, tình sâu đậm tưởng không ngóc đầu lên nổi. Những cuộc tình đó tuy ký ức chẳng thể nào quên, nhưng tâm hồn không còn rung động nữa. Hay là vì cám cảnh cái nỗi già nên không có hứng thú trở về thăm lại những nơi mình đã bỏ đi. Tôi thích những nơi xa lạ, tôi thích những vùng kỳ bí chưa từng nếm trải để được lôi cuốn và nhắm mắt lao vào trong đó. Tôi không thể viết những gì tôi chưa hiểu rõ, kể cả tình yêu. Nói thật tình, tôi cũng chẳng biết cái vùng ấy rậm rạp ra sao? Rõ ra là chuyện cả hai, ba năm về trước, dạo đó tôi đã buông bút vì nếu không đang yêu, khó mà viết về tình yêu cho hay được. Khỉ thế đấy!
Đang lẩn mẩn với tri giao quái ngã sầu đa mộng, thiên hạ hà nhân bất mộng trung qua những mảnh tình xưa cũ la đà như áng mây trôi. Và thề “Trèo lên cây ớt – Rớt xuống bụi hành – Ai chẳng lòng thành – Hành đâm lủng ruột” rằng tôi quên béng tự thưở nào chuyện con tằm thai nghén nhả tơ về một truyện tình không tưởng hậu hiện đại vừa rồi. Rồi lại như trên trời rớt xuống bằng vào ngày 1-28-07, tôi có truyện ngắn mới gửi cho cô em gái. Sau đấy bật cái máy vi tính lên, lõ mắt thấy bài viết hiện lên mạng lưới, dăm bữa sau có người lớ ngớ hỏi xin bài. Tiếp đến là cái điện thư óc ách cám ơn cho phải nhẽ: “1-31-2007: Chào anh H, cám ơn anh đã cho đăng bài Sài Gòn Đầu Đường Cuối Ngõ”.
Hỏi bài đăng ở đâu đó ư? Viết cho cố thì cũng cần người đọc, nếu người đọc có ”Sóng biếc theo làn hơi gợn tí – Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo” thì cũng chỉ là chuyện thường tình của đất trời với hai mưa một nắng. Nếu có đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành hay vắt sành nước để thành chuyện thì chuyện là trong cái lúc vật đổi sao rời để làm người lưu vong, trong khi con người bỏ quê hương, con cá bỏ hang, con chim bỏ tổ…Tôi như loài ốc lui cui cõng cái nhà của mình đi theo. Cùng cái vỏ ốc đó, với cái sầu lữ thứ qua năm tháng: “Ai đi ai nhớ quê nhà – Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương’’…Tôi nhồi nhét những làng mạc, hàng tre xơ xác, ao chuôm ruộng vườn, dăm con lợn còi, vài con vịt đẹt, những mái gianh xám buồn, con đê già, cây đa bến cũ, và chẳng thể thiếu vắng âm hưởng điệu hát câu hò bàng bạc cùng tiếng sáo diều lửng lơ. Và trong cuộc hành trình cô đơn trở về với đất đai quê mùa, như nhân quả để tôi vừa gặp cô. Cô lậm qua tôi những bài viết có những câu nói dân gian đặc sệt của những người muôn năm cũ, trong đó còn rơi rớt lại là bà cụ thân sinh cô. Như thể “Ừ nhẩy” , hay “Dào ơi” hoặc giả như “Làm gì mà nhắng lên vậy hở nỡm”.
Thế nhưng ngay lúc đó, tôi cũng đã quên tuốt luốt, quên thật chứ chả phải là vờ vĩnh với chuyện mình đang đi tìm một nhân vật nữ để thao thác một truyện tình. Thay vào tôi chỉ tặc lưỡi như thạch thùng phơi lưng đuổi muỗi rằng: Dào, hỏi bài thì thiếu giống, cứ ối ra cả đấy. Vì tôi cũng quen thuộc, chả khác con ong đã tỏ đường đi lối về: Rằng “ẩy” bài vào máy. Bấm nút cái “tách”. Bay “vù” một cái là xong. Mà bài vở có “biến” luôn cũng đành trơ mắt ếch ra thôi, chứ tội vạ gì mà phải cám ơn, cám hấp nhắng cả lên…Rồi thì thư qua tin lại rối cả mắt, rơi lõm tõm như sung rụng, cứ như bèo Tây, bèo ta lan ngập ao nhà và chuyện trái nắng trở trời là cá đâu đớp động dưới chân bèo với chữ nghĩa cứ ríu rít cả lên: “Những truyện H viết thường là có ít những chi tiết thật (do..người khác kể cho nghe), rồi thêm thắt một chút nữa. Nếu anh H. không phiền, có thể cho H coi thêm những bài viết khác không? Còn nếu anh…có gan cho H một cốt truyện (love story) thì H sẽ viết nó thành truyện ngắn ngay”. Đeo cái kính lão, nhóp nhép xong cái điện thư, tôi bèn nhủ thầm cũng “hay” gớm chứ nhẩy, chứ đâu có bỡn. Còn…hay ho gì thì tôi mít đặc, ai rỗi hơi đâu mà bới bèo tìm bọ cho nhọc sức. Tôi nói thật đấy, ngay cả “cô” hay “bà” tôi cũng ngọng. Thôi thì củ hành, củ tỏi cho nó gọn nhà, gọn vườn. Nhắc đến vườn tược lại quên chưa tưới cây, già rồi chỉ nhớ…”quên” thôi. Rõ chán mớ đời…
Nói cho ngay, với truyện tình…tôi có thể viết mỗi ngày dễ như gà đẻ trứng. Đối với tôi viết như một nghiệp dư, như con trâu đeo cái ách nặng chình chịch. Rồi thì cái cầy đặt trước mũi con trâu, lúc nào cũng áy náy lo âu, sợ mình chưa đọc đủ, chưa viết đủ. Chưa viết xong lại bực bội như thể có điều gì oan trái trong bụng dạ, chưa nói ra hết được. Đúng là khi không mang cái ách quàng vào người. Tôi luôn luôn tất bật, nói cho đúng ra thì giời bắt tôi làm văn chương, tôi mê muội vào con chữ, tôi đang…”lao động” văn hóa đấy thôi.
Chẳng dấu gì tôi cũng có dăm bài chường mặt trên báo từ đời tám tỏng nào rồi. Viết cũng muốn có người đọc và hay hoặc dở tùy theo cảm quan của mỗi người. Như…tôi chẳng hạn, thấy có bài sắp được đăng, tôi vẫn cứ bồn chồn thấp thỏm, y như đợi người tình thuở mới lớn biết yêu. Báo có rồi, nhấp nhổm xem bài mình đăng ở đâu. Đây rồi, bài mình viết đây rồi! Thế là tôi bắt đầu nhòm cái tên mình, dòm cái tựa đề mình đặt. Sao mà nó dễ thương quá vậy hở giời! Ngắm chán, rồi bắt đầu đọc. Say sưa. Cảm động. Giời ạ, ông giời có mắt xuống đây mà xem, bài mình viết đây sao? Nhất! Viết như vậy mới là viết chứ. Những con chữ, những chuỗi câu, trôi đi, lướt qua. Càng đọc càng chịu cái tựa đề bắt mắt, thương cách dùng chữ, thương câu này ngắn câu kia dài. Thương từ dấu chấm dấu phẩy cho đến cách xuống dòng. Thương cái ý, cái tình trang trải trên trang giấy. Thương ngay…chính mình những lúc gò lưng cặm cụi gõ mõ, lui cui o bế. Đọc đến một đoạn nào chứa chan con tim khối óc của mình. Gấp báo lại. Nhắm mắt bồi hồi, tận hưởng cảm giác phiêu phiêu, lâng lâng như…cóc say thuốc lào.
Cuối bài, tần ngần ngắm cái bút hiệu già lão của tôi. Không chán. Vâng, tôi đấy. Tôi sở hữu nó. Nó là tôi. Tôi là nó. Ngắm mãi cũng không…mỏi mắt, tôi lật trở lên đầu bài, đọc tiếp. Lại bồi hồi, xao xuyến. Ngày hôm sau, dở ra, xem lại. Tôi mê tôi đến thế thì thôi! Tôi yêu những hình ảnh, ý tưởng mình gầy dựng nên bằng con chữ. Nghĩa là yêu tình cảm của tôi. Nghĩa là yêu cuộc đời tôi. Nghĩa là yêu những nhân vật tôi…bịa ra. Nghĩa là yêu những người tôi từng biết, hay chưa từng…gặp. Yêu những ngõ ngách tâm hồn. Yêu những khuất tất không tỏ. Yêu những bất hạnh. Yêu những đớn đau. Yêu những xúc cảm. Nó là kết quả của một sự cọ xát giữa tôi và cuộc đời. Một vật vã. Một tìm kiếm. Một trăn trở.
Trên kia, tôi có nói không phải tôi yêu tôi mà là yêu văn tôi. Y như thể văn tôi khác tôi. Đúng ra, chỉ là một cách nói. Văn tôi là quái quỷ gì vậy? Chả là tôi hay sao? Nó là của tôi. Thuộc về tôi. Một phần tôi. Là não trạng tôi. Là da thịt tôi. Tóm lại, tác phẩm là một thành phần của bản thân tôi. Tôi xin nói rõ như thế này: Một thành phần của tôi thì…có nghĩa là tôi. Có khi nào cô gì ấy, cô đó tự hỏi: Tôi là ai? Riêng tôi, tôi nhiều lần tự vấn mình bằng một câu hỏi ngớ ngẩn như thế. Một ngày nào đó cô gặp tôi, cô sẽ chỉ thấy tôi là một thân xác hay một vật thể di động: Một sinh vật. Không hẳn chỉ là như thế. Tôi là một hiện hữu. Một hiện sinh. Một thực thể. Bản thân tôi, ngoài cái thể xác này, tôi còn có thể nới rộng tôi ra đến vô cùng, vô ngã. Trên thì va tới tận niết bàn. Và dưới không chừng chạm đến địa ngục cũng nên. Chỉ có giời biết…
Tôi là vậy đấy, thưa cô gì ấy.
Như có túc duyên, cô hỏi tôi…đưa cô một cốt truyện, cô sẽ viết thành truyện ngắn ngay. Bụng bảo dạ cô này cũng đoảng nhẩy, lại cái thói bán anh em xa mua láng giềng gần hoặc giả như bụt chùa nhà không thiêng chi đây. Đã vậy thì cũng dễ thôi, năng nhặt chặt bị đã lâu, vồ được xấp tử vi gần đây của cô. Tôi dàn dựng lên truyện tình của…chính cô là xong tất. Dễ như lấy đồ trong túi, tôi lấy ngay ý tưởng từ phần dẫn nhập, bật ra một cốt truyện rất éo le, rất tình tiết, rất Quỳnh Dao nên chẳng cần động dao động thớt gì nhiều. Vì là dựa trên chuyện có thật, nên văn thể thuộc trường phái…tả chân. Và truyện có cái tựa đề ngắn gọn và trong sáng là: “Một chuyện tình có thật của cái tay, cái chân và cái tay”.
Thoạt đầu tay trái và chân, cả hai không biết nhau vì chúng được sinh ra dưới hai hình thể khác nhau với hai cá tính hoàn toàn khác nhau và sống ở hai thổ ngơi, địa giới cũng khác nhau luôn. Gần đất xa trời thì chân ở dưới và tay ở trên. Tay trái gần với mây xanh cùng trăng sao nên vốn nhậy cảm và ủy mị, thích được vuốt ve, ưa làm dáng cho mượt da nên chẳng thích nắng nôi mấy. Chân ngược lại thích phơi thân ra ngoài nắng gió. thích đi lại khắp nơi, chẳng quan tâm gì đến thân thể của mình và ngay cả với “người’ khác. Tựu chung là ở bẩn không thể tả. Nói chung chân cứng cỏi, thích đi chân đất, thích đạp đất đội trời, mà lại nói ngược là “đạp trời đội đất”. Trời bị đạp, giận quá nên đặt tên là…cái chưn.
Một hôm, tay trái và chân tình cờ gặp và quen nhau trong khoảng thời gian thuở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên. Được gọi là truân chuyên chỉ vì tay học đòi cho bằng được được rằng loài người phân loại tình yêu làm năm kiểu cọ: Một yêu vì mình. Hai là yêu vì người. Ba là yêu cho mình. Bốn là yêu cho người. Năm yêu vì mình, vì người và yêu cho mình, cho người. Thế nên tình yêu này được gọi là tình yêu loạn cào cào châu chấu…
Bắt qua tình yêu loài vật, cùng giòng giống với châu chấu, con bọ ngựa cắt đầu tình nhân sau khi ân ái, cắt đứt sợi giây luyến ái sau hoan lạc, nên còn được gọi là …ngựa trời hay ngực chứng. Hiểu theo nghĩa là…ngựa lắm. Hai con ngỗng quấn với nhau không rời như hai con sam. Chúng hăm hở cạnh nhau có trời gầm chứ chẳng bao giờ chia lìa. Vì chung tình dại dột và ngờ nghệt như vậy nên người đời dậy khôn nhau là…”mặt nghệt ra như ngỗng đực” hay “đực mặt ra như ngỗng iả”. Loại ruồi nhặng hăng say yêu nhau để sinh con đẻ cái cho chật đất, vì vậy mới có câu giời đầy là đông như…ruồi. Còn số ruồi, hiểu theo nghĩa đen là vợ người này đẻ như…ruồi. Ngược với số ruồi, tức lấy vợ không đẻ đái để có con nối dõi tông đường hay đẻ tòan con gái thì được gọi là…số trời!
Có hai chân, ấy là chân trái và chân phải. Học thói người đời cho rằng tình yêu là mù quáng nên…quáng gà, trong u mê tăm tối tay trái chẳng biết chọn chân phía bên nào. Tay trái quáng quàng nhè ngay chân…”trái” làm người bạn đường. Vì ngỡ cùng một phía, yêu nhau thì cùng nhìn về một hướng. Nên sẽ thích nhau ở chỗ năng động, hòa nhập với đời sống trẻ trong những ngày chân ướt chân ráo trên mảnh đất này. Dần dà chúng yêu nhau thật, rồi kết bạn trăm năm. Nên được gọi là…bạn đời. Tuy nhiên chúng vẫn loay hoay cố tìm cách hiểu nhau và sống bên nhau cho hòa hợp, cho đến một hôm, không chịu nổi những điều khác biệt, chúng mới ngồi bên nhau và bắt đầu trò chuyện để tìm hiểu. Tay bảo: “Này, chân vụng về, cứng ngắc quá đấy!”. Vì là thổ cư ở miền dưới, chân trọ trẹ đáp: “Răng nói chi dị rứa. Nói chi rứa tề”. Tay có vẻ giận dỗi, chân đực ra không biết ngọ nguậy như thế nào, bèn giẫm vào tay một cái đau điếng. Tay vùng vằng bỏ đi, chân vẫn tỉnh queo không một lời xin lỗi. Chân than: “Ủa, răng chi đứng đây, rứa tề…”. Tay đau quá bèn giận bỏ nhà đi mấy ngày. Chân đi ra đi vào lẩm bẩm “Bây chừ nơi mô? Biết tính khi mô chừ, người chi dị rứa…!”
Lần khác, chúng lại ngồi bên nhau để tìm hiểu nhau, cố chuyện trò cho ra nhẽ để thay đổi cuộc sống. Chân bảo: “Đổi chi mô”. Tay trả lời: “Nhưng ít nhất cũng nên biết điều, chân nên…vuốt ve tay một chút chứ ”. Chân ậm ừ, lòng thầm nghĩ rằng làm sao có thể làm chuyện kỳ cục ấy được, nên trả lời: “Không biết ba thứ nớ! Rứa, tui không biết nói ra răng”. Chúng vẫn sống với nhau lặng lẽ như thế. Ngày ngày chân lầm lũi đi về chẳng rằng chẳng nói. Riêng với tay, bao nhiêu ngày tháng xoay quanh bếp lửa gia đình, lo toan trong cuộc sống đầy ắp những bận bịu đời thường với chợ búa, cơm nước, giặt quần áo, dọn dẹp nhà cửa. Chúng chẳng có thì giờ cho nhau. Thỉnh thoảng chúng ái ngại nhìn nhau, tay trái e dè khơi lại chuyện cũ. Chân lầu bầu: “Tui như ni đó”. Tay hiểu là chuyện có gì để mà nói, nói mãi cũng thế thôi. Lâu lâu tay gợi ý xa gần thử một số điều tay thích. Chân cho rằng rằng chuyện đã như thế rồi, đổi thay cũng vậy thôi, nên trả lời: “Hồi nớ như ni, bây giờ như nớ”’.
Tay vẫn nói kiểu tay…Chân vẫn không “nghe” kiểu chân…Cả hai chợt bối rối, lẫn lộn không nhận ra mình là tay hay là chân nữa. Chuyện trời chẳng chịu đất, đất chẳng chịu trời là thế. Chẳng qua là chúng dùng hai ngôn ngữ khác nhau. Nào có khác gì chuyện ông Bắc kỳ nọ đi qua nhà hàng xóm bị chó cắn la chói lói, vết cắn rỉ máu hẳn hoi. Nghe tiếng la bải hải, bà hàng xóm đi ra. Bà vừa nhai trầu bỏm bẻm vừa nói với ông rau muống: “Không có…răng. Tui biết con chó ni. Con chó ni cắn không có…răng”.
Từ yêu đương không thật của cái chân, ngôn ngữ tình yêu loài người sau mới có mảng văn chương chữ nghĩa trong sáng là: Yêu chân thật và yêu…chân giả. Ông thiên ở trên cao là cái đầu biết chuyện chân giả, chân thật nên can thiệp vào cái chuyện ruồi bu này vì rằng, một là: Chẳng ai…đi sai đường lạc lối như cái chân. Hai là, mỗi lần cái tay muốn gặp cái chân thì ông đầu phải …cúi đầu xuống.
Bằng vào một ngày đầu năm, làm như chó ngáp phải ruồi, làm như vô tình ông đầu sắp sếp cho tay trái và tay phải gặp nhau. Cả hai tay cho đó là duyên tình.
Vì rằng, một là: Chúng có cùng một hệ lụy và chung một dòng sinh mệnh. Hai là: Vì cả hai có chung một ngôn ngữ. Thế mới chua.
Chua là vì chúng thông tin với nhau bằng mười ngón tay. Vì là tay nên chúng hay mò mẫm sờ mó nhau. Thế mới phiền. Phiền hơn nữa là yêu nhau lắm cắn nhau đau. Tay trái càng ngày càng nhõng nhẽo, ỉ ôi với tay phải đến nhức đầu. Chịu trời không thấu, tay phải dơ tay gãi gãi đầu ra ý nhờ ông đầu suy nghĩ dùm gì mà… ngộ vậy. Ông đầu trả lời: Ấy là duyên…kỳ ngộ.
Vậy là xong, tùy cô nêm, nếm, thêm mắm thêm muối với đắng cay ngọt bùi cho truyện tình của cô. Nhưng tôi chột dạ…vì qua cái điện thư dường như cô muốn…vẽ vời gì đây về tôi với cô thì phải. Cũng từ truyện hai cái tay ở trên, tôi hoang tưởng nếu cô là họa sĩ có hoa tay vẽ chân dung và nhất là tranh khỏa thân, ắt hẳn phải cần có một người mẫu. Tôi có chui từ lỗ nẻ lên đâu để ngồi bó gối hay nằm kềnh ra cho cô múa bút. Thế nhưng người họa sĩ chỉ dùng mắt với cọng bút than để cân, đo, đong, đếm và trải dài mầu sắc trên giá bản vẽ. Tôi không rành ba thứ cọ, mầu và ai chả biết vẽ ma dễ, vẽ người khó, thêm nữa tôi nặng nợ kiến trúc với không gian ba chiều, nên thích là gã nặn tượng với sờ, mó, nắn, véo những gì nổi cộm ngay trước mắt. Nói trộm sau lưng cô ấy chứ, nếu như cô có mặt ở đây, cô có khác gì cục đất sét, tôi sẽ ngâm cô vào nước, tôi sẽ bấu, véo loáng một cái là xong. Đến đây thì tôi ớ ra…Chỉ vì không chừa cái tật hư cấu với hoang tưởng, tự nhiên dựng đứng lên chuyện cô là thợ vẽ và tôi là gã đẽo tượng! Nên bây giờ không biết ai là người mẫu của ai? Thế mới điên cái đầu!
Úi dà…chuyện gì nữa đây? Cứ như chuyện…ma không bằng: Vèo một cái có lời nhắn “Kính mời”… tôi tham dự buổi ra mắt sách Liêu Trai Chí Dị của ông Đàm Quang Hưng. Chó dại từng mùa người dại quanh năm và ngườI đây là tôi, khi không đốc chứng đâm đầu nhận lời…nửa vời và vặn óc ra cái điện thư hâm hâm: “…sẽ cố gắng nhưng không hứa”. Rồi tự trói buộc với câu hỏi ngang phè rằng giữa tôi và cô: Cọc đi tìm trâu hay trâu đi tìm cọc.Lại không có cái dại nào giống cái dại nào, phố vắng chiều hôm đẩy đưa tôi nhổ “cái cọc tôi” lên, đóng bộ lên khuôn đi tìm “trâu” như những cuộc hẹn hò của những năm tháng cũ. Rồi đầu óc cứ nhầng nhầng với thời buổi này ai mà đọc chuyện cáo hóa thành người. Ấy vậy mà ma dẫn lối quỷ đưa đường tôi dẫn xác tới thế mới…ngộ, đợi dài người vẫn chẳng thấy…hồ ly tinh đâu. Mảnh đất ít người nhiều ma này, tôi đụng đầu côm cốp tòan những họ hàng hang hốc nên đành vác…cái chão thừng về. Chiều tối, tôi cho ruồi trâu vo ve trên máy vi tính là không tậu được trâu nên chẳng sỏ được mũi trâu. Tối nhận được dăm hàng của hồ ly tinh…có thật; “Xin lỗi anh H., anh có đến hôm nay mà H không biết để chào đón. Thật ra, vì không biết anh có đến hay không, hơn nữa đâu biết anh là ai mà ra chào? Xin anh thứ lỗi nha”. Ngược đời một nỗi là trâu buộc ghét trâu ăn, vì ngứa sừng non hay sao ấy hoặc giả là trâu mạn ngược trán khoáy tam tinh, nên cô gầm ghè, sinh sự với tôi: “Mà anh H. ơi: Ai bảo anh không hứa mà đến làm chi?”
“Ai bảo anh không hứa mà đến làm chi”…tôi thích nghịch ngợm với chữ nghĩa nên thấy câu viết này lạ lắm! Lạ không biết để đâu cho hết. Mà cái trò nghịch tinh thì hay bị sưng đầu u trán. Thế nên nó cứ vật vã tôi cả tuần sưng u cả cái đầu với ý nghĩ…nói dại chứ có duyên thì sẽ gặp vậy thôi. Vì thế cho đến lúc ấy, cô vẫn chỉ là cái bóng phất phơ bên đường, tôi vẫn ngồi bên quán vắng cùng những đợi mong gặp người. Ngay khỏang thời gian trên, trong tôi chẳng có một hình tượng nào về một khúc quanh, để có những đổi thay cả một quãng đời bóng sế về chiều. Giản dị là tôi chẳng còn trẻ nữa để hòai mong “Bắc Ninh cho đến Phủ Từ – Qua cầu sông Nhị, ngẩn ngơ tìm người” . Vì rằng lúc này đây tôi đang sâu đậm với cụ Hòang Cầm qua lá Diêu Bông, tôi lại mới biết thổ ngơi cô thuộc đất Bắc Ninh, thêm nữa cô lại tuổi trâu ắt hẳn là miệng hay “ọ ẹ” và lững thững thả rong ở đẩu, ở đâu để ăn cỏ. Mà nghĩ cũng lạ cỏ mật rất thơm nhưng trâu không ăn. Sao trâu lại chỉ ăn cỏ gừng cay mà khô, chỉ ăn cỏ cật ráp và ngứa, cỏ nhằng là thứ cỏ dai ngoách?. Tôi nào có khác gì cỏ gừng, cỏ cật, cỏ nhằng ấy là chưa kể …gừng càng già càng cay vì vậy thể nào mà chẳng…gặp. Tôi hoang tưởng đến con trâu bị buộc mũi đang nhai cỏ bỏm bẻm như ăn trầu, dương cặp mắt hiền lành đón chờ…tôi từ lâu lắm rồi. Thế nên nếu có gặp người đây, không ngòai cái ý mời trầu người ơi người ở đừng về qua bài tản mạn tôi viết gửi riêng cô có cái tên Tiếng Hát Tìm Nhau, tôi đẩy đưa “Bao giờ về bên kia sông Đuống – Anh lại tìm em – Em mặc yếm thắm – Em thắt lụa hồng”. Và tôi đưa đẩy “Gần đây mà chẳng sang chơi – Để anh ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu”. Nhưng cầu đâu chẳng thấy, vì lúc này vẫn “Ngày ngày ra đứng mà trông – Bạn thì thấy bạn, tình không thấy tình”.
Cuối tuần ngồi ngòai vườn, tôi mong ngóng…gần đây mà chẳng sang chơi. Cô xăm xăn gửi tôi hàng chữ: “H với anh ở chung một thành phố, nhưng mà lại giống như quan san cách trở, nghìn trùng xa cách’’. Tôi bèn bật ra ý tưởng bê cả cả vườn nhà làm cái cầu qua bài viết cũ để cô hết xa vắng, xa cách.Thả con săn sắt bắt con cá rô biết đâu qua cái tình tri ngộ với chữ nghĩa, một ngày nào đó cô sẽ…lạc vườn đào. Chuyện nước ao mà vỗ lên bờ là vậy nhưng cô vẫn…đào hoa lạc khứ? Sau đấy ngày qua tháng lại rồi qua một khúc quanh khác: “H sang Cali từ ngày 24 đến 30, về lại hai ngày. Thứ bẩy là đi Puerto Rico đến ngày 12 tháng 6. Nhớ điện thư, H đi về sẽ có….nhiều chuyện kể anh nghe”. Và cô kể cho tôi: “6- 6-200 sáng sớm lang thang trên bong tầu, chụp được mấy tấm hình mặt trời mọc sau dẫy núi ở St. Lucia. Đẹp tuyệt vời, làm H chợt nhớ tới vườn nhà anh.” Và cô tiếp “Anh H. ơi…Ai bảo anh khoe vườn nhà làm chi cho có người ra biển mà lại nhớ vườn nhà anh. Gởi một lời….chào từ St. Lucia”.
Thêm một lần con mắt lợn luộc của tôi nhìn câu văn biển ngẫu muốn…lòi mắt ra! Vì câu viết này lạ lắm! Lạ hết biết ở chỗ cô có bao giờ đến nhà đâu mà để quên với nhớ…cái vườn.Ấy đấy, cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Nhìn đồng hồ mới bẩy giờ sáng tôi hình dung ở chân trời góc biển nào đó, cô đang ngẩn ngơ đi đi lại lại trên boong tầu và buồn tình nhìn biển làm thơ: “Làm thân con nhện mấy lần vương tơ – Đi ngẩn về ngơ...” và ..nhớ. Nếu cô nhớ ai như nhớ thuốc lào…thì tôi đâu có thua cô, đêm năm canh ngày sáu khắc cùng những lây lất phập phồng đợi mong cô hồi cố quận với “ Nhất chờ, nhị đợi, tam mong – Tứ thương, ngũ nhớ, lục mong, thất bát cửu…chờ ”.
Cùng những đổi thay ở một khúc quanh vào tháng sáu…Tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt ướt đẫm những dây dưa hệ lụy. Chuyện dây mơ rễ má là đàn bà con gái ai nấy chẳng có ông thầy bói ngồi đồng bên cạnh, không eo sèo nhân thế buồn nhiêu hơn vui, thì đâu đó cũng vẽ đường cho hươu chạy tứ phương tám hướng mà cô đã ngậm ngùi kể lể trước khi đi biển cho tôi nghe vào một ngày mưa mù trời thối đất: Chuyện cô gửi gấm theo mưa gió nằm trong cái khỏang thời gian đất khách quê người tha hương ngộ cố tri. Loanh quanh cũng chỉ hữu duyên thiên ly năng tương ngộ hay vô duyên đối diện bất tương phùng…Vậy mà ông Vũ Tài Lục đoán đúng mới thần kỳ. Mới chân ướt chân ráo hai ngày, sau khi cô đặt chân lên cái đất tạm dung này. Đang lạ nước lạ cái thì gặp…”người ấy” ở phi trường. Gặp, chưa kịp biết gì, hình như chưa kịp mê say là gì. Tưởng là yêu, lấy, nhưng đó không phải là tình yêu và vẫn phải sống với nó. Sống với cái ý nghĩ rằng chưa yêu, rằng sẽ không yêu và suốt đời sẽ không biết thế nào là tình yêu. Nhưng phải sống với nó mãi mãi, đấy cũng là nỗi khổ. Tôi vừa lắng nghe vưà nhíu mày nắm bắt được tiếng buông thõng xa vời gọi chồng là…“người ấy”.
Để rồi chẳng cần là thầy bói, tôi cũng lần mò cuộn chỉ rối tìm thấy cái nút thắt gần nửa đời người cô và tẩn mẩn tháo gỡ nhũng sợi tơ trời rối ren như mớ bòng bong…Nhưng khổ một nỗi mắt mũi kèm nhèm như gà lên chuồng, đủng đoảng thế nào, tôi nhìn sợi chỉ rối ra sợi…tơ hồng mà người đời vẫn thường buộc tay buộc chân với nhau. Tháo hết cuộn chỉ, quẳng cái lõi vào một xó, tôi để cái đầu não tình bay bổng, tưởng tượng khuôn mặt cô có cái buồn lan đến từng cọng cỏ với cỏ hoa lạc lối về một nẻo đường trần: “Vấn vương với sợi tơ trời – Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan”. Cũng vào ngay cái lúc tôi đang quấn quýt với cụ Hoàng Cầm mờ người cùng niềm thương nỗi nhớ của cụ “Bông cúc vàng nở ra bông cúc tím – Em lấy chồng rồi yếm trả lại anh”. Và rồi như không có thật cùng ít lâu sau chẳng hiểu khôn nhà dại chợ hay ông tơ bà nguyệt súi bẩy, cô nhè gửi cho tôi một tấm hình mặc áo tắm sau khi đi biển về. Ngắm ngấn ngực trắng ngần, tôi cứ khao khát một nỗi niềm qua lớp lụa mỏng, theo nhịp thở “Ngực yếm phập phồng hoa cau bưởi mướt”, tiếp đến là “Đã phanh yếm mỏng thì quăng hết – Những nếp xiêm hờ giả bộ ngây”.
Từ đấy tôi mới có truyện viết tay này gặp tay kia, buồn tình tôi dơ tay gãi gãi đầu ra ý nhờ cái đầu suy nghĩ dùm gì mà…ngộ vậy. Cái đầu bèn trả lời dùm tôi là duyên…kỳ ngộ. Rồi từ khi khi nghe đến tử vi đẩu số, bụng dạ tôi cồn cào lao xao với chuyện tình kể trong giờ ăn trưa. Dậu đổ bìm leo, tôi bèn kể cho cô nghe về một cô bạn gái có một đời chồng ngọai quốc và đứa con lai về đây cả tháng, ngày rộng tháng dài với gió heo may nên tìm thầy xin một quẻ, thầy dậy ngày mai có làm đám cưới cũng không thành mà không thành thật. Hóa ra trong bài viết này, có một cái móc xích là…ông thầy bói, là cái gạch nối với định mạng đã an bài. Ngặt một nỗi lại có mặt thêm mấy…nhà tâm lý học, phân tâm học vì họ cho rằng đàn ông khác đàn bà ở chỗ đàn bà đi tìm cái không có, còn đàn ông an phận cái đang có. Họ dậy khôn qua sách vở với chuyện của tôi và cô lúc này là đang “trải nghiệm” với tình yêu ảo, bỗng chốc sẽ vướng mắc vào tình yêu thật lúc nào chẳng hay. Nhưng đó là chuyện sau…
Tiện đây, tôi chẳng muốn cô chuốc vạ người, tôi muốn dọ dẫm cô rằng cô đã đọc qua những truyện ngắn của tôi, chẳng cần nằm trong chăn mới biết chăn có rận, cô biết tôi có cả chục cuộc tình. Nói dại chứ cô không chán như nếp nát hay tởn đến gìà sao mà tếu táo nhẩy bổ vào đòi thổi cơm chung. Lúc này, cô đang bị tôi bắt cóc bỏ đĩa, cô nhấp nhổm gửi tôi dăm hàng: “Nhớ lại chuyện lúc bắt đầu mới quen anh, là nguời lạ hoắc mà H không biết tí gì. Nhưng mà lúc đầu H rất là…vô tư, đâu có nghĩ sâu xa gì đâu, ai ngờ….! H tuy vậy mà cũng nhát gan. Kể ra H cũng gan thật.”. Cô đúng là gan cóc tía, vì vậy ít nhất một lần tôi đã chẳng dấu cô rằng tôi là người hoang đàng. Không hẳn chuyện gì tôi cũng kể cô nghe! Cô đâu có ngờ…tôi ăn mẻ bát gẫy đũa với cô bé người làm bé lũn chũn qua truyện Một Ngày Trong Đời:
“….Về đến nhà thấy cái Mít và chị bếp đang ngồi bàn ăn cơm, hắn nhào vào càn quét hai, ba bát cho xong bữa. Lúc này hắn mới để ý cái Mít kỹ hơn, đập vào mắt hắn là cái Mít có nước da trắng cực kỳ, không trắng như cùi bưởi mà tai tái, nhợt nhạt làm sao ấy, trong lúc còn đang nhức nhối sao dân “nẫu” lại có nước da trắng dữ thần vậy, thì bỗng hắn thấy có bàn chân ai đó đặt lên chân hắn. Hắn ngồi ngây ra không hiểu ngô khoai gì sất cả, nhưng nghĩ ngay đến cái Mít với con mắt có đuôi, đang làm như ngó lảng đâu đâu. Hắn đảo mắt lướt qua cánh tay trần, lông vàng như rơm khô, cái nào cái nấy tua tủa dựng đứng như lông nhím để tự nhủ thầm, không hiểu con bé chết đâm này tính giở quẻ gì đây. Một lát sau hắn thấy ngón chân của ai đó gãi gãi lên mu bàn chân hắn, như mèo rình chuột, hắn nhìn trộm cái Mít lần nữa, vẫn thấy cô ả tỉnh như con ruồi, như không có gì sẩy ra trên cõi đời xô bụi này. Và bây giờ ngón chân không còn gãi nữa, mà lòng bàn chân như ve vuốt, nhè nhẹ mơn trớn…”
