Tú Bà dạy Thúy Kiều tiếp khách như thế nào?

NGHIÊN CỨU, SƯU TẦM VỀ NGUYỄN DU, TRUYỆN KIỀU VÀ THƠ NÔM

Tú Bà dạy bài học căn bản về tình dục cho Kiều như sau :

Mụ rằng: “Ai cũng như ai,

Người ta ai mất tiền hoài đến đây?

ở trong còn lắm điều hay

Nỗi đêm khép hở nỗi ngày riêng chung

Này con thuộc lấy làm lòng

Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề”

( truyện Kiều – Nguyễn Du – Câu 1205 đến 1210 )

vậy 7 chữ – 8 nghề là gì?

“Vành ngoài” là bề ngoài, tức là cách đối xử bên ngoài với khách. “Bảy chữ” là bảy việc ghi bằng chữ để dễ nhớ. Bảy chữ là:

1. Khấp: khóc tỉ tê làm cho khách xúc động thương xót.

2. Tiễn: giả cắt tóc thề nguyền để khách tin.

3. Thích: viết tên khách vào tay mình giả ý thương yêu.

4. Thiêu: đốt hương thề nguyền với khách

5. Giá: hẹn hò lấy khách làm chồng, giả xin làm vợ lẽ

6. Tẩu: rủ khách đi trốn giả như giữ lòng chung thuỷ

7. Tử: giả liều chết để khách khuyên ngăn.

Một hôm,Tú bà nói với Thúy Kiều:

– Con ạ . Tên con là Vương Thúy Kiều, nay phải đổi là Mã Kiều. Nếu có khách đến mà con chẳng biết gì cả thì làm thế nào mà giữ được khách lại? Phỏng có lưu được, chỉ tổ để họ cười cho mà thôi.

Thúy Kiều nói:

– Ăn nằm thì cũng đến ăn nằm như thế, chẳng lẽ lại còn kiểu cách gì nữa?

Tú bà cười nói:

– Con ngốc này! Nếu nhà gái đĩ cũng như những nhà lương dân thì còn ma nào đến đây chơi nữa? Trong đó còn có nhiều cái thú để mẹ thong thả giảng cho con nghe, con cần phải nhớ vào lòng cho kĩ! Này nhé! Nếu khách chè chén xong, sắp lên giường, mình phải nhường khách nằm trước vào phía trong, mình nằm ngoài, mặt phải quay vào phía khách, giang tay ra cho khách gối đầu. Sau đó khách nhất định sờ mó khắp người con, thì con cũng đưa tay sờ bộ hạ của họ.

nếu cậu nhỏ, ngắn thì mình dùng phép:“Đánh trống giục hoa”;

nếu to, dài thì mình dùng phép: “Sen ròng khoá xiết”.

nếu người cấp tính thì dùng phép: “Mở cờ đánh trống”.

người tính hoãn thì dùng phép : “Đánh chậm gõ sẽ”.

người không dai sức, dùng phép : “Đỡ dần buộc chặt”.

người dai sức, dùng phép : “Gắn bó truy hồn”

người mê sắc thì dùng phép: “Dềnh dàng cướp vía”.

( 7 chữ vành ngoài là thủ thuật tâm lý như phải biết nói năng, ứng xữ, thù tiếp, vuốt ve, khiêu gợi )

“Tám nghề” là cách ân ái với khách, chung đụng nhau và tuỳ từng tính cách của mỗi đối tượng, để làm cho khách khoan khoái về nhục dục. “Tám nghề” là:

1. Tiếp người nhỏ bé thì dùng cách “kích cổ thôi hoa”

2. Tiếp người to béo thì dùng cách “Kim liên song toả”

3. Tiếp người nóng vội thì dùng cách “đại xiển kỳ cổ”

4. Tiếp người chậm chạp thì dùng cách “mạn đả khinh khao”

5. Tiếp người mới thì dùng cách “khẩn khuyên tam trật”

6. Tiếp người thạo đời thì dùng cách “tả trì hữu trì”

7. Tiếp người si tình thì dùng cách “toả tâm truy hồn”

8. Tiếp người lạnh lùng thì dùng cách “nhiếp thần nhiệm toả”

Quả thực “nghề chơi cũng lắm công phu”!

Thế là tám nghề, kể ra cũng còn nhiều phép nữa, nhưng đại khái cũng không ra ngoài tám phép này. Sau khi luyện xong công phu về chăn gối rồi thì phải học đến những mánh khoé thường dùng hàng ngày. Mánh khoé :

– Thứ nhất là Khóc. Tiếp được khách có tiền ở lại ít lâu, lúc họ định ra về, thì mình phải khóc:

“Tình lang ơi! Sao chàng nỡ bỏ thiếp mà đi cho đành”.

– Giả cách nũng nịu ngây thơ quyến luyến không rời xa, thì khách dù có gan dạ cứng rắn như thế nào cũng phải ở lại. Hoặc có khi gặp tay lõi đời, họ tất nói:

“Nàng ở đây, khách đến khách đi luôn luôn thì làm sao mà lưu tình cho hết được. Ta với nàng chẳng qua là gặp thú thì chơi mà thôi, nàng coi thế nào như thật được”.

Thế thì mình phải nghẹn ngào khóc rằng:

“Thế mới biết đàn ông cay độc thật. Đừng nói đôi ra tương đắc, quyến luyến không rời, dù cho một cục đá, ôm lâu thì cũng nóng nữa. Thiếp khách tuy nhiều, nhưng chung tình có một, thiếp thật là quyến luyến không nỡ rời chàng”.

Thế rồi hai hàng nước mắt tầm tã chứa chan thì dù người sắt tất cũng phải mềm, mà không thể dứt lòng ra đi được!…

Thúy Kiều hỏi:

-Nếu không có nước mắt thì làm thế nào?

Tú bà cười nói:

– Có khó gì đâu! Giã gừng sống vắt lấy nước, tẩm vào khăn tay đem lau mắt thì nước mắt sẽ chảy ra như suối tràn… Thứ hai là Xén. Khách ở lâu có ý mê mình thì mình phải tính kế để lấy lòng khách. Sợ khi bạn bè khách có kẻ thấy hai người yêu nhau muốn phá đám thì mình với khách phải bảo nhau cùng xén một ít tóc, trộn lại làm một mớ, rồi chia làm đôi, mỗi người buộc một nửa vào cánh tay để tỏ ra ý muốn kết tóc, tất nhiên khách cho mình là có lòng thật mà không nỡ rời.

– Thứ ba là Thích. Hai bên đã tương đắc, tất phải dùng đến ngón mạnh hơn để buộc lấy lòng khách. Mình phải hoặc ở cánh tay, hoặc ở bắp chân, dung kim thích mấy chữ “Chồng tên là Mỗ…Mỗ”, rồi lấy mực xoa vào, khiến rửa không sạch ngấn, để khách trông thấy, sẽ cho là mìn!h riêng chung tình với khách, tất khách phải mắc mưu chết mê chết mệt với mình. Nếu khách ấy đi rồi, có khách khác đến sau thấy vậy, tất phải nghĩ ràng:

“Không biết người ấy người nọ đối đãi với cô ta thế nào mà cô phải quyến luyến như thế”.

7 chữ vành ngoài là thủ thuật tâm lý như phải biết nói năng, ứng xữ, thù tiếp, vuốt ve, khiêu gợi để ái ân thỏa mãn

TÌNH DỤC CỦA NÀNG KIỀU – Sau tình đầu với Kim Trọng, những người tình đến sau đều được Thúy Kiều thỏ thẻ tâm sự :

Thiếp như hoa đã lìa cành, chàng như con bướm lượn vành mà chơi hay Rộng thương cỏ nội hoa hèn, chút thân bèo bọt dám phiền mai sau. Và khi đã yêu ai thì đối với người đàn ông nào đã đi qua đời nàng cũng say đắm nồng nàn, cũng nhớ nhung quay quắc, cũng nồng nhiệt hợp tác.Mối tình đầu với Kim Trọng nhẹ nhàn và thanh thoát nhưng với Thúc Sinh sau khi nàng nếm trải qua những biến cố thăng trầm của cuộc đời và tình dục thì lại khác hẳn. Một chấn thương về mặt tâm lý của nàng Kiều,môt phụ nữ khi thất thân lần đầu tiên với một người không yêu :

Mã Giám Sinh – Thô bạo và tàn nhẫn Mã Giám Sinh đã đi vào đời sông tình dục của Kiều như một trò chơi không hơn không kém : Thỏa mãn tình dục và chấm dứt cuộc giao hoan

Đêm xuân một giấc mơ màng

Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ

Sau khi : Màu hồ đã mất đi rồi, Tú Bà đã sỉ nhục Kiều như sau :

Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao

Tâm trạng của nàng là : Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình

Tàn bạo và bỉ ổi khi Kiều bị bắt buộc phải khỏa thân trước mặt đông người

Cởi xiêm, lột áo chán chường

Trước thần sẽ nguyện mãnh hương lầm dầm

Dần dần trong kiếp đời cùng quẫn nàng đã chấp nhân làm gái lầu xanh

Dẫu sao bình đã vỡ rồi

Lấy thân mà trả nợ đời cho xong

Vấn đề tình dục và mục đích của nó được Tú Bà xác định với Kiều một cách rõ ràng

Nghề chơi cũng lắm công phu

Làng chơi ta phải biết cho đủ điều

hay là :

Ở trong còn lắm điều hay

Nỗi đêm khép mỡ…

Này con thuộc lấy nằm lòng

Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề

Chơi cho liễu chán hoa chê

Cho lăn lóc đá cho mê mẫn đời

Khi khóe hạnh khi nét ngài

Khi ngâm ngơi nguyệt khi cười cợt hoa

Điều là nghề nghiệp trong nhà

Đủ ngần ấy nếp mới là người soi

Tại sao Tú Bà lại nói với Kiều phải học thuộc lòng: ” Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” vì đó là nghệ thuật sống để đạt được khoái cảm trong hoạt đông tình dục, không phải riêng Kiều và các cô gái bán phấn mua hương mới đươc biết tới các phương pháp và thủ thuật này, mà ngay những nàng cung nữ hay những phụ nữ muốn gữi gìn hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng, muốn thăng hoa trong cuộc sống lứa đôi, muốn tránh những tình trạng không đồng bộ trong hoạt động tình dục với người hôn phối cũng nên để ý đến, vì bản chất nó không phải là điều xấu, xấu hay không là nó thực hiện với ai và với mục đích nào

Trong đời sống vợ chồng bao gồm hai yếu tố ; Tình Yêu và Thân Xác

Thân xác : Trong Truyện Kiều Nguyễn Du gọi nôm na là vành trong, đó là các tư thế giao hợp căn bản mà cả người vợ lẫn ngưới chồng phải biết đến, nếu không thì e rằng sẽ có những trục trặc trong quan hệ

Tám tư thế đó đã được nhắc lại rất nhiều lần trong các sách nói vể tính dục, trong các sách cẫm nang, sách nói về hôn nhân thai nghén, trong các tác phẫm của Kinsey, Master-Johnson, Reuben , Tracey Cox, Ruth K Westheimer…và ở một số sách bằng Việt ngữ

Đó là 8 tư thế cơ bản mà trong sách Tố Nữ Kinh chép là chính thường vị , thân triển vị ,cao yêu vị,khuất khúc vị, nữ thượng vị,phản vị, kỵ thừa vị và ngọa chiếu vị và từ các vị thế này đã biến thễ ra nhiều kiễu nhiều dạng trong mục đích tránh thai hay điều trị vô sinh,bao gồm nhưng phương vị như Tự trù mâu (Quấn quít, nam nữ quyện lấy nhau).Thân khiển quyển(Nam, nữ thân mật nắm tay nhau vuốt ve.) Bạo tự ngư, Kỳ lân giác,Toản mặc cẩm, Long uyển chuyển, Ngư tỉ mục,Yến đồng tâm, Phỉ thuý giao, Uyên ương hợp, Không phiên diệp,Bối phi cưu, hoàng ngạc túc, Mã dao đề, Bạch hổ thắng, Côn kê lâm trường, Miêu thử đồng huyệt…..

Còn 7 chữ vành ngoài là thủ thuật tâm lý như phải biết nói năng, ứng xữ, thù tiếp, vuốt ve, khiêu gợi đễ cho

Biết bao bướm lả ong lơi

Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm

Dập dìu gió lá cành chim

Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh

Và khách làng chơi thì Trăm nghì n đổ một trận cười như không

Hoài niệm về một quá khứ nhưng Kiều vẫn chấp nhận số phận hiện tại và nàng cũng cảm nhận trong tình dục cũng vẫn có một cái gì đó

Xót mình cửa các buồng khuê

Vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay

Một là :

Khéo là mặt dạn mày dày, càng treo giá ngọc,càng cao phẫm người…Sớm đưaTống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh…

Hài là : một cuốc sống thác loạn

Biết bao bướm là ong lơi, cuộc say đầy tháng trận cười thâu đêm…khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, khi gác gió khi trăng sân, bầu tiên chuốt rượu câu thần nói thơ, khi rượu sớm khi trà trưa, bàn vây điễm nước, đường tơ hòa đàn, mệt mê trong cuộc truy hoan….

Cảm nhận một cách chua xót thân phận của mình trong các hoạt động tình dục với khách làng chơi :

Mặc người mua Sở mây Tần, những mình nào biết có xuân là gì và

vui là vui gượng kẻo là, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Còn đối với tình nhân thì sao :

Với Thúc sinh nàng đã gắn bó, nồng nhiệt hợp tác trong cuộc truy hoan : Hương càng đượm lữa càng nồng, càng xuê vẻ ngọc càng lồng màu sen

Còn đối với Từ Hải : Hai bên ý hiệp tâm đầu,phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cởi rồng, nữa năm hương lửa đương nồng….Vinh hoa bỏ lúc phong trần, chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày

Bản chất của Thúy Kiều là một người trong sáng, nhạy cãm và dể tin, một người phụ nữ với một khác vọng tình cảm và ước mơ muốn vươn tới cái đẹp cái dáng sống nhưng trong niềm tuyệt vọng cùng cực có lúc nàng đã quyên sinh

Ê chề với những cuộc truy hoan trong qua khứ, nhưng khi gặp lại người tình đầu, nàng vẫn giử riêng cho mình một cỏi sống khác mà trong đó những nhọc nhằn va chạm, uốn éo về tình dục quá thực tế, phủ phàn sẽ phá nát cái thế giới mờ ào lung linh cái thế giới : Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh, ấy hồn Thục dế hay minh đổ quyên

Nguyễn Du đã thể hiện cái tài hoa của mình qua tác phẩm Truyện Kiều và minh định ranh giới rõ ràng giũa tình yêu và tình dục

__________________________________________

BÀI HỌC TÚ BÀ DẠY CHO KIỀU

Truyện Kiều là một câu chuyên của một cô gái ba chìm bảy nỗi, gần như hầu hết cuộc đời của nàng ở nơi chốn lầu xanh, một câu chuyện pha khá nhiều màu sắc tình dục cũng giống như Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu viết về một nàng cung nữ chỉ khác nhau ở chổ Kiều một cô gái lầu xanh phục vụ cho nhiều khách làng chơi trong khi nàng cung nữ thì chỉ dành riêng cho một đấng quân vương

Trong bài học mà Tú bà dạy cho nàng Kiều Nguyễn Du đã viết

Này con thuộc lấy nằm lòng

Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề

Chơi cho liễu chán hoa chê

Cho lăn lóc đá cho mê mẫn đời

Để viết một kịch bản như thế chắc là Nguyễn Du khó có thể bỏ qua mà không tham khảo một tác phẫm về tình dục cổ điễn nỗi tiếng của Trung Quốc là Tố Nữ Kinh

Trong một cuốn sách Truyện Thúy Kiều hiệu khảo của Bùi Kỷ và Trần trọng Kim, trong phần chú thích thì hai ông này cũng chỉ ghi: Tám nghề là tám cách chơi, trong bản Kiều chữ có dẫn rõ ràng, nhưng vì tục lắm cho nên không thích vào đây

Trong Tình Sử Vương Thúy Kiều của Mộng Bình Sơn – Kim Thánh Thán ghi theo bàn Phong Tình Cỗ Lục thì chỉ ghi là Tú bà dạy cho nàng Kiều bài học về các món ăn chơi chứ không thấy ghi rõ 8 nghề đó là gì

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính nhà Xuất bản văn hóa thông tin 2002 chỉ viết như sau: … tuỳ theo tính cách của khách mà dùng nghề cho thích hợp, tám nghề này tục tỉu nên 205 chữ mô tả cách chơi trong bản Kim Vân Kiều truyện in lại gần đây ở Trung Quốc đều đã lượt đi

Trong hai quyển do nhà Xuất Bản Đà Nẳng, quyễn Truyện Kiều Tập Chú thì các tác giả Nguyễn Văn Anh, Bùi Khánh Diễn và Phạm Kim Chi mà trong bài trước có trích dẫn. Pham Kim Chi viết rằng trong Thanh Tâm Tài Nhân chép:

” những người dương vật đoản, tiểu thì dùng phép Kích cổ thôi hoa (đánh trống giục hoa) người trường đại dùng phép Đại triển kỳ cô (mở tung cờ trống) người tính huỡn dùng phép Kim liên song tỏa (sen vàng khóa chặt hai vế) Người xuất tinh sớm dùng phép Màn đã khinh xao (chậm đánh khẻ rung) dùng phép Khẩn soan tam trật (ôm chặt ba chân) người chơi nhây thì dùng phép Tả chi hữu trì (tạy mặt ôm, tay trái giữ) Người hay giỡn hớt dùng phép Tả tâm truy hồn (khóa lấy tâm, theo dõi thần hồn) Người tham sắc dùng Nhiếp thần siểm tỏa (thu hết tinh thần làm ra vẻ dún dẩy)

Thử tìm trong cuốn Thanh Tâm Tài Nhân mà tôi có không có đoạn này.

Trong một cuốn Truyện Kiều dịch ra tiếng Pháp (Kiều – Traduit du Vietnamien – troisieme edition – HaNoi 1979 thì người dịch cũng dịch Ma fille , tâche de les savoir tous par couer, les sept maniereres de seduire, les huit fascons d’aimer mà không kèm lời chú giải fascons d’aimer cũng được hiểu như một tư thế hành lạc mà thôi.

Còn một vô số sách khác nhất là các sách chú giải giáo khoa thì các tác giả cố tránh giải thích vấn đề này hoặc sao chép của các tác giả trên.

VÀNH NGOÀI BẢY CHỮ bao gồm các kỷ năng lối kéo khách làng chơi như :

1. Khốc: Có nghĩa là khóc, dùng nước mắt để tranh thủ lòng thương cảm của khách làng chơi. Phải khóc lóc như thật để chứng tỏ mình thành tâm, thiệt ý. Tú bà đã dạy Kiều dùng nước gừng sống tẩm vào khăn tay để lau nước mắt thì nước mắt sẽ không khô mà còn tuôn ra như suối.

2. Tiễn: Có nghĩa là cắt. Rủ khách cùng mình mỗi người cùng cắt một mớ tóc, kết thành một sợi rồi chia cho nhau buộc vào hai cánh tay, làm lễ “kết tóc” biểu tỏ thủy chung bền chặt, khách sẽ tưởng là mình chân thành mà không nỡ bỏ.

3. Thích: Có nghĩa là đâm, chích. Lấy cây trâm chích vào cổ tay hay trên bắp đùi mấy chữ “Thân phu mỗ nhân” (người chồng thân yêu tên là mỗ), khách thấy vậy càng thêm yêu quý, tin tưởng ta.

4. Thiên: Có nghĩa là đốt, dùng hương đốt vào sáu huyệt của chàng và nàng. Sau khi thề thốt, cả hai áp người vào nhau cùng đốt các huyệt trên bụng, trên cánh tay, cổ tay. Mánh khóe này thuộc phạm vi “khổ nhục kế”.

5. Giá: Có nghĩa là cưới hỏi làm vợ chồng. Sau khi điều tra biết khách là kẻ giàu có thì thủ thỉ, rủ rê, bàn chuyện cưới nhau. Tất nhiên khách muốn cưới thì phải bỏ ra một số tiền lớn để chuộc mình ra. Khi đã xài hết tiền thì tìm cách lật lọng để đuổi khéo khách đi.

6. Tẩu: Có nghĩa là chạy. Đây là kế “đà đao”. Nếu thấy dan díu đã lâu, khách hết tiền, muốn chuộc không có tiền mà muốn chơi cũng không còn tiền đâu chơi tiếp thì chỉ còn cách tống khứ khách đi cho rảnh. Lúc ấy phải giã vờ rủ khách đi trốn, hẹn giờ hẹn chỗ nhưng không đến, đánh tiếng cho lính đi bắt kẻ bỏ trốn, thế tất khách phải sợ mà trốn thật.

7. Tử: Có nghĩa là chết. Chết giả chứ không phải chết thật. Thề thốt cho họ tin là mình yêu họ, chỉ biết có họ thôi, nếu không tin thì chết ngay tại chỗ, trước mắt cho chàng thấy. Nếu biết y có thê thiếp rối, không thể lấy mình được thì càng làm già đến độ rủ y “cả hai cùng chết hơn là chẳng lấy được nhau!”. Lúc đó, có tán gia bại sản, đem hết bạc tiền ra dâng cho mình, y cũng không tiếc

Mây Mưa

VÀNH TRONG là nghệ thuật chăn gối, gồm những động tác, tư thế tạo khoái cảm nhục dục cho khách làng chơi, theo thư tịch cổ thì Tam Thập Pháp mô tả những vị thế rất cơ bản trong sinh hoạt tình dục lấy sự khoái cảm làm mục đích chính

Có hai YẾU TỐ để lý giải câu hỏi này

1/ Thế nào là 8 tư thế cơ bản

2/ Biến thể của các tư thế cơ bản đó

Thế nào là 8 tư thế cơ bản

Khi tìm cách giải thích chúng tôi dựa vào các thư tịch cổ và đối chiếu lại với các hiểu biết khoa học hiện đại

Trước hết cần có môt khái niệm về Dịch lý. Dịch đã định nghĩa như sau : Dịch là sự thay đổi, vạn hữu vũ trụ nằm trong một qui luật duy nhất là sự vận động không ngừng, chuyển biến cả thời gian và không gian, chuyển hóa cả các vật vô cùng nhỏ bé đến những vật vô cùng lớn.

Dịch hữu Thái Cực, thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái định cát hung, cát hung định đại nghiệp.

Thái Cực diễn tả ý niệm tuyệt đối, vũ trụ, vạn vật đệ nhất thể.

Lưỡng Nghi là tương đối gồm hai thể đối đãi lẩn nhau như Âm Dương, Trời Đất…

Tứ tượng là bốn thể, tượng trưng cho bốn mùa, bốn phương. Bát Quái sinh ra từ Tứ Tượng, 8 quái này là cơ bản cho sự biến hóa của vũ trụ.

Bát quái tiên thiên

Bát quái hậu thiên

Tám quái này là tám hướng: đông tây nam bắc, chính đông chính tây chính nam và chính bắc, tám quái này cũng là ý niệm Nội Ngoại, Thượng Hạ, Tả Hữu và Tà Khuynh Hữu Khuynh và cũng là tám tư thế cơ bản của mọi vật trong không gian và thời gian, đó cũng là tám tư thế cơ bản bao gồm các tư thế đứng, ngồi, nằm, quì, co, duỗi, nghiêng, ngữa hay là 8 tư thế gồm: Chính thường vị (tư thế nam trên nữ), thân triển vị ( tư thế chân duổi thẳng ), cao yêu vị (tư thế lưng ngữa cao), khuất khúc vị (tư thế co người lại), nữ thượng vị (Tư thế nữ trên nam) kỵ thừa vị tư thề cỡi) và ngọa chiếu vị (Tư thế nằm nghiêng) dược ghi trong sách Tố Nữ Kinh

Biến thể của các tư thế cơ bản

Từ Bát Quái sẽ sinh ra 64 quẻ và tư dó có thể biến thành vô số thể với các con số là 8 , 16 , 32 , 64 , 128…..Như vây thì các biến thế của 36 hay 72 kiễu của phương tây cũng chỉ là biến thể của 8 tư thế cơ bản xuất phát từ thuyết vạn vật đệ nhất thể của Dịch lý đông phương. Nếu so với các tư thế trong Kamasoutra (Kamasutra Portraits & Nudes Gallery http://artas.com/art-shop/kama/gn01.html ) phong phú hơn nhiều.

Từ các thế này sẽ cho những biến thế sau:

Kích cổ thôi hoa, Đại triển kỳ cô, Kim liên song tỏa, Màn đã khinh xao, Khẩn soan tam trật, Tả chi hữu trì, Tả tâm truy hồn, Nhiếp thần siểm tỏa, Tự trù mâu Thân khiển quyển, Bạo tự ngư (tư thế cong như con cá nhảy vượt), Kỳ lân giác (Tư thế cong người như sừng kỳ lân), Toản mặc cẩm (tư thế ôm cổ), Miêu thử đồng huyệt (mèo chuột cùng hang)….

Mỗi tư thế sẽ áp dụng cho mỗi loại khách, mỗi loại nguời, cũng tùy theo khách là người nhỏ yếu hay lớn con, dai dẳng, người nôn nóng, sôi nổi, hay bất lực liệt dương hay xuất tinh sớm cũng đều có thể theo 8 tư thế cơ bản rồi biến thế ra mà giao hợp.

Vì thế 8 chữ vành trong là 8 tư thế cơ bản rút ra từ Dich lý. Bát quái đúng hơn là cách mô giải thích các biến thể của nó

Tú Bà đã nói với Kiều như sau :

Khi khóe hạnh khi nét ngài

Khi ngâm ngơi nguyệt khi cười cợt hoa

Điều là nghề nghiệp trong nhà

Đủ ngần ấy nếp mới là người soi

Dạy cho nàng Kiều biết phối hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo pha lẫn với nỗi đam mê, tình yêu và nghệ thuật chăn gối của 8 tư thế cơ bản, quả thật Tú Bà là môt bực thầy trong tình dục học hay nói một cách khác là tác giả của truyện Kiều là một người có một sở học uyên bác từ nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề tình dục, mà quyển Tố nữ Kinh cũng có thể là tài liệu cho ông tham khảo khi viết một tác phẩm có giá trị lưu lại ngàn năm cho hậu thế.

BS HỒ ĐẮC DUY

*Bài do CTV/TVBH gởi.

Bài Mới Nhất
Search