04/30/2017
Như Thương: Trường thi: LỤA ĐÀO SẮT SON

 Kính dâng hồn thiêng dân tộc trong buổi mệnh nước ngả nghiêng

Kính tặng những Cái Cò chinh phụ lặn lội tìm chồng phương Bắc

Kính dâng Mẹ – Kính tặng Cha

 Hinh Me (Lua dao sat son)

Người thiếu phụ “Lụa đào sắt son”

(Hình chụp vào năm 1988 trong giây phút hồi sinh khi người chồng về từ ngục tù CS).

  Nhân ngày 30 tháng 4 năm nay, Trang T.Vấn & Bạn Hữu  giới thiệu 3 cây bút nữ cùng viết về 42 năm sau ngày tháng 4 cay nghiệt ấy: Ngân Bình vượt ra khỏi chủ đề thông thường để kể lại câu chuyện đời mình “Quãng đường nhìn lại“, Lưu Na với “Hồn cây xương lá” cay đắng triết lý “Cuộc phong ba qua đã lâu rồi, nhưng không còn ai có thể tạo dựng lại những gì nó đã tàn phá. . .”, còn Như Thương thì dùng lời thơ kể về người phụ nữ Lụa Đào Sắt Son mà cô kiêu hãnh gọi là mẹ, người phụ nữ như hàng trăm ngàn người phụ nữ miền Nam năm xưa đã gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.

Ngày hôm nay, 42 năm nhìn lại, càng cảm thán thêm nỗi buồn của Lưu Na: “Cuộc phong ba qua đã lâu rồi, nhưng không còn ai có thể tạo dựng lại những gì nó đã tàn phá. . .”, càng trân trọng thêm sự lựa chọn định mệnh của Ngân Bình và càng ngưỡng mộ thêm người phụ nữ bằng xương bằng thịt của đời thường – nay đã phiêu diêu nơi một cõi trời  thanh thản – mà Như Thương khắc họa trong trường thi “Lụa Đào Sắt Son” dưới đây.

Trân Trọng giới thiệu,

T.Vấn & Bạn Hữu

 

Lời dẫn truyện của Như Thương:

 Trường thi “Lụa đào sắt son” là tiếng tơ lòng của người vọng phu tên Kim Anh – được người con gái Kim Hương viết lại bằng thơ và chia thành 10 thi khúc.

Chuyện kể về Kim Anh đã đợi chồng Phạm Cẩn khi chồng trôi theo mệnh nước ngả nghiêng và bị đày ra Bắc trong mỹ từ “Học tập cải tạo” của những kẻ mang danh cộng sản, nhưng thực chất mỹ từ ấy chỉ vỏn vẹn là một chữ TÙ!

Người thiếu phụ ấy đã tay bồng tay bế 8 đứa con thơ khi chồng trong ngục tù 13 năm dài đăng đẳng. Cái Cò đã lặn hụp trong phong ba bão táp của mệnh người như con đò mong manh xuôi theo mệnh đời, vận nước.

Người chinh phụ đã trầm luân trong bể khổ, không còn giọt lệ rơi nào trên má hồng nay đã nhăn nheo, mà chỉ là ánh mắt chịu đựng, cố vượt qua thử thách của kiếp người. Người chinh phu thì biền biệt tận sâu thẳm núi rừng phương Bắc.

Đường xa diệu viễn, bước chân người chinh phụ ấy đã băng rừng, lội suối, vượt sông, qua núi, đèo trùng trùng điệp điệp ở mãi tận đầu nguồn phương Bắc đi tìm chồng …

Ôi lá lay kiếp  hoa, phận người! Biết ai thấu chăng cánh nhạn lạc tình lẻ loi giữa giòng đời dâu bể trong mảnh lụa đào sắt son chung thủy….

 

Thi khúc 1: Viếng mộ thiếu phụ Kim Anh

Thi khúc 2: Về người thiếu phụ năm xưa

Thi khúc 3: Chí trai hồ hải

Thi khúc 4: Loạn lạc – chia ly lần đầu

Thi khúc 5: Thuyền nhân

Thi khúc 6: Chia ly lần hai – khởi đầu đoạn trường khúc 1

Thi khúc 7: Đường ra Bắc

Thi khúc 8: Cuộc sống người “tù” và chồng vợ trong đoạn trường khúc 2

Thi khúc 9: Vinh danh người thiếu phụ

Thi khúc 10: Lời kết dành cho mảnh “Lụa đào sắt son”

  

Thi khúc 1:

Viếng mộ thiếu phụ Kim Anh

 Thời gian vào buổi sớm mai sương mù. Không gian là những hàng bia mộ thẳng tắp trên nền đất, rải rác những nấm mộ lộ thiên. Lá xanh của những hàng cây trong nghĩa trang đứng sững như cõi chết của những nấm mộ. Có dáng người con gái – Kim Hương – len lỏi đi giữa những hàng mộ bia đều đặn. Mùi hương khói lan tỏa trong cỏ cây ngậm ngùi …

Lá vàng rơi trong lặng lẽ âm thầm

Bao vong hồn nơi quạnh quẽ, tịch liêu

Buồn vui ơi chỉ một thoáng thăng trầm

Người đã khuất, xa gánh đời nặng trĩu

 

Trả nụ cười cho vận số gian nan

Trả thân xác cho thế gian: hạt bụi

Trả lệ rơi cho tháng ngày lầm lũi

Trả truân chuyên cho mệnh nước suy tàn

 

Đâu phu phụ – em gánh tình duyên nợ

Đâu con thơ – thân lặn lội Cái Cò

Đi thật xa, nơi đất trời khép mở

Cuối kiếp người, dừng vạn nẻo quanh co

 

Người vọng ai mà một ngày hóa đá

Để lại đời mảnh vuông lụa sắt son

Đất Bắc – thôi chẳng còn là đất lạ

Những ngược xuôi năm tháng cũng đã mòn

 Cô thì thầm với ngôi mộ đá và khung hình người quá cố, rồi bày biện hoa, trái cây, nhang, đèn trên mộ và thắp nhang khấn thầm, gục đầu khóc bên bia mộ.

Người thiếu phụ của thuở xưa xuân sắc

Hương khói bay theo thân xác rã rời

Thôi quên hết những buồn vui nước mắt

Người ở đâu, sao nấm mộ không lời

 

Mẹ ơi! Mẹ ….

Xương thịt Mẹ đã âm thầm hóa đất

Chút tinh anh theo sương gió bạt ngàn

Bước chân đi có nghĩa là Còn-Mất

Còn thủy chung, nhưng lạc mất cung đàn

 

Đây bia mộ còn ghi ngày tử biệt

Bụi thời gian xóa lấp cõi nhân gian

Hay oan khuất nằm trong điều oan nghiệt

Sinh tử đâu hỡi năm tháng muộn màng

 Bóng nắng chiều buông dần xuống và người con gái rời nghĩa trang, trong lòng đầy ắp những hình ảnh quá khứ về Mẹ của cô – người nằm dưới mộ.

 

Thi khúc 2:

Về người thiếu phụ năm xưa

 Năm xưa bên chén rượu giao bôi, có hai người thề hứa bên nhau suốt đời dẫu đường đời chông gai vạn dặm, dẫu còn trẻ hay yếu già, cũng như lúc hạnh phúc lẫn đau khổ, gian nan… Thế đấy, người con gái đã theo chồng, về với người mình hẹn thề câu thủy chung. Người chồng năm xưa xông pha ngoài chiến trận và suốt cả một thời xuân sắc, người vợ đã khăn gói theo chồng trên những chuyến xe bụi mịt mù nơi hậu phương và doanh trại đồn lính.

Thời xuân sắc, áo lụa tình phu phụ

Nửa đường đời đạo chồng vợ sắt son

Chữ hạnh phúc: Kim Anh lòng thầm nhủ

Tạ ơn chồng tấm mẳn thật vẹn tròn

 

Anh là lính và em là vợ lính

Đời bỗng quen nghe súng đạn chiến trường

Để đêm đêm nằm bên cạnh người thương

Mùi áo trận lẫn mùi chồng ngộ nghĩnh

 

Đôi giày trận bết đất bùn, bụi đỏ

Chốn cao nguyên mờ sương phủ núi đồi

Anh lặn lội nơi rừng thiêng. Thần nỏ…

Như chí trai tay cung kiếm vang hồi

 

Xin Đất Trời chở che điềm lành dữ

Để lằn tên mũi đạn sẽ né thân

Người lính chiến giữa sa trường sinh tử

Ai biết đâu tên lạc đạn xa gần

 

Những lo âu đã quầng thâm đôi mắt

Vợ trông chồng ngoài biên ải xa xăm

Biết áo trận giữa phút giây bất trắc

Có bình an… khi đêm xuống âm thầm

 

Duyên tơ thắm khi nắng thu vừa chớm

Mấy mươi năm dẫu chinh chiến bên người

Một đời Mẹ theo Cha con khuya sớm

Tình ý xưa vẫn nguyên vẹn một lời

 

Thi khúc 3:

Chí trai hồ hải

 Phạm Cẩn: Người chồng của mảnh lụa đào sắt son Kim Anh – xưa thời trai trẻ theo đường cung kiếm. Người thanh niên ấy như bao thanh niên thời ly loạn, đã buông bút nghiên và từ giã nghiêm đường mà đi theo đường binh nghiệp 21 năm trường, cho đến một ngày đành khóc hận nơi trời Nam khi buông súng theo mệnh nước thăng trầm.

Thời trai trẻ, kiếm cung hào khí và tuổi thanh xuân sống trọn với mộng hải hồ

Đời hồ hải bốn phương trời vùng vẫy

Tuổi đôi mươi mơ cung kiếm lên đường

Sống chết ư, nhạo cười điều run rẩy

Giang san ơi, mộng bảo kiếm Hồ Trường

 

Nghe giai điệu dậy hồn biên cương trấn

Khắp sơn hà chốn rừng thẳm núi thiêng

Kèn thúc quân rạng danh giờ ra trận

Giữ sơn hà đền ơn nước, tổ tiên

 

Yên cương hỡi, gươm báu xưa truyền lại

Chiến mã ngày tung vó ngựa bốn phương

Tấc lòng son chẳng nề gì quan ngại

Bụi dặm đường. Ôi vạn nẻo quê hương …

 

Thi khúc 4:

Loạn lạc – chia ly lần đầu

Thời điểm vào “Tháng Ba năm 1975” … ngày biến loạn bùng nổ, người thiếu phụ dắt díu con thơ tìm đường sống trong buổi loạn ly ấy. Đấy là buổi chia ly đầu trong đoạn trường khúc khi chiến chinh bủa vây phận người.  Lần chia ly vì loạn lạc này, chồng vợ đã cách biệt nhau một tháng – không biết tin tức sống chết ra sao…

Người thiếu phụ lạc chồng – người ở đỉnh đồi và người ở chân đồi – và người chồng lính trận không về được với gia đình. Hai ngả đôi đàng đều lánh nạn trong rừng và các Đấng Linh Thiêng nơi rừng núi bạt ngàn đã che chở, bảo bọc họ toàn mạng cùng con cái.

Người thiếu phụ đi tìm chồng trong lửa đạn, biết dặm dài có gặp được chăng? Tìm chồng đâu giữa dòng người chạy loạn? Trong quay cuồng, xin Trời Đất xót thương…

Anh đỉnh đồi. Em chân đồi. Ly biệt

Giặc đến rồi, anh hỡi… ở đâu anh?

Lạy Trời Đất, con cúi đầu thống thiết

Xin ơn lành khi đầu trẻ còn xanh

 

Bốn phương hướng – biết tìm đâu phương hướng!

Trời mênh mông và Đất cũng mênh mông

Đành xuôi tay phó thác – niềm tin tưởng

Phật Trời thương xin che chở má hồng

 

Dẫu mệt lả vẫn cố gượng mà sống

Dẫn con thơ thoát lửa đạn chốn này

Tìm gặp chồng giữa muôn ngàn hy vọng

Rằng đợi em, anh có thoát vòng vây?

 

Vai Mẹ đã gánh gồng bao buổi chợ

Áo rách mòn, mưa nắng cũng qua đi

Chắc có lẽ đất trời sẽ không nỡ

Tuyệt đường sinh, đường tử để sinh ly

 

Chạy về đâu giữa phút giây nguy biến

Lánh rừng già, chốn nương náu ẩn thân

Đêm đạn bom nghe đất trời rung chuyển

Lả mệt người ôm con dại thật gần

 

Nếu có chết, xin được là trọn vẹn

Cả gia đình không ly tán xác thân

Con sợ. Khóc. Lòng Mẹ sao nghèn nghẹn

Mẹ ôm con, ôm tất cả một lần

 

Một tháng trường – khúc đoạn trường lưu lạc

Kiệt sức người. Đứa con dại bụm tay …

Lấy nước suối cho Mẹ hiền đỡ khát

Đừng bỏ con giữa xa lạ chốn này

 

Dòng suối ơi, nguồn nước trong huyền diệu

Đỡ khát lòng, cơn nắng cháy Tháng Ba

Cám ơn người lòng nhân từ sẽ hiểu

Phút đói cuồng mót khoai rẫy ngày qua

 

Sương khuya lạnh lót lưng người loạn lạc

Nhóm lửa lên tìm hơi ấm tình người

Những khuôn mặt thất thần và ngơ ngác

Ngồi co ro … nghe đạn nổ lưng trời

 

Đêm trăng tỏ khấn linh thiêng cứu độ

Khấn rừng xanh che chở phút nguy nàn

Khấn mệnh phần đừng chia phần vắn số

Khấn sao trời dẫn con thoát mọi đàng

 

Thi khúc 5:

Thuyền nhân

 Năm năm sau thời loạn lạc, người con trai lớn của Phạm Cẩn và Kim Anh đã nghe lời Cha nhắn nhủ trong tù: Con hãy vượt biên tìm đường sống.

Và cậu bé lên đường làm thuyền nhân. Mẹ đau xé lòng bởi ra đi là mệnh Trời tế độ, bàn tay con người thật hữu hạn trong chuyện tử sinh này. Dẫu biết rằng đó là con đường sống thật mong manh, nhưng vẫn còn có cơ hội sống sót và thoát khỏi sự dòm ngó của giặc đang lần hồi xiết chặt cuộc sống để đưa con người đến cảnh lầm than, thống khổ và người con trai sẽ bị trở thành công cụ của những danh từ lừa dối từ cộng sản “Nghĩa vụ lao động” hay “Nghĩa vụ quân sự”.

 

Con của Mẹ, xưa tay bồng nựng nịu

Nay biển khơi giữa sống chết hãi hùng

Đi đi con, nghe lời Cha…con hiểu

Mẹ thương con, lạy sóng vỗ nghìn trùng

 

Con đi học, Mẹ đưa tận cổng trường

Con đi thi, Mẹ ngóng vào cửa lớp

Con ra biển, Mẹ nằm nghe sấm chớp

Đêm lặng về … Mẹ khấn vái tứ phương

 Cầu xin con thuyền thúng nhỏ bé, chiếc ghe chài mong manh đưa con đến bến bờ Tự do.

Cầu xin biển Nam, biển Bắc thuận buồm xuôi gió, đừng nổi cơn cuồng nộ.

Cầu xin lòng người đoái thương những kẻ đi tìm con đường sống bằng con đường chết và đừng xua đuổi người khốn cùng trở lại với biển động sóng gào.

Ngóng tin con biển xa đầy tin dữ

Góc biển nào con ngụp lặn tử sinh

Mẹ nguyện cầu không bằng lời, bằng chữ

Bằng trái tim Mẹ: Con – núm ruột mình

 

Xin con sống. Đừng mồ xanh vàng cỏ

Đừng trôi thây vào hoang đảo xa xăm

Đừng mất tích chốn tối tăm ngục đỏ

Đừng biệt tăm xé lòng Mẹ lặng câm

 Ngày Kim Anh giao đứa con thân yêu cho đại dương, người thiếu phụ ấy không biết làm gì hơn là cầu xin trùng khơi che chở con mình tai qua nạn khỏi, sóng yên bể lặng. Một tháng trường trong từng giây từng phút, lòng người Mẹ rối như tơ vò và chỉ biết lặng lẽ cầu nguyện cho đứa con trai của mình ngày đêm, bởi mệnh số của con là do Trời định.

 Đường con đi có sao Trời dẫn lối?

Có linh thiêng người khuất mặt độ trì

Có sóng yên cho ghe con trôi nổi

Có lòng nhân, người cứu mạng thiên di

 

Nếu con sống, Mẹ tạ ân Trời Đất

Đã đoái thương những đau khổ tận cùng

Mẹ đã quen sống dòng đời lây lất

Những đứa con là tất cả… đêm chùng

 

Nếu con chết, Mẹ cũng xin Trời Đất

Cho xác con về lại chốn đất liền

Đừng trôi đi để sẽ là biệt mất

Lạy Đất trời con tôi được bình yên

 Những câu chuyện kể về thuyền nhân của những người đã đi trước mà còn sống sót, nhưng không đến được bến bờ Tự do bỗng chốc trở về trong tâm trí Kim Anh như một nỗi lo âu tột cùng.

Mẹ chết lặng nghe bao lời kể lể

Lòng rối bời con vượt biển trùng khơi

Khấn ơn Ơn Trên cho qua ngày dâu bể

Giông tố ơi, xin dừng lại… Lạy Trời

 

Em sẽ sống và con mình sẽ sống

Rửa cho anh mối nhục chốn đọa đày

Con trai ơi, nỗi oán hờn bi thống

Nhớ nghe con, tên Mẹ giữa bàn tay

 Chuyện người chồng, người vợ, những cô bé tuổi 15, 17 giữa vòng vây hải tặc… Trên ghe vượt biên thì những người đàn ông, đàn bà, con gái và thậm chí cả trẻ thơ đều là những nạn nhân của bọn hải tặc! Đó là điều bất hạnh của một dân tộc trên đường chạy trốn chế độ cộng sản.

Họ sợ chết … Vâng!

Họ sợ bị hãm hiếp … Vâng!

Họ sợ đói … Vâng!

Họ sợ khát … Vâng!

Họ sợ bị bắn chết trên đường trốn chạy. Vâng!

Họ sợ mất chồng, mất vợ, mất con thơ khi bọn hải tặc lùa người sang ghe hải tặc. Vâng!

Cái đắng cay ấy của họ là cái giá phải trả, kể cả phải trả giá bằng mạng sống!

Mọi người đều biết chuyện gì có thể xảy ra cho chính bản thân họ, gia đình thân yêu của họ; nhưng nếu có cơ hội, thì họ cũng vẫn muốn rời mảnh đất nơi họ sống đang bị nhuộm đỏ bởi chính quyền cộng sản để đi tìm mảnh đất mới sinh sống.

Và đau đớn, xót xa thay cho những gia đình, những người phụ nữ tay yếu chân mềm, trẻ thơ vô tội không lối thoát, không một chọn lựa nào khác trên con thuyền tròng trành trôi lênh đênh hay vỡ nát!

 Nghe man rợ tiếng hét la vọng lại

Tiếng tử thần, cửa địa ngục mở ra

Mẹ ôm con chắp tay xin khẩn vái

Thân Mẹ… thôi… nhắm mắt cũng qua mà…

 

Xin đổi mạng cho con tôi được sống

Xin thứ tha, anh nơi ngục tối tăm

Em cắn răng nghe lời anh vượt sóng

Biển ngoài kia đâu mất ánh trăng rằm

 

Từ ngày ấy những lúc em ra biển

Nhìn sóng gào mà nước mắt trào tuôn

Đâu mảnh ván buông tay em …Một miếng

Đâu phút giây hải tặc bỗng điên cuồng

 

Cần bao nhiêu năm để một người Mẹ quên đi tiếng kêu cứu của con gái mình trong tay hải tặc? Vĩnh viễn và đời đời tiếng kêu thét ấy khuấy động cả đại dương và chìm sâu trong lòng người Mẹ không cứu được con mình trong nỗi uất nghẹn tột cùng.

Tiếng thất thanh giữa đêm trường vô vọng

Mẹ cứu con. Mẹ ơi, Mẹ cứu con…

Bầy quỷ dữ xé toang… thân bé bỏng

Áo hoa con. Tơi tả …Tuổi mộng tròn

 

Xác thân người giữa phong ba bão tố

Phó mệnh Trời xin rủ chút xót thương

Tự do ơi, chim lạc bầy vỡ tổ

Mẹ Cha ơi, con thân gái dặm trường …

 Bao nhiêu giấy mực, chuyện kể của tiếng khóc, nỗi uất nghẹn, nỗi lòng trĩu nặng còn đọng lại thành vết thương sâu tận trong lòng cho vừa đủ… chẳng bao giờ nói hết được!

Để chỉ cần nhắc đến hai chữ “Thuyền nhân” là cả một trang quá khứ đau thương ùa về theo nước mắt. Dòng nước mắt của bao điều thống khổ tận cùng đến không còn ngôn từ diễn tả. Dòng nước mắt của tủi nhục, đớn đau, xót xa cho những gia đình, người phụ nữ tay yếu chân mềm, trẻ thơ vô tội không lối thoát, không một chọn lựa nào khác trên con thuyền chòng chành trôi lênh đênh hay vỡ vụn giữa mênh mông!

 Tiếng gào rú của biển đông oan nghiệt

Đẩy hồn oan thân xác đẫm máu khô

Xuống tận đáy đại dương không thương tiếc

Nước mắt nào đưa tiễn kẻ không mồ

 

Ơi biển mặn… mặn thêm dòng lệ mặn

Ơi trùng dương hòa nhuộm máu, xác người

Đâu nhân ái giữa đảo hoang, biển vắng

Ôi bi thương, sầu ngất giữa đất trời

 

Thi khúc 6:

Chia ly lần hai – khởi đầu đoạn trường khúc 1

Nhắc chi cung kiếm binh đao nữa

Một giải sơn hà đã tang thương

Bắc Nam từ độ tranh nghiêng ngửa

Bến Hải Hiền Lương luống đoạn trường

 

Dung nhan ấy nổi trôi theo vận nước

Sầu riêng chung bao cay đắng mệnh người

Buổi loạn ly đã vạn lần xuôi ngược

Đoạn trường ơi, ngày mất nước nghẹn lời

 

Anh đi phương ấy xa biền biệt

Bảo trọng thân mình, em ngóng trông

Đàn trẻ dại khờ rồi sẽ biết

Cha con theo lời gọi núi sông

 

Rừng thiêng che chở cho anh nhé

Núi thẳm trông chừng bước chân đi

Nhắn sông xuôi ngược đừng phân rẽ

Em đợi ngày về hết biệt ly

 

Chiến trận ngoài kia là sinh tử

Phó thác Trời cao em biết không

Vợ rưng nước mắt- lành hay dữ

Xin nguyện Ơn Trên đến với chồng

 

Phấn son em cất theo gương lược

Lấy chồng chinh chiến áo trận xanh

Xa xăm biên ải hồn non nước

Em ở nhà lặng lẽ đợi chờ anh

 

Yêu em biết mấy phút tơ chùng

Anh sẽ nhớ em và nhớ con

Một mai ta sẽ lại tương phùng

Em vẫn hương trầm dẫu héo hon

 

Về nhà vài bữa lại xa em

Biết nói gì đây mái tóc mềm

Chồng em lính trận em biết đấy

Em vái van Trời khắp Đông Tây

 

Biên cương trấn ải chừng hiu quạnh

Tay súng chìm trong ánh nắng chiều

Từng đêm gió núi và sương lạnh

Poncho như thể vợ thương yêu

 

Thi khúc 7:

Đường ra Bắc

 Niềm trông ngóng dấu cõi lòng héo rũ

Phút tiễn chồng đi vào chốn ngục lao

Buổi can qua nghe đất trời vần vũ

Ghềnh thác xưa, núi đá cũng nghẹn ngào

 

Đôi mắt Mẹ là tháng ngày quá khứ

Dõi theo chồng, đã phương Bắc … ra đi

Biết đâu phút chia biệt là sinh tử

Hai mái đầu lặng lẽ khóc phân ly

Hướng đi từ Hà Nội đi Yên Bái và cuối trạm thì xuống Ga Ấm Thượng. Kim Anh thất thểu trong đoàn người từ trong tầu đi ra, sau lưng là một số người chen chúc cùng xuống xe lửa.

Tiếng vọng ồn ào từ trong tầu ra là tiếng súc vật heo gà eng éc vì người và vật đi chung trong chiếc tầu lửa ấy.

Từ Hà Nội ra đến ga Ấm Thượng

Trăm ký lô đã ngược Bắc nuôi chồng

Con trông ngóng cha và vợ gánh gồng

Đường diệu vợi Bắc Nam đành gắng gượng

 

Người vợ Kim Anh tìm chồng giữa núi rừng:

Thượng Đế hỡi, bàn tay con hữu hạn

Rừng núi thiêng xin dìu dắt dặm đường

Nước mắt em từ lâu rồi đã cạn

Héo hon lòng tìm tay ấm yêu thương

 

Đây đất Bắc chốn tận cùng sâu thẳm

Hoàng Liên Sơn vỡ tiếng khóc đại ngàn

Thân thiếu phụ bước đường xa cơm nắm

Ngủ bìa rừng cạnh muông thú dã hoang

 

Tìm chồng lên núi non cao thẳm

Núi khuất sương mù nhuốm tang thương

Tháng nào gió bấc về muôn dặm

Vượt khúc trần ai, khúc đoạn trường

 

Không thuyền, không bến, đường xa lạ

Vượt cạn dòng sông, vượt cạn đời

Nắng tắt bên sông đành vội vã

Phó thác nông sâu với đất trời

 

Cơm nắm, lương khô cho tù tội

Đội cả lên đầu tóc bạc phai

Đừng ướt, đừng trôi, đoàn người lội

Kẻ níu, kẻ đu sóng mệt nhoài

 

Khúc xoáy giữa sông đầy nghiệt ngã

Dẫu cuồng nộ mấy phải qua sông

Tay người bấu víu trong mệt lả

Bên kia ghềnh đá … sẽ gặp chồng

 

Chân rã rời, gậy chống thêm bước mỏi

Đá hoang vu nín lặng nỗi sớt chia

Ngả lưng nằm khấn sao trời vòi vọi

Xin Ơn Trên đừng đôi ngã chia lìa

 

Đêm nay lạnh, lòng em sương núi buốt

Biết đâu anh chết cóng ở ngoài kia

Một nắm cơm. Đợi hãi hùng móng vuốt

Thú rừng hoang dọ dẫm bóng trăng khuya

 

Rừng. Và rừng. Thẳm sâu điều sợ hãi

Trong lòng em nỗi oan nghiệt vây chùng

Những đứa con ngóng em bên nhà ngoại

Anh mù tăm nơi chốn biệt nghìn trùng

 

Cơn đói rét đêm trắng đêm chờ đợi

Bạn đồng hành: thầm đếm thời gian trôi

Núi non ơi hun hút xa vời vợi

Xin tương phùng dẫu đành đoạn chia phôi

 

Cầu ơn phước cho chồng con được sống

Cho vẹn toàn thân thể của thuở xưa

Cho tâm trí còn biết điều trông ngóng

Đợi vợ hiền dẫu giông bão nắng mưa

 

Thi khúc 8:

Cuộc sống người “tù” và chồng vợ trong đoạn trường khúc 2

Bài thơ được viết theo lời kể chuyện của một người tù năm xưa trên một trại giam “tù cải tạo” gần thị trấn Thất Khê. Người tù ấy đã từng đứng trên đầu nguồn của dòng sông Kỳ Cùng, nhìn thấy hai dòng nước đục trong của con sông ấy rời quê mẹ Việt Nam và chảy ngược về hướng Trung quốc mà lòng xót xa…Hai màu nước đục trong tựa như thể tổ quốc Việt Nam đứng giữa hai dòng khác biệt để chẳng bao giờ có thể cùng hòa chung nhau một dòng nước.

Từ núi của cha chốn mênh mông

Từ quê đất mẹ một tấm lòng

Có giòng suối nhỏ lượn quanh quẩn

Đã hóa Kỳ Cùng một nhánh sông

 

Hai giòng trong đục bỏ quê cha

Thất Khê từ đấy biệt quan hà

Xót xa đôi ngả người Nam Bắc

Lạng Sơn muôn nẻo dặm đường xa

 

Người tù lặng lẽ ngắm giòng sông

Se sắt con tim nghẹn cõi lòng

Kỳ Cùng chảy ngược về xứ lạ

Nắng tắt hoàng hôn vợ ngóng chồng

 

Chiều thân tù ngục đứng ngó mong

Trùng trùng điệp điệp có buồn không

Đôi bờ sông của dòng ly biệt

Có biết đục trong chẳng chung dòng

 

Hồn thiêng sông núi của ngàn năm

Có rưng rưng khóc lệ âm thầm

Ngẩng mặt nhìn trời rừng Việt Bắc

Đây khúc giang đầu của Việt Nam …

 

Chạnh lòng Phạm Cẩn nhớ lại chuyện xưa…

Lầm lũi rừng mây thấp thoáng sương

Chạnh nhớ năm xưa bước sa trường

Giang sơn hùng khí hồi vọng tưởng

Sông núi chốn này, gãy đao thương

 

Người Nam ra Bắc: vùi thây lại

Người Bắc vô Nam: mộng bá đồ

Ngày đi: gian dối điều oan trái

Ngày về: còn lại nắm xương khô

 

Người chồng trong lao ngục:

Nơi chốn quạnh hiu của rừng núi trùng trùng sâu thẳm và giá rét bào xé thịt da khi cơn gió bấc về trên sườn núi, lan tỏa xuống thung lũng, rồi len lỏi tận cùng vào da thịt những người tù nằm co ro trong những lán trại trống hoác đợi gió lùa, có những đêm dài không đếm được ngày tháng, người tù đã cố gắng ngủ mà trong tiềm thức là sự hỗn loạn của những đọa đày….

Những đêm trường xen lẫn với bình minh

Ra đất Bắc là xuôi đường tử lộ

Đành nhắm mắt và khấn thầm mệnh số

Khấn rừng thiêng xin bảo hộ thân mình

 

Nơi anh ở chốn “trại tù cải tạo”!

Đếm từng ngày đợi ánh mặt trời lên

Ừ mình đấy, còn sống với tuổi tên

Nghe tiếng kẻng dậy khua vang lòng chảo

 

Đồi núi cao, thung lũng lạnh rợn người

Nhà lá cọ phủ vách rơm trộn đất

Ấm lạnh gì hỡi cùng trời cuối đất

Nắng mưa gì cũng nhúm da phơi

 

Giữa núi rừng là dãy nhà… lán trại

Giữa ngục tù là thầm lặng, phong ba

Nín câm đi – đợi ngày ta về lại

Từ oan khiên trăm vạn nỗi u hoài

 

Rồi làm bạn với trời xanh cao vói

Với rừng già sâu thẳm lạnh căm căm

Với côn trùng trốn chui nhủi âm thầm

(Kẻo mang họa chết trong tay “tù đói”!)

 

Rừng ở đó biết bao giờ trơ trụi

Sẽ thành nhà, thành mọi thứ thay cơm

Trằn trọc chi nhắm mắt ngủ với rơm

Ta và rận – cùng tù chung phận tủi

 

Từ địa ngục nghe tiếng ai vọng hú

Gió sương nào oan nghiệt phủ rừng hoang

Thân tả tơi, mắt tù đêm không ngủ

Rạ rơm buồn chua xót đọng tâm can

 

Nắng sấy khô những máu và tủi nhục

Những bóng ma còn lê lết bước chân

Những rách bươm “áo quần” thân tù ngục

Nắng mưa chi thêm khổ lụy bụi trần

 

Sống và chết trong oằn người uất hận

Nước sông kia – cơn khát nước quặn lòng

Nắng ngục tù, nắng hỡi sao tàn nhẫn

Thiêu đốt người giữa khổ ải mênh mông

 

Bên kia suối là cọng rau, ngọn cỏ                              

Biến chúng thành món mỹ vị cao lương

Thêm chút muối bồi bổ một nắm xương

Để chịu đựng ngón đòn thù “bên đó”

 

“Món ăn chính” là măng rừng muối hột

Đọt khoai mì, lát sắn mốc xanh xanh

Không bổ thịt cũng bổ cho xương cốt

Nuốt hờn căm, dẫu cõi thế treo mành

 

Cái bao tử được đo bằng “ngũ cốc”

Dăm ba thìa, miếng sắn cũng đầy thôi

Nhai chầm chậm kẻo chẳng còn mấy chốc

Mình được ăn, cũng như… no đấy rồi!

 

Chiếc lon gô nghe mằn mặn căm hờn

Sống hay Chết? Nhục vinh nào gột rửa

Bạn anh đấy chết buồn bên ánh lửa

Chết rét – nằm co quắp nỗi cô đơn

 

Khuya thao thức rỗng bụng tìm chai lọ

Hạt cơm tù… đếm mãi! Vẫn chưa no

Ngủ sao được, ngồi nhìn nhau một xó

Nhìn rệp bầy ăn cỗ, chúng sẽ no

 

Được nhóm lửa mỗi chiều về lán trại

Đã là niềm hạnh phúc thật lớn lao

Nấu gì ư? Dẫu một vài con nhái

Chút muối nêm nghe mặn đắng làm sao

 

Có những lúc chỉ pha trà uống đỡ

Bữa cơm chiều ngót nghét một muỗng thôi

Khơi lửa lên, cho ấm lòng tù tội

Gạo hẩm rồi, có mốc cũng làm ngơ

 

Xuân đại tiệc miếng da trâu già nhách

Cũng còn hơn không có chút “thịt” gì

Vùi trong lửa cho thơm và cho sạch

Bỏ vô “gô” nấu cho nở da bì

 

Dẫu suối lạnh vẫn là nơi tắm giặt

Trả lại bùn, trả lại đất … Ngày qua

Xin nhân từ hỡi cơn rét tháng ba

Thân gầy đói, xương da đành héo hắt

 

Cửa ngục tù có bao giờ hoen rỉ

Khoen sắt kia có lặng lẽ khóc thầm

Ta với mi tù tội như nhau nhỉ?

Đếm trăng tròn niềm uất hận lặng câm

 

Đây mưa phùn, đây gió bấc Thượng du

Sông chảy xiết và lá buông rừng lá

Núi khuất sương, lán nơi nào trăm ngả

Kẻng gọi anh, về với xích xiềng tù

 

Mai thức giấc mở mắt ra thấy vẫn …

Là mặt trời nóng hừng hực trên lưng

Là suối trôi cuốn người lội nửa chừng

Là tre, nứa, lồ ô, luồng tiêu chuẩn

 

Từ đồi, dốc nhìn luồng cao ngất nghểu

Hỏi trời cao, tù vác được bao nhiêu

Luồng trên vai chân bước lê thất thểu

Về láng đi – chiều ngả bóng xế chiều

 

Thung lũng chết, người tù và cõi chết

Núi cao chi sừng sững ở Cổng Trời

Đây tử địa, xóa đi ngàn dấu vết

Chốn tận cùng tuyệt vọng những tả tơi

 

Quấn trong “mền”, bảy nẹp tre để gói

Khiêng bạn tù mà chạnh nghĩ thân ta

Bạn nằm đó dẫu là rét tháng Ba

Vẫn hạnh phúc, chẳng lo no, no đói

 

Chôn kiểu nào cũng quay đầu về núi

Để ngậm hờn nuốt hận tháng ngày qua

Có bia mộ nằm giữa chốn rừng xa

Là may mắn hơn xác tù trôi suối

 

Sao núi rừng là ngục tù xiềng xích

Sao sông sâu cuốn trôi xác bạn mình

Sao thung lũng đầy súng thù của địch

Chắc đất trời theo vận nước điêu linh

 

Hỡi vinh nhục của một thời áo trận

Kiếm thép xưa nay lặng lẽ giữa rừng

Gầm lên đi hỡi non cao uất hận

Đếm ngày về nghe sao thấy dửng dưng

 

Vợ con là liều thuốc hồi sinh đấy

Ngày với đêm vẫn hy vọng đợi chờ

Miễn còn hồn xác, xương khô vậy

Phút sum vầy sẽ thực chứ không mơ

 

Qua Sông Lô, ga Hòa Hưng, Thanh Hóa

Chiếc túi đệm dăm ký vượt đường xa

Những viên thuốc, sữa, đường,món lạ

Đã lâu rồi quên cơm vợ quê nhà

 

Về lại hả … như giấc mơ thần thánh

Lên núi buồn ngồi xếp đá thành non

Thành nấm mộ chẳng khói nhang hiu quạnh

Trằn trọc khuya hiểu ra chuyện mất còn

 

Hỡi rừng thiêng giữ cốt xương tàn rụi

Giữ buồn vui, nước mắt lẫn hận thù

Thân ở lại khuất oan chìm góc núi …

Tâm người về thanh thản với thiên thu

 

Chinh phụ gặp chinh phu trong chốn lao tù: Đoạn trường khúc 13 năm

Còng tù tội khóa tay người vô tội
Suối nông sâu, triền dốc bóng tử thần
Bên kia bờ là địa ngục của người thân
Rừng tiếp nối, biết nơi nào ngược lối

 

Xe trâu chở những gói “quà” cột chặt

Chở gian truân qua sông suối, qua cầu

Chở vợ chồng rưng rưng tràn nước mắt

Nhìn mặt nhau nhớ giây phút tựa đầu

 

Nhìn tấm áo ngày ra đi bươm rách

Biết thân anh có tơi tả đòn thù

Đừng dấu em những tiêu tan hồn phách

Của những ngày anh “Nhất nhật thiên thu”

 

Thư em viết để trong hủ mắm ruốc

Gói ân tình chồng vợ vẫn tràn đầy

Mười lăm phút tưởng chừng chỉ phút giây

Nhìn nhau khuất … mà lòng đau quặn ruột

 

Khép cổng lại giờ thăm nuôi đã hết

Quay lưng rồi là đôi ngả phân ly

Chồng vợ đấy biết ai người sống chết

Chút thân tàn lặng lẽ gánh – bước đi

 

Bao nhiêu chữ nghĩa bể dâu

Trôi ra biển lớn, sông sâu cạn cùng

Trôi theo thác đổ lạnh lùng

Trôi theo mưa gió bão bùng tiễn nhau

Ở tù trong núi bấy lâu

Một ngày bỗng thấy đêm thâu rạng ngời

Thế gian chẳng có mặt trời

Cần chi… Nhắm mắt cuối đời vùi thây

Rừng ơi. Góc núi có hay

Ta thành sỏi đá chốn này như mi

Chút xương trắng hếu phân ly

Còn tinh anh lại, về đi mộng tàn

Vết đau như nứa cắt ngang

Núi sông còn lại … Đại ngàn. Bóng ma

Đến đây lầm lũi đường xa

Ra đi thinh lặng sương sa mé rừng

Chốn này địa ngục. Quay lưng

Thiên đàng mở cửa, mở từng nghiệt oan

Mở toang cùm xích nằm ngang

Ta theo hương khói nén nhang khấn thầm

Mở lòng thù hận trong tâm

Kẻ Nam, người Bắc – cõi âm dương rồi

Buộc khăn tang quấn mồ côi

Ai người cô phụ, con tôi dại khờ

Rưng rưng… thân xác cứng đờ

Gói trong manh chiếu hững hờ lạnh tanh

Gốc sồi dấu tích rừng xanh

Dăm ba nhát cuốc, phủ quanh nấm mồ

Còn tên tuổi gởi hư vô

Bạn tù chắc nhớ ướt khô chỗ nằm …

 

Thi khúc 9:

 Vinh danh người thiếu phụ

Trái tim người thiếu phụ đã đợi “chồng về” từ “Mười- Ba-Năm” trước – trong một lần người ra đi dặn dò: “Anh đi 1 tháng rồi về, em ở nhà trông con và giữ gìn sức khỏe, anh sẽ về!” , nhưng có ngờ đâu người đi tận mãi nghìn trùng phương Bắc, tận những nơi mang danh địa ngục xa lạ: Trại 3, trại 7 Hoàng Liên Sơn, trại Vĩnh Quang (Vĩnh Phú), Trại Hàm Tân Z 30 D …v…v… nhiều không kể xiết.

“Mười-Ba-Năm” viết trong dấu ngoặc kép là nỗi đoạn trường của một người vợ tù CS, là khúc đời gãy đôi của hai người bạn lòng đang độ xuân sắc, mặn nồng, là đôi bờ cách ngăn và vọng tưởng, là chữ “Sống” và chữ “Chết” về trong ý nghĩ của đôi vợ chồng trong từng ngày dài, từng đêm thức trắng…

Một đời thiếu phụ sắt son

Lụa đào môi thắm đâu còn Mẹ ơi…

Tiếng ai vọng lại ru hời

Giữ câu chung thủy cho đời mai sau

Tóc xanh nay đã bạc màu

Phấn hương trang điểm dãi dầu ly hương

Trăm năm phiến đá vô thường

Khắc tên lưu lại chặng đường tử sinh

Xác thân thôi đã dặm nghìn

Xa chồng con, chốn đăng trình viễn du

Bao mùa lá rụng biệt mù

Gió bay cát bụi thiên thu chốn này ….

 

Thi khúc 10:

Lời kết dành cho mảnh “Lụa đào sắt son”

 Hỡi rừng thiêng nước độc vùng Việt Bắc, xin trả lại núi rừng những giọt nước mắt khổ đau của kiếp tù, cũng như xin nguyện cầu cho muôn vàn số phận người không may đã không có cơ hội rời xa chốn ấy, sẽ theo mây trời về lại chốn cũ lúc ra đi mà đoàn tụ với những người thân thương của mình.

Xin được trang trọng nâng niu mảnh “Lụa đào Kim Anh” mãi một lòng Sắt Son với nghĩa tình trăm năm phu phụ.

Mẹ ơi…

Đây di ảnh của tháng ngày xưa cũ

Đây phấn son của riêng Mẹ thuở nào

Thôi bình yên Mẹ ngàn năm yên ngủ

Trả lại đời muôn vạn nỗi trầm hao

Màu áo lụa thuở má đào son sắc

Mấy mươi năm chung thủy một tấm lòng

Như vầng trăng soi kiếp người vằng vặc

Chữ thương yêu trong ấm lạnh mặn nồng

Hương rừng từ sâu thẳm phương Bắc bay về phương Nam như nén hương lòng ngưỡng mộ vuông Lụa Đào đã lặn lội tìm chồng nơi chốn tù ngục xa xăm ở đầu nguồn Tổ quốc.

Ai người xưa đợi chồng về

Lụa Đào vạn dặm phu thê vuông tròn

Thăm chồng phương Bắc lối mòn

Tích xưa lưu lại vẫn còn Vọng Phu

 

                                                                                                          NHƯ THƯƠNG

                                                                                                                (Viết xong 30/4/ 2017)

 

***

 

©T.Vấn 2017