Andrew Weissmann: VƯƠNG QUỐC CỦA KẺ DỐI LỪA-CHƯƠNG 2: KHỦNG HOẢNG CỦA NỀN DÂN CHỦ

Nguyên Tác: LIAR’S KINGDOM

Tác Giả: Andrew Weissmann

(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)

TÁC GIẢ & TÁC PHẨM

CHƯƠNG 2

KHỦNG HOẢNG CỦA NỀN DÂN CHỦ

Hoàn toàn có thể dự đoán được rằng nếu người ta được phép nói dối về bầu cử mà không phải trả giá, những lời dối trá ấy sẽ di căn. Thực ra, tất cả chúng ta đều đang nhìn thấy hậu quả đó: hãy nhớ rằng một phần ba người Mỹ nói họ tin cuộc bầu cử năm 2020 đã bị đánh cắp — và hai phần ba cử tri Cộng hòa cũng tin như vậy. Trump đạt được kết quả ấy mà chưa từng đưa ra bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh cho cáo buộc của mình. Trên thực tế, mọi tòa án từng xem xét luận điểm ấy đều bác bỏ nó. Dẫu vậy, Trump vẫn được bầu làm tổng thống.

Dĩ nhiên, Trump không phải chính trị gia đầu tiên dùng đến dối trá — hãy nhớ câu “Tôi không có quan hệ tình dục với cô Lewinsky” của Bill Clinton, hay “Tôi không phải kẻ gian” của Nixon. Nhưng những tổng thống ấy đều phải trả giá, ở mức độ khác nhau, cho các lời nói dối của mình; trong khi vị tổng thống hiện nay của chúng ta lại có thể nói dối trắng trợn mà không phải chịu bất kỳ hậu quả pháp lý nào. Và thành công ấy khiến những người khác càng thêm mạnh dạn bắt chước chiến thuật đó.

Đời sống chính trị của chúng ta giờ đây đầy rẫy những lời dối trá, xuyên tạc, bóp méo và nửa sự thật làm xói mòn các quyền tự do cùng những định chế dân chủ. Trực tiếp nhất, lời nói dối về gian lận bầu cử đã trở thành “huyền thoại khai sinh” cho việc tẩy trắng toàn bộ cuộc tấn công ngày 6 tháng 1. Hơn 1.500 người tham gia bạo loạn ngày 6 tháng 1 đã được thả tự do và còn được ca ngợi như những người yêu nước, những “tù nhân chính trị”. Khi hành vi phóng uế trong Điện Capitol lại được chính các lãnh đạo đất nước tôn vinh như hành động yêu nước, thì một nền dân chủ đại diện còn có thể tồn tại bằng cách nào? Điều cay đắng ở đây là: hành vi phóng uế lên một biểu tượng thiêng liêng lại chính là hình ảnh hoàn hảo cho chủ nghĩa Trump. Và lời nói dối về bầu cử — với sự phủ nhận thực tại được thiết chế xác lập, với việc đảo lộn sự thật và quy trình — chính là luồng oxy nuôi bùng những ngọn lửa phá hoại ấy.

Ngay trong ngày đầu tiên của nhiệm kỳ thứ hai, Trump sử dụng lời nói dối về gian lận bầu cử để biện minh cho việc xóa sạch toàn bộ các vụ truy tố liên quan ngày 6 tháng 1, từ gốc tới ngọn. Trump ban hành lệnh ân xá cho tất cả những bị cáo đã bị kết án trong vụ ngày 6 tháng 1, mô tả các cuộc truy tố ấy là “một bất công quốc gia nghiêm trọng”. Ông ân xá cho tất cả, bất kể họ đã nhận tội hay bị bồi thẩm đoàn kết án, bất kể họ có hành hung cảnh sát hay không, và bất kể họ có phải là thủ lĩnh của những tổ chức cực đoan bạo lực như Proud Boys hay Oath Keepers hay không. Đối với những người còn đang chờ xét xử, Trump ra lệnh cho Bộ Tư pháp của mình yêu cầu “đình chỉ vụ án có hiệu lực vĩnh viễn” — nghĩa là các cáo buộc ấy sẽ không bao giờ có thể được khôi phục bởi bất kỳ chính quyền nào về sau.

JD Vance và Pam Bondi — người được Trump đề cử làm Bộ trưởng Tư pháp sau khi đề cử Matt Gaetz sụp đổ thảm hại — từng cố trấn an dư luận trước lễ nhậm chức nhiệm kỳ hai của Trump bằng cách bảo đảm với báo chí rằng chính quyền Trump sẽ phân biệt giữa những người bạo lực và không bạo lực trong vụ ngày 6 tháng 1. Nhưng Trump không để mình bị ràng buộc bởi những tiểu tiết kiểu đó: tất cả các bị cáo đều nhận được một hình thức miễn trừ pháp lý nào đó. Ed Martin, người mới được Trump bổ nhiệm làm “Luật sư Ân xá”, sau đó đã nói toạc điều mà trước đó người ta chỉ ngầm hiểu, khi mô tả việc Trump sử dụng quyền ân xá hiến định của mình như một chính sách “không bỏ lại bất kỳ người MAGA nào phía sau”.

Một nhà tâm lý học có thể cho rằng Trump hành xử như vậy nhằm đập phá cảm nhận về tính chính danh của hệ thống tư pháp hình sự. Rốt cuộc, Trump là tổng thống Mỹ đầu tiên trở thành trọng phạm đã bị kết án, sau khi bị xét xử và kết tội ở ba mươi bốn cáo buộc hình sự tại chính quê hương cũ của ông là thành phố New York. Những lệnh ân xá hàng loạt ấy có tác dụng đảo lộn tính chính danh của hệ thống pháp luật — cấu trúc cốt lõi mà chúng ta dùng để giải quyết tranh chấp.

Nhưng các lệnh ân xá còn phục vụ một mục đích khác, trực tiếp hơn nữa, đối với Donald Trump. Nếu Trump là chất xúc tác cho các sự kiện ngày 6 tháng 1, thì việc tái định nghĩa ngày hôm ấy thành một điều đáng ca ngợi thay vì đáng hổ thẹn sẽ giúp giải tội cho chính Trump. Việc biến các bị cáo ngày 6 tháng 1 thành những biểu tượng tử vì đạo của phong trào MAGA thực chất chỉ là một cách để gột rửa trách nhiệm trung tâm của Trump trong toàn bộ sự việc.

Vì quyền ân xá của tổng thống theo Hiến pháp Hoa Kỳ là quyền tuyệt đối và độc quyền, các tòa án hầu như không có lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận các lệnh ân xá ấy, đồng thời cũng gần như không có quyền bác bỏ việc hủy các vụ án hình sự còn đang chờ xét xử. Thẩm phán liên bang Tanya Chutkan đã diễn đạt rất rõ bầu không khí bao trùm tòa án tại Washington, DC — nơi các thẩm phán thuộc nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau đã nỗ lực hết sức để bảo đảm thủ tục tố tụng công bằng cho toàn bộ các bị cáo ngày 6 tháng 1. Qua hàng chục phiên xử diễn ra tại phòng xử của mình, các thẩm phán ấy hiểu rất rõ những gì đã xảy ra hôm đó. Thẩm phán Chutkan viết đầy chua xót:

Không một lệnh ân xá nào có thể thay đổi sự thật bi thảm của ngày 6 tháng 1 năm 2021… Nó không thể tẩy sạch máu, phân và nỗi kinh hoàng mà đám đông để lại phía sau. Và nó cũng không thể hàn gắn vết rạn sắc nhọn trong truyền thống thiêng liêng của nước Mỹ về việc chuyển giao quyền lực một cách ôn hòa.

Không dừng lại ở đó, Bộ Tư pháp dưới thời Trump còn tiến thêm một bước nữa. Họ yêu cầu hủy bỏ một số cáo buộc đối với các bị cáo ngày 6 tháng 1 ngay cả khi những tội danh ấy hoàn toàn không liên quan tới sự kiện hôm đó — miễn là chứng cứ về tội phạm được phát hiện trong quá trình điều tra ngày 6 tháng 1. Một nữ thẩm phán liên bang do chính Trump bổ nhiệm trong nhiệm kỳ đầu nhận định rằng lập luận ấy thật đáng kinh ngạc. Bà chỉ ra rằng, theo logic của Bộ Tư pháp, một người phạm tội giết người cũng có thể được miễn trách nhiệm nếu bằng chứng tình cờ được tìm thấy trong quá trình điều tra vụ ngày 6 tháng 1. Bà bác bỏ lập trường của chính phủ, đồng thời thừa nhận rằng nếu Trump muốn ân xá cho hành vi không liên quan ấy thì ông có thể làm, nhưng bà sẽ không cho phép điều đó được suy diễn từ các lệnh ân xá ngày 6 tháng 1. Sau đó Trump thực sự đã làm đúng như vậy, đồng thời mở rộng phạm vi của lệnh ân xá mới.

Và vẫn chưa hết: tiếp theo là chiến dịch bôi nhọ những người đã buộc các bị cáo ngày 6 tháng 1 phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Những công chức thực thi pháp luật chuyên nghiệp — những người đứng phía “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” trong dòng chữ “United States v. Defendant” — cần phải bị trừng phạt. Không đợi Pam Bondi và Todd Blanche được Thượng viện chuẩn thuận vào vị trí bộ trưởng và thứ trưởng tư pháp, quyền Thứ trưởng Tư pháp Emil Bove lập tức cho sa thải hoặc điều chuyển hàng loạt công tố viên kỳ cựu và đặc vụ FBI chỉ vì “tội” đã từng tham gia điều tra các vụ ngày 6 tháng 1. Ông yêu cầu lập danh sách toàn bộ nhân sự FBI từng làm việc trong các vụ án ấy — một danh sách có thể bao gồm hàng ngàn người — để “đánh giá” xem có nên áp dụng biện pháp nhân sự bất lợi hay không. Điều làm cho chiến dịch này càng thêm dối trá và trơ trẽn là chính Bove, khi còn là một công tố viên nghề nghiệp tại Văn phòng Biện lý Liên bang Manhattan, từng ủng hộ việc điều tra cuộc tấn công ngày 6 tháng 1.

Giờ đây, Bove tái dựng hình ảnh các công chức chuyên nghiệp ấy thành một phần của âm mưu vu cáo những bị cáo ngày 6 tháng 1 vô tội. Chính quyền Trump sử dụng luận điệu sai trái ấy để thanh trừng hàng loạt công tố viên khỏi Bộ Tư pháp. Những công chức kỳ cựu từng làm việc cho Công tố viên Đặc biệt Jack Smith bị sa thải mà không cần đưa ra lý do. Điều tệ hại hơn là: trong hoàn cảnh bình thường, những công tố viên giàu kinh nghiệm và đầy thành tích như họ hẳn sẽ dễ dàng tìm được vị trí tốt trong khu vực tư nhân; nhưng vào lúc này, các hãng luật lớn — thứ người ta lịch sự gọi là Big Law — lại tránh né nhiều thành viên trong nhóm của Smith như tránh dịch, chỉ vì sợ tự biến mình thành mục tiêu kế tiếp.

Chính quyền Trump cũng sa thải, đình chỉ công tác và bôi nhọ hàng loạt đặc vụ FBI chuyên nghiệp đã có nhiều năm đào tạo và kinh nghiệm. Đặc vụ FBI chuyên trách chống khủng bố nội địa từng lãnh đạo văn phòng FBI tại Salt Lake City, Utah, bị buộc rời vị trí chỉ vài tuần trước vụ ám sát Charlie Kirk. Khỏi cần nói cũng biết, đó chính là thời điểm người ta cần nhất những hiểu biết và kinh nghiệm kiểu ấy. Walter Giardina — người từng làm việc cho cả hai Công tố viên Đặc biệt Smith và Mueller — bị Giám đốc FBI Kash Patel sa thải mặc cho, theo nhiều nguồn tin, giới lãnh đạo FBI cấp cao đã van nài Patel hoãn quyết định ấy lại, bởi vợ của Giardina — một nghệ sĩ ballet chuyên dạy trẻ khuyết tật tìm thấy niềm vui trong khiêu vũ — đang hấp hối vì ung thư. Trên thực tế, bà qua đời chỉ ít lâu trước khi Giardina bị sa thải.

Loại người nào lại có thể quyết định sa thải một người chồng đang chịu tang trong hoàn cảnh như thế? Thế nhưng Trump còn bồi thêm những lời công kích cay độc, gọi Giardina là một “CẢNH SÁT BẨN THỈU!” — dĩ nhiên, cũng hoàn toàn không có bằng chứng nào để chứng minh cho lời miệt thị ấy. Không lâu sau đó, chính những lãnh đạo FBI từng nói rằng họ đã cố thuyết phục Patel thể hiện chút nhân tính đối với Giardina cũng bị sa thải. Một lần nữa, tôi phải hỏi: kiểu người nào tạo ra một môi trường mà những hành vi như thế lại trở nên có thể chấp nhận được, thay vì bị lên án và trừng phạt đồng loạt? Đó chính là những con người hiện đang điều hành đất nước chúng ta. Và đây mới chỉ là vài ví dụ nhỏ.

Việc sa thải và bôi nhọ những công chức từng xử lý các vụ ngày 6 tháng 1 đã phớt lờ hai sự thật cơ bản: thứ nhất, không có bằng chứng nào cho thấy cuộc bầu cử bị đánh cắp; và thứ hai, ngay cả giả sử những kẻ bạo loạn ngày 6 tháng 1 thật sự tin vào lời nói dối ấy, điều đó cũng không cho phép họ tự ý thi hành “công lý” bằng cách phạm tội, từ nhỏ tới lớn, từ bạo lực tới không bạo lực. Họ có thể ra tòa kiện tụng (một số đã làm và liên tục thua kiện), hoặc biểu tình ôn hòa (một số cũng đã làm như vậy). Nhưng sử dụng bạo lực và tấn công lực lượng chấp pháp chưa bao giờ là lựa chọn hợp pháp, cho dù bạn có tin vào lời nói dối về bầu cử hay không.

Những lời dối trá của chính quyền đã sinh sôi lan rộng, sự mục ruỗng lan sang nhiều lĩnh vực khác. Trong vấn đề nhập cư, dối trá đang tiếp tay cho việc ngược đãi hàng chục nghìn con người. Trump đã kích động tâm lý bài ngoại ít nhất từ khi lần đầu tuyên bố tranh cử tổng thống — từ lời vu cáo về nơi sinh của Tổng thống Obama cho tới việc ông hạ nhục một vị thẩm phán — vốn là công dân Mỹ — bằng cách gọi ông ấy là “người Mexico”, và vì thế không thể giữ lời tuyên thệ xét xử công bằng trong một vụ kiện dân sự có Trump là đương sự. Trump khẳng định nước Mỹ đang bị “xâm lược” bởi những kẻ giết người và hiếp dâm từ các quốc gia khác tràn vào. Sự thật hoàn toàn không quan trọng đối với ông: nhiều nghiên cứu cho thấy người nhập cư phạm tội với tỷ lệ thấp hơn người Mỹ sinh ra trong nước. Một nghiên cứu tại Texas cũng cho kết quả tương tự: người nhập cư bị bắt giữ vì tội ma túy và tội bạo lực với tỷ lệ chỉ bằng một nửa công dân Mỹ bản địa, và với tội xâm phạm tài sản thì chỉ bằng một phần tư.

Trong nhiệm kỳ thứ hai, Trump tiếp tục bôi nhọ người nhập cư và kích động tâm lý bài ngoại bằng một sắc lệnh hành pháp tuyên bố — không dẫn bất kỳ chứng cứ thực tế nào — rằng Hoa Kỳ đang bị một băng nhóm Venezuela tên là Tren de Aragua xâm lược. Thông thường, một cuộc xâm lược là điều mà người dân sẽ trực tiếp nhìn thấy và trải nghiệm, nên thông tin về “cuộc xâm lược Venezuela” hẳn khiến tất cả chúng ta đều bất ngờ. Một thẩm phán liên bang cho rằng thật hoang đường khi chính quyền cố viện dẫn một đạo luật liên quan tới cuộc xâm lược thực sự của Anh vào năm 1812 để biện minh cho một cuộc “xâm lược quân sự” tưởng tượng hiện nay của TdA. Bạn biết mình đã bịa ra một câu chuyện quá lố khi ngay cả Tòa Phúc thẩm Liên bang Khu vực Năm — vốn nổi tiếng cực kỳ bảo thủ — cũng bác bỏ lập luận rằng đang tồn tại một “cuộc xâm lược” cho phép chính phủ trục xuất người khỏi đất nước mà không cần xét xử.

Trong một dấu hiệu cho thấy chúng ta đã xa rời đến mức nào khỏi một chính quyền vận hành dựa trên sự thật, một tòa án khác, khi phải xem xét liệu một cặp vợ chồng có phải thành viên băng TdA hay không, kết luận rằng chính phủ thậm chí còn chưa chứng minh được sự kiện căn bản ấy — trong khi đó hiển nhiên là điều kiện tiên quyết để biện minh cho việc trục xuất họ với lý do là thành viên TdA (ngay cả giả sử TdA thật sự đang tiến hành một cuộc “xâm lược”). Đối với người vợ, tòa nhận thấy chính phủ không đưa ra được bất kỳ dữ kiện nào đủ để kết luận bà thuộc TdA; còn đối với người chồng, “bằng chứng” duy nhất chỉ là việc ông kết hôn với vợ mình.

Những lời dối trá về người nhập cư thậm chí còn được dùng để nhắm vào trẻ em nhập cư. Trong kỳ nghỉ Lễ Lao động năm 2025, chính quyền Trump tìm cách trục xuất hàng trăm trẻ vị thành niên khỏi Hoa Kỳ mà không qua bất kỳ thủ tục tư pháp nào. Đêm thứ Bảy hôm đó, các nhân viên ICE kéo tới các trung tâm bảo trợ và nhà chăm sóc nuôi dưỡng để gom trẻ em lại, lôi chúng ra khỏi giường giữa đêm khuya. Sau đó, chính quyền Trump vội vã đưa hàng chục em lên máy bay tới Guatemala. Hãy nhớ rằng khi chính quyền làm điều tương tự với người lớn — xích họ rồi quẳng vào một nhà tù khốn khổ ở El Salvador — Tối cao Pháp viện đã nhất trí 9–0 rằng hành động ấy vi phạm quyền được xét xử công bằng của họ. Những đứa trẻ này cũng có quyền được hưởng thủ tục pháp lý đúng đắn trước khi bị trục xuất, và còn được bảo vệ bởi một đạo luật của Quốc hội quy định riêng về quy trình tư pháp bắt buộc phải tuân theo khi trục xuất trẻ em khỏi đất nước. Nhưng điều đó vẫn không bảo vệ nổi chúng trước một chính quyền không chịu tuân thủ pháp luật.

Hóa ra, chính quyền ấy cũng chẳng hề tuân thủ sự thật. Chỉ nhờ phản ứng cực nhanh của luật sư đại diện cho một số đứa trẻ mà tòa án mới được báo động vào sáng sớm Chủ nhật về những gì ICE đang làm. Vị thẩm phán liên bang trực khẩn cấp cuối tuần đó lập tức mở phiên điều trần. Không hề nao núng, chính quyền Trump lại tiếp tục viện tới những tuyên bố sai sự thật để biện minh cho hành vi của mình. Chính phủ chẳng những không tỏ ra hối lỗi mà còn áp dụng đúng câu ngạn ngữ cũ: “phòng thủ tốt nhất là tấn công.” Theo lời luật sư đại diện chính phủ, các luật sư của bọn trẻ mới là những người đáng bị khiển trách vì đã “quá đáng một cách trắng trợn” khi tìm cách cản trở việc “đoàn tụ” trẻ em với cha mẹ — điều mà luật sư Bộ Tư pháp Trump khẳng định rằng một hoặc cả hai phụ huynh đã yêu cầu.

Vị thẩm phán liên bang lưu ý rằng các luật sư của nguyên đơn phản bác hoàn toàn khẳng định ấy của chính phủ. Chẳng hạn, một đứa trẻ đã nộp bản khai có tuyên thệ nói rằng mẹ em đã qua đời (vì thế không thể nào yêu cầu “đoàn tụ”), còn cha em thì từng bạo hành em khi nhỏ. Theo nhận định của tòa, ở đây tồn tại một tranh chấp thực tế rất quan trọng: liệu chính quyền Trump có thật sự chỉ đang tìm cách đoàn tụ trẻ em với cha mẹ theo yêu cầu của họ, như họ khẳng định mà không đưa ra bất kỳ bằng chứng hỗ trợ nào? Hay phía nguyên đơn — vốn đã nộp chứng cứ có tuyên thệ — mới đúng khi cho rằng không hề có bất kỳ yêu cầu đoàn tụ nào? Vấn đề này đặc biệt quan trọng bởi chính phủ lập luận rằng họ không bị ràng buộc bởi đạo luật của Quốc hội về thủ tục trục xuất, vì những gì họ đang làm chỉ là “hồi hương và đoàn tụ” trẻ em với cha mẹ theo nguyện vọng của chính các gia đình.

Tòa án lập tức nhấn nút tạm dừng, ngăn chính phủ tiếp tục trục xuất bọn trẻ — ít nhất là tạm thời — cho tới khi các vấn đề thực tế và pháp lý được làm rõ tại phiên điều trần. Nhưng thay vì chờ phán quyết, Nhà Trắng lập tức phản công nhắm vào vị thẩm phán.

“Vị thẩm phán của Biden thực chất đang bắt cóc những đứa trẻ nhập cư này và ngăn chúng trở về quê hương với cha mẹ của mình,” trợ lý Trump là Stephen Miller viết trên X ngay trong ngày hôm đó.

Phiên điều trần diễn ra chỉ vài ngày sau đó. Vị thẩm phán được phân công, thẩm phán liên bang Timothy Kelly của Đặc khu Columbia, không phải là một “thẩm phán của Biden”; ông được chính Trump bổ nhiệm trong nhiệm kỳ đầu tiên. Nhưng điều đó không ảnh hưởng gì tới việc ông tuân thủ lời tuyên thệ thi hành công lý một cách vô tư, không thiên vị và không run sợ trước áp lực. Thẩm phán Kelly bác bỏ lập luận của chính phủ — vốn mới chỉ được đưa ra vài ngày trước — rằng họ đang tiến hành “đoàn tụ” trẻ em với sự đồng thuận của cha mẹ. Trước bản báo cáo từ Tổng chưởng lý Guatemala, chính phủ buộc phải quay ngoắt một trăm tám mươi độ và thừa nhận rằng trên thực tế họ không hề có sự đồng ý của các bậc phụ huynh. Sự thay đổi ấy không lọt khỏi mắt thẩm phán Kelly. Ông viết về luận điểm “đoàn tụ” của chính phủ như sau:

“Nhưng lời giải thích ấy [về việc được cho là ‘đoàn tụ’] sụp đổ như một ngôi nhà bằng giấy chỉ khoảng một tuần sau đó. Không có bất kỳ chứng cứ nào trước tòa cho thấy cha mẹ của những đứa trẻ này đã yêu cầu đưa chúng trở về. Ngược lại, Tổng chưởng lý Guatemala cho biết các quan chức thậm chí còn không thể tìm ra cha mẹ của phần lớn những đứa trẻ mà các bị đơn [các cơ quan và viên chức thuộc chính quyền Trump] xác định là phù hợp với kế hoạch ‘đoàn tụ’ của họ. Và không một ai trong số những phụ huynh được tìm thấy từng yêu cầu con mình trở về Guatemala.”

Bản báo cáo của Guatemala đã bác bỏ hoàn toàn tuyên bố thực tế của chính quyền Trump rằng họ chỉ đơn giản đang đưa hàng trăm trẻ em trở về đoàn tụ với cha mẹ theo đúng nguyện vọng của các gia đình. Đáng chú ý là chính phủ không hề cung cấp báo cáo của Tổng chưởng lý Guatemala cho tòa án, mặc dù tôi rất khó tin rằng họ không biết tới tài liệu ấy. Thực ra, nếu họ thật sự không biết thì điều đó còn đáng lên án hơn nữa, bởi chính phủ khẳng định rằng họ đang phối hợp với Guatemala, trong khi toàn bộ cơ sở pháp lý mà họ viện dẫn lại dựa trên những sự kiện mà họ chưa hề xác minh, dù hoàn toàn có khả năng xác minh được. Báo cáo ấy chỉ được phơi bày nhờ báo chí thông tin cho công chúng biết. Và khi nó xuất hiện, các luật sư của chính quyền Trump không hề phủ nhận nội dung báo cáo, cũng không đưa ra bất cứ lời giải thích nào với thẩm phán Kelly về lý do tại sao chỉ vài ngày trước đó họ lại trình bày điều hoàn toàn ngược lại.

Toàn bộ chuỗi lừa dối ấy được tiến hành chỉ nhằm trục xuất trẻ em mà không thông qua thủ tục pháp lý đúng đắn, trong khi chính phủ vốn có sẵn một hệ thống pháp luật hoàn toàn đầy đủ để sử dụng. Nhưng thay vì khởi động thủ tục trục xuất theo quy định của pháp luật, chính phủ đã phớt lờ cả luật pháp lẫn sự thật. Và qua đó, họ phơi bày một vấn đề còn đen tối hơn.

Sự ngược đãi đối với những đứa trẻ Guatemala này, đối với các “nghi phạm” TdA trưởng thành, và đối với vô số người khác, đều có chung một cội rễ: những lời dối trá nhằm mô tả người nhập cư không giấy tờ và dân nhập cư như những sinh thể kém hơn con người. Việc những người này hầu hết thuộc các cộng đồng Da đen và Da màu càng làm lộ rõ thông điệp dân tộc chủ nghĩa da trắng mà chính quyền này liên tục phát đi. “Bọn họ” bị mô tả như đang đầu độc cơ thể chính trị của nước Mỹ và cần phải bị loại bỏ như một khối u ác tính nguy hiểm. Canh bạc chính trị ở đây là: sẽ không có đủ người quan tâm tới thủ tục tố tụng đúng đắn nếu những kẻ bị tước đoạt các quyền ấy không phải là người da trắng, hoặc có thể dễ dàng bị khắc họa như những kẻ “không đáng cảm thông”. Chính toan tính ấy giải thích cho nỗ lực phi thường của chính quyền trong việc công khai bôi nhọ những người bị cưỡng bức trục xuất một cách chóng vánh.

Vụ việc khét tiếng của Kilmar Armando Abrego Garcia chỉ là một minh họa đau lòng cho hiện tượng ấy. Ngày 12 tháng 3 năm 2025, chính quyền Trump bắt giữ Abrego Garcia trái pháp luật khi ông đang rời nơi làm việc ở Baltimore, rồi đưa ông sang El Salvador. Điều này vi phạm trực tiếp một lệnh tòa trước đó vốn nghiêm cấm việc đưa ông tới El Salvador, bởi ông đã chứng minh trước một thẩm phán Mỹ rằng mình có cơ sở chính đáng để lo sợ bị trả thù nếu bị gửi về đó. Tệ hơn nữa, sau khi bị đưa khỏi Hoa Kỳ mà không qua xét xử, Abrego Garcia không hề được tự do tại El Salvador: ông bị tống vào nhà tù CECOT để mục rữa trong đó mà không ai biết bao giờ mới được thả. Một khi đã “cất giấu” Abrego Garcia trong nhà tù nước ngoài, chính phủ quay sang tuyên bố rằng họ không thể đưa ông trở lại Hoa Kỳ. Điều này bất chấp thực tế rằng chính Hoa Kỳ đã trả cho El Salvador hàng trăm nghìn đô-la để giam giữ ông cùng nhiều người khác.

Không chỉ là một lập luận hoang đường, đó còn là sự tàn nhẫn. Tôi không thể tưởng tượng nổi bất kỳ lãnh đạo Bộ Tư pháp nào mà tôi từng làm việc cùng qua nhiều đời chính quyền Cộng hòa lẫn Dân chủ lại phản ứng theo cách ấy. Hãy thử hình dung bạn bước vào phòng cấp trên và báo rằng mình vừa trục xuất trái pháp luật một người khỏi đất nước, bất chấp lệnh của tòa án. Và giờ đây người đó đang bị nhốt trong tù ở nước ngoài chính vì hành vi bất hợp pháp của bạn. Bất kỳ người tử tế và có đạo đức nào cũng sẽ hỏi: “Chúng ta có thể đưa anh ta trở lại Hoa Kỳ nhanh đến mức nào?” Chính quyền Trump có làm như vậy không? Không. Họ chọn một con đường hoàn toàn khác: bôi nhọ người nhập cư ấy để công chúng chẳng còn quan tâm chính phủ đã làm gì với ông ta.

Luật sư Bộ Tư pháp xử lý vụ Abrego Garcia là Erez Reuveni đã trực tiếp xác nhận rằng ông bị yêu cầu phải gọi Abrego Garcia là “kẻ khủng bố”, nhưng ông từ chối nếu không được cung cấp bằng chứng — nói cách khác, ông không chịu nói dối trước tòa. Reuveni không phải người sót lại từ thời Biden; ông là một luật sư chuyên nghiệp lâu năm, từng biện hộ cho nhiều vụ nhập cư của chính quyền Trump và mới được Bộ trưởng Tư pháp của Trump thăng chức không lâu trước đó. Thế nhưng chính vị Bộ trưởng ấy lập tức sa thải ông. Sau đó, bà còn xuất hiện trên truyền hình quốc gia để bôi nhọ Abrego Garcia. Động cơ ở đây hoàn toàn là chính trị chứ không phải pháp lý: tại sao người dân phải bận tâm tới những chi tiết “lặt vặt” như quyền hiến định hay việc Bộ Tư pháp có vi phạm lệnh tòa hay không, nếu người bị đối xử như vậy là một kẻ xấu và nguy hiểm?

Mức độ sai trái ở đây còn sâu hơn thế: với tư cách Bộ trưởng Tư pháp, Bondi hẳn phải biết rằng việc Abrego Garcia có phải là khủng bố hay không hoàn toàn không liên quan tới câu hỏi pháp lý trọng tâm: liệu Bộ Tư pháp có vi phạm lệnh tòa đã tồn tại trước đó hay không. Abrego Garcia có quyền được xét xử trước khi bị bắt giữ và trục xuất khỏi đất nước. Chính phủ phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình, còn Abrego Garcia có quyền phản bác các dữ kiện và lập luận pháp lý. Đó chính là lý do vì sao chúng ta có các phiên tòa hình sự. Mọi bị cáo đều có quyền được hưởng thủ tục tố tụng đúng đắn, và chính phủ phải chứng minh tội trạng vượt qua ngưỡng “không còn nghi ngờ hợp lý.” Chính phủ không thể bỏ qua bước ấy chỉ vì Bộ trưởng Tư pháp lên Fox News tuyên bố rằng bà nghĩ bạn là một kẻ xấu.

May thay, chiến thuật mới của chính quyền Trump đã bị tòa phúc thẩm phụ trách vụ việc bác bỏ một cách dứt khoát. Bản ý kiến của tòa do thẩm phán J. Harvie Wilkinson chấp bút — một nhân vật bảo thủ được phe hữu kính trọng gần như cách phe cấp tiến nhìn nhận Ruth Bader Ginsburg. Ông bắt đầu bằng điều hiển nhiên nhất, thứ giờ đây buộc phải được nhắc lại vì những gì chính quyền Trump đang làm:

“Chính phủ khẳng định rằng Abrego Garcia là một phần tử khủng bố và là thành viên MS-13. Có thể đúng, mà cũng có thể không. Nhưng dù thế nào đi nữa, ông ấy vẫn có quyền được hưởng thủ tục tố tụng đúng đắn. Nếu chính phủ tin chắc vào lập trường của mình, thì họ cũng nên tin rằng lập trường ấy sẽ thắng thế trong một tiến trình pháp lý” nhằm trục xuất Abrego Garcia khỏi đất nước.

Còn đối với nỗ lực phủi tay khỏi Abrego Garcia bằng cách tuyên bố rằng chính phủ bất lực, không thể đưa ông trở lại, thẩm phán Wilkinson hoàn toàn không chấp nhận. “Không còn nghi ngờ gì nữa: chính phủ đã làm sai vụ này,” ông viết một cách thẳng thừng. Bằng thứ ngôn ngữ đời thường, giản dị để ai cũng có thể đọc và hiểu, ông nói rằng: “Chính phủ đã thừa nhận Abrego Garcia bị trục xuất sai trái hay ‘nhầm lẫn.’ Vậy thì tại sao họ lại không sửa điều sai ấy cho đúng trở lại?”

Wilkinson không phải người duy nhất lên tiếng. Một đồng nghiệp của ông trên ghế thẩm phán đã gay gắt lên án chính phủ vì trừng phạt Reuveni chỉ vì ông thực hiện đúng nghĩa vụ phải trung thực trước tòa. Là luật sư, tất cả chúng tôi đều được đào tạo rằng mình có nghĩa vụ bảo vệ thân chủ một cách tận tâm, nhưng nghĩa vụ ấy vẫn đứng sau “nghĩa vụ thành thật” đối với thẩm phán, với tư cách là “sĩ quan của tòa án.”

Thẩm phán Wilkinson cũng không hề che giấu sự phẫn nộ của mình trước tình trạng vô pháp và dối trá mà ông đang chứng kiến.

“Chính phủ đang tự cho mình quyền tống những cư dân của đất nước này vào các nhà tù nước ngoài mà không cần đến dù chỉ là hình thức tối thiểu của thủ tục tố tụng đúng đắn — nền tảng của trật tự hiến pháp của chúng ta. Hơn nữa, họ thực chất còn tuyên bố rằng vì họ đã từ bỏ quyền giam giữ, nên chẳng còn gì có thể làm được nữa. Điều đó không chỉ phải khiến các thẩm phán chấn động, mà còn phải làm rung chuyển chính cảm thức tự do bản năng mà người Mỹ — kể cả những người rất xa các phòng xử án — vẫn luôn trân quý.”

Theo kết luận của ông, điều bị đe dọa trong vụ Abrego Garcia chính là pháp quyền:

“Không cần phải tưởng tượng quá nhiều mới nhận ra rằng đây là con đường dẫn tới sự vô pháp tuyệt đối.”

Wilkinson kết thúc bằng một lời khẩn cầu gửi tới Nhà Trắng: hãy quay đầu trước khi quá muộn. Ông viết rằng:

“Hoàn toàn có thể nhìn thấy trong vụ việc này mầm mống của một cuộc khủng hoảng, nhưng đồng thời nó cũng có thể là một cơ hội. Chúng tôi vẫn cố bám víu vào hy vọng rằng không phải là quá ngây thơ khi tin rằng những người đồng sự đáng kính của chúng ta trong ngành hành pháp vẫn xem pháp quyền là cốt lõi của tinh thần Mỹ. Vụ việc này chính là cơ hội đặc biệt của họ để chứng minh giá trị ấy và khơi dậy phần tốt đẹp nhất trong chính chúng ta, khi vẫn còn kịp.”

Nhưng lời khẩn thiết đầy tâm huyết của vị thẩm phán bảo thủ ấy chỉ nhận lại sự chế giễu thô lỗ và non nớt từ Nhà Trắng. Kèm dòng chữ “Đã sửa lại giúp các bạn nhé, @NYTimes,” Nhà Trắng đăng lên mạng một phiên bản đã bị chỉnh sửa của tiêu đề bài báo từ New York Times về vụ việc. Họ gạch bỏ chữ “wrongly” (“sai trái”) và cụm “Maryland Man” (“người đàn ông Maryland”), thay vào đó là mô tả Abrego Garcia như một “Kẻ nhập cư bất hợp pháp thuộc MS-13,” rồi nguệch ngoạc thêm dòng chữ: “Kẻ sẽ không bao giờ quay lại.”

Điều cay đắng trớ trêu trong toàn bộ câu chuyện này là: trong tất cả các đời tổng thống Hoa Kỳ, Donald Trump lẽ ra phải là người hiểu rõ nhất giá trị của thủ tục tố tụng đúng pháp luật. Chỉ vì chính phủ khẳng định một điều nào đó không có nghĩa điều ấy là sự thật; chính phủ phải đưa ra bằng chứng để chứng minh cho cáo buộc của mình. Trong cả bốn vụ án hình sự nhằm vào bản thân, Trump đều được hưởng đầy đủ quyền được xét xử công bằng mà giờ đây ông đang tước bỏ khỏi vô số người khác.

Không chỉ quyền được xét xử đúng pháp luật ở Mỹ bị xói mòn, các tòa án còn xác định rằng những sự xuyên tạc trắng trợn đang được dùng để biện minh cho việc đưa quân đội vào các thành phố của chúng ta — ít nhất là các thành phố “xanh”, tức những nơi do phe Dân chủ kiểm soát. Chính quyền Trump khẳng định rằng các biện pháp thực thi pháp luật thông thường không còn đủ sức kiềm chế bạo lực tại những nơi mà họ gọi là “tàn phá bởi chiến tranh”. Đã đến lúc phải điều lính thủy đánh bộ vào cuộc. Và cả Vệ binh Quốc gia nữa.

Một thẩm phán liên bang khác đã mô tả những khẳng định mang tính “sự thật” của Trump và chính quyền ông là “hoàn toàn không dính dáng gì tới thực tế”. Đó là một cách nói khá lịch sự để chỉ rằng chúng chỉ là một đống lời dối trá. Vị thẩm phán ấy — cũng do chính Donald Trump bổ nhiệm trong nhiệm kỳ đầu — vẫn trung thành với lời tuyên thệ của mình: xét xử vụ việc mà không thiên vị hay e dè bất kỳ bên nào. Điều đó không ngăn được Stephen Miller lên án phán quyết của bà là một phần của “cuộc nổi loạn pháp lý”. Còn Thứ trưởng Tư pháp Todd Blanche thì phát biểu trước Hiệp hội Federalist rằng đã đến lúc phải tiến hành một “cuộc chiến” chống lại các thẩm phán này.

Sự len lỏi của dối trá và lừa mị vào chính sách công không chỉ dừng ở chuyện gian lận bầu cử, bôi nhọ người nhập cư hay sử dụng quân đội trong nước. Dối trá hiện diện khắp nơi: về COVID và vaccine, về sự can thiệp của Nga vào bầu cử, về việc đã tiêu diệt ISIS. Gần đây hơn, những hành động xâm phạm chủ quyền Venezuela của Mỹ — từ việc đánh chìm tàu ngoài khơi cho tới bắt cóc tổng thống nước này — đều được biện minh bằng cái cớ rằng chính quyền đang ngăn chặn ma túy tràn vào Hoa Kỳ. Điều đó mâu thuẫn hoàn toàn với thực tế: Mỹ vẫn ở lại Venezuela để vận hành ngành dầu khí của nước này, đồng thời lại ân xá cho một cựu tổng thống Honduras từng bị kết tội âm mưu đưa bốn trăm tấn cocaine vào Hoa Kỳ.

Kiểu lừa dối chính trị ấy — và các hành động được dựng lên từ nó — đang đe dọa an ninh quốc gia của chúng ta bằng cách biến nước Mỹ thành kẻ bị ruồng bỏ trong cộng đồng quốc tế. Chẳng hạn, những hành động của chính quyền Trump đối với Venezuela cho thấy sự coi thường luật pháp quốc tế — điều mà phần lớn các chuyên gia uy tín đều cho là đã bị vi phạm. Nhưng tác hại của chúng còn trực tiếp hơn thế nhiều.

Tung ra những lời dối trá về hiệu quả của các phương thuốc chữa bệnh không làm cho bệnh tật biến mất — ngược lại mới đúng. Những chính sách dựa trên điều giả dối, chẳng hạn dùng các học thuyết lang băm để biện minh cho việc cắt ngân sách nghiên cứu khoa học y tế đầy triển vọng, rốt cuộc sẽ gây hại cho sức khỏe của cả quốc gia. Phủ nhận sự tồn tại của một kẻ thù nguy hiểm — dù đó là dịch bệnh, một quốc gia thù địch hay một tổ chức khủng bố — không bao giờ là chiến lược hiệu quả để đánh bại mối đe dọa ấy. Đó chỉ là thứ vàng giả đánh lừa người ta, giúp tô vẽ ảo tưởng thành công của Donald Trump, giống hệt cách Kenneth Lay từng dùng dối trá để tô hồng Enron.

Ngoài những lời nói dối trắng trợn, sự lừa dối còn mang một hình thức khác cũng nguy hiểm không kém: che giấu sự thật khỏi công chúng.

Trong vụ Abrego Garcia, luật sư của vị công tố viên liên bang bị sa thải đã nộp đơn tố giác, cho rằng thân chủ của mình mất việc vì đã nói sự thật với tòa án. Người đứng đầu Cục Thống kê Lao động cũng bị cách chức sau khi công bố những số liệu kinh tế ảm đạm. Điều đáng nói là chẳng ai giải thích các phép tính của bà sai ở đâu. Thực tế, trước đó những phép tính ấy từng được ca ngợi là chính xác khi bà công bố các chỉ số kinh tế tích cực. Vậy điều gì đã thay đổi, ngoài việc các dữ kiện ấy không còn phù hợp với câu chuyện mà Nhà Trắng muốn kể?

Trong những trường hợp như vậy, chính quyền Trump đặt cược rằng: giết được người đưa tin thì cũng sẽ giết luôn cả thông điệp. Trong thế giới Trump, “không nghe điều xấu, không thấy điều xấu” đồng nghĩa với “không có điều xấu nào tồn tại”.

Ta đã thấy điều tương tự khi Trump chế giễu số liệu chính thức về số ca COVID tại Mỹ bằng lập luận rằng các con số cao “chỉ vì chúng ta xét nghiệm quá nhiều”. Theo logic ấy, nếu chính quyền ngừng đếm số ca nhiễm hoặc không công bố chúng, thì nhận thức của công chúng về vấn đề cũng sẽ biến mất — như những đứa trẻ lấy tay che mắt rồi tưởng rằng người khác không còn nhìn thấy mình nữa.

Việc gỡ bỏ các trang web và cơ sở dữ liệu của chính phủ; sửa đổi các sự kiện lịch sử trong bảo tàng; kín đáo thúc ép bang Georgia “tìm ra” đúng 11.780 phiếu bầu; hay ép Ukraine tuyên bố đang điều tra đối thủ chính trị mà không tiết lộ việc họ bị cưỡng ép phải đưa ra tuyên bố ấy — tất cả đều là những biểu hiện của cuộc khủng hoảng trung thực.

Những lời dối trá và lừa mị không bị kiểm soát đang khoét rỗng nền dân chủ của chúng ta. Lời cảnh báo đầy đau đớn của Thẩm phán Wilkinson là một trong những tiếng chuông đáng nhớ nhất về hậu quả mà những giả dối ấy gây ra. Và ông không phải người duy nhất gióng lên hồi chuông báo động. Nhiều thẩm phán khác cũng đang làm điều tương tự.

Có một lời cảnh báo đặc biệt khiến tôi nhớ mãi: lời của vị thẩm phán liên bang chủ tọa vụ án Paul Manafort.

Nhìn lại, những tội ác của Manafort gần như là hình ảnh thu nhỏ cho tình trạng vô pháp và dối trá bao trùm cả hai chính quyền Trump. Manafort từng làm quản lý chiến dịch tranh cử của Trump trong vài tháng năm 2016. Năm 2017, tôi được Công tố viên Đặc biệt Robert Mueller giao phụ trách nhóm điều tra Manafort. Chỉ trong vài tháng, hai đại bồi thẩm đoàn khác nhau đã truy tố Manafort với hàng loạt tội danh: gian lận ngân hàng, gian lận thuế, rửa tiền, mua chuộc nhân chứng, khai man với Bộ Tư pháp, và vi phạm Đạo luật Đăng ký Đại diện Nước ngoài (“FARA” — quy định mọi cá nhân làm việc cho một thế lực nước ngoài nhằm tác động đến chính sách Hoa Kỳ phải đăng ký với Bộ Tư pháp).

Cuối cùng, một bồi thẩm đoàn tại Virginia kết tội Manafort tám tội danh; ít lâu sau, ông ta nhận tội thêm hai cáo buộc nữa tại Washington, DC, đồng thời tuyên thệ thừa nhận trách nhiệm đối với toàn bộ những tội danh còn lại trong cả hai bản cáo trạng.

Cốt lõi của hầu hết các cáo buộc ấy là những lời nói dối của Manafort. Ông ta nói dối ngân hàng, cơ quan thuế vụ và các công tố viên liên bang — thông qua chính luật sư biện hộ của mình, người mà ông ta cũng lừa dối luôn. Tất cả những lời nói dối ấy, khác với lời dối trá của chính trị gia đối với công chúng, đều đã được luật hình sự quy định rõ là phạm pháp. Quốc hội Hoa Kỳ đã quyết định rằng các kiểu dối trá ấy là bất hợp pháp, và chính điều đó cho phép chúng tôi buộc Manafort phải chịu trách nhiệm.

Trong phiên tuyên án ngày 13 tháng 3 năm 2019, Thẩm phán Amy Berman Jackson nhận xét rằng thật khó “để nói quá lên về số lượng lời dối trá, mức độ gian lận và quy mô tiền bạc phi thường liên quan trong vụ án này”. Bà nói Manafort đã che giấu thu nhập của mình:

“khỏi nhân dân Mỹ — những người vẫn đóng thuế đầy đủ để chính phủ, quân đội, bộ máy an ninh quốc gia, các bệnh viện dành cho cựu chiến binh và mọi thiết chế mà người dân bình thường dựa vào có thể vận hành. Vì sao ông ta làm vậy? Không phải để nuôi gia đình, mà để duy trì một lối sống xa hoa và phung phí đến cực độ. Nhiều căn nhà hơn một gia đình có thể sử dụng, nhiều bộ vest hơn một người đàn ông có thể mặc.”

Thẩm phán Jackson còn kết luận rằng việc Manafort nói dối các điều tra viên thuộc nhóm Mueller gây ra một hậu quả tai hại khác: nó cản trở khả năng điều tra sự can thiệp của Nga vào cuộc bầu cử năm 2016 cũng như khả năng phối hợp với chiến dịch Trump. Bà bác bỏ lập luận của Manafort rằng không hề có “thông đồng” với Nga, và nói rằng:

“Không mấy thuyết phục khi ông lập luận rằng cuộc điều tra chẳng phát hiện được gì, trong khi chính ông lại nói dối các điều tra viên.”

Trước khi kết thúc phần tuyên án, Thẩm phán Jackson còn nói một điều mà tôi chưa từng quên. Muốn tồn tại, dân chủ cần có sự thật — và tòa án là một trong số ít nơi mà sự thật vẫn còn ý nghĩa.

“Sự coi thường sự thật làm suy đồi diễn ngôn chính trị của chúng ta và đầu độc cả quá trình hoạch định chính sách. Nếu người dân không có được sự thật, dân chủ không thể vận hành.”

Về việc làm sao phân biệt đâu là sự thật giữa cơn hỗn loạn công cộng đầy dối trá ấy, bà nói:

“Tòa án là một trong những nơi mà sự thật vẫn còn quan trọng.”

Thế nhưng, khi đối diện với những lời dối trá chính trị — những lời phủ nhận, bóp méo hay che giấu sự thật và vì thế đâm thẳng lưỡi dao vào tim nền dân chủ — thì các tòa án lại không thể làm công việc thiết yếu ấy.

Bởi vì chính chúng ta đã không cho phép họ làm.

Manafort bị tuyên tổng cộng bảy năm rưỡi tù giam, nhưng Trump đã ân xá cho ông ta vào năm 2021, ngay trước khi rời Phòng Bầu dục. Khi ấy Manafort mới thụ án chưa đầy hai năm.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search