Giai thoại làng văn
Chế Lan Viên một thời, dựa thế Tố Hữu cũng hách lắm. Tô Hoài gọi là thằng nặc nô của đảng. Hồi chỉnh huấn văn nghệ sĩ, Chế Lan Viên làm tổ trưởng, nói với Nguyễn Tuân: ông tưởng ông to lắm à? Tôi phụ trách ông kia mà! Họp chấp hành, ý kiến Chế Lan Viên là quyết định. Thí dụ, ban chấp hành bàn có nên kết nạp Phan Quang không? Mọi người chờ ý kiến của Chế Lan Viên. Chế Lan Viên đi đái vào, nói: “Thằng Thép Mới nó còn ở ban chấp hành được thì thằng Phan Quang sao không cho vào hội được!”. Ai cũng gọi là thằng tuốt; Thằng Nguyễn Đình Thi, thằng Tô Hoài, thằng Hoàng Trung Thông, chẳng sợ ai cả.
Nhưng Chế Lan Viên chết rất khổ. Vợ là Vũ Thị Thường phục vụ rất mệt. Gần chết hay quát tháo vợ con. Vũ Thị Thường nói chỉ thèm được ngủ, khi Chế Lan Viên chết, việc đầu tiên là ngủ bù một giấc, dậy mới có sức mà khóc.
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)
Chữ nghĩa làng văn
“Chó má”: khen con nít mới đẻ xinh tốt, mà không dám nói ngay.
(Tự điển Huỳnh Tịnh Của)
Tên nhân vật trong tác phẩm
Tên nhân vật được đặt nhiều nhất là: Lão Hạc.
Kẻ săn chó (Lưu Thủy Hương) – Con chó xấu xí (Kim Lân)
Lão Hạc (Nam Cao) – Chuyện nhỏ xóm nghèo (Y Ban).
(Phụ đính: Những truyện ngắn trên: Chó đi với chủ tên là …Hạc)
Hư cấu (I)
Hư cấu là phương thức xây dựng hình tượng điển hình qua việc sáng tạo ra những giá trị mới, như sự kiện, cảnh vật, nhân vật trong một tác phẩm theo sự tưởng tượng của tác giả. Đây là một yếu tố không thể thiếu của sáng tác văn học nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống nhưng không sao chép nguyên nó. Từ những chất liệu thực tế, nhà văn nhào nặn, sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật sinh động, rõ nét…
Lần đầu tiên khái niệm hư cấu được các nhà tư tưởng cổ Hy Lạp triết luận trong những bình giảng về thơ văn, theo họ thơ văn trước hết như là sự bắt chước, nhưng người sáng tác vẫn có quyền được hư cấu.
Văn học thế kỷ 20 chứng kiến sự quay trở lại của hư cấu mơ một trong những thủ pháp nghệ thuật bộc lộ rõ ở những tác phẩm vận dụng ước lệ nghệ thuật ở mức độ cao, hoặc gây ấn tượng mạnh. Theo đó nhà văn có thể nói về cái vốn có thực và ngược lại, cũng có thể nói về cái không thể có.
(nguồn Wikipedia)
Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Dakao là biến danh của Đất Mộ (đất của lăng).
Lăng-tô là biến danh của Tân Thuận, tên một làng mà dân Saigon thường đến hóng mát (pointe des flaneurs).
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)
Tiếng Việt dễ nhưng…thương không dễ
Con lợn từ Bắc xuống Nam bị hóa kiếp thành con heo cũng có điển tích đàng hoàng:
“Paulus Huỳnh Tịnh Của là một học giả người miền Nam, trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, ông đã giải nghĩa lợn là heo, là giống lục súc béo hơn hết. Đúng như con lợn tự khoe: “Nội trong hàng lục súc với nhau – Ai sánh đặng mình heo béo tốt?”.
Đọc Việt sử, người miền Nam phần lớn là những di dân từ miền Trung tràn xuống, tiếng nói của họ nặng, khi phải bẩm trình với quan lớn, họ lại phát âm thành “quan lợn”. Quan cho là vô phép nên sai lính lấy hèo phạt, ai bẩm “quan lợn” là phải đòn 10 hèo..
Nhiều người bị phạt hèo như vậy, nên khi thấy con lợn họ hình dung ngay ra những cây hèo vút vào mông họ, họ bèn mỉa mai gọi con lợn là “con hèo”. Rồi để khỏi lầm lẫn con lợn với cây gậy quái ác ấy, họ bớt đi dấu huyền, còn lại là…con heo.
Con lợn từ miền Bắc xuống miền Nam thành con heo là như thế.
(Trau giồi tiếng Việt – ĐatViet.com)
Chữ Việt gốc Tầu
Từ mão, đọc ra mẹo rồi hóa ra…mèo
Chữ nghĩa máy vi tính
Xưa, giai thoại được truyền miệng từ người này sang người khác nên được gọi là văn học dân gian. Nay, truyện dân gian thời internet có thêm một nguồn khác được gọi là…chat.
Rao Vặt
Cần bán gấp nhà nhiều phòng 3.000 m2, tường chống đạn, an ninh tốt, có gắn camera, bảo vệ tuần 24/24. Giá thương lượng.
Địa chỉ: Nhà tù Chí Hòa.
Chữ nghĩa tiếng Việt
Sơn Nam với cuốn Tuổi già, mở ra đọc, thấy: “râu ria “bùm tum”, “lật bật” tới chợ”, mất chỗ “đùm đậu”…, những chữ ấy đều không tìm thấy trong bộ Việt Nam tự điển của hội Khai Trí Tiến Ðức.
Nhưng viết nhiều tiếng lạ thì nhà văn Sơn Nam không theo kịp nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Trong một cuốn Tạp văn chẳng hạn, bao nhiêu tiếng mới: cằn nhằn, cử nhử, lượng sượng không biết nói chuyện gì, những bộ quần áo mới má thắt thẻo chắt mót từng lọn rau bó cải để sắm cho con, mưa bắt đầu xập xoài, đầu chờ vờ như con cá lóc gặp nước mặn, mặt trời lựng bựng lên từ phía chân trời, mình cùm nụm cùm nựu lũ nó (tức lũ vịt con) v.v… Ối, phong phú không biết bao nhiêu mà kể.
Tôi ngạc nhiên, lấy làm nghĩ ngợi: Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư ở cuối miền đất mới trong Nam. Ðất mới thì đất đai, cây cỏ, chim muông lắm thứ mới, tập tục phải có chỗ mới mẻ, lời ăn tiếng nói địa phương nảy thêm cái mới, phải thôi…
(Nguyễn Hưng Quốc – Đi tìm Võ Phiến)
Chữ và nghĩa
Hoàn cảnh – Cũng như những chữ ấn tượng, hai chữ “hoàn cảnh” là danh từ nhưng hay được dùng như tĩnh từ.
Chẳng hạn, “Nó hoàn cảnh lắm anh ạ!” Người nghe hiểu là người nói “gặp hoàn cảnh khó khăn,” hoặc “trong hoàn cảnh ngặt nghèo” sao đó! Nên tránh lối viết này, trừ khi cố ý đùa rỡn.
(Ngô Nhân Dụng – Phiếm khảo)
Ca dao tình yêu miền Nam
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị, hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu miền Nam. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, qua những từ ngữ mộc mạc, chân thật với những nỗi nhớ:
“Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên”
(Đoàn thị Thu Vân – Chất hóm hỉnh trong ca dao miền Nam)
Chữ Việt gốc Tầu
Từ ngọ, đọc ra ngự rồi hóa ra…ngựa.
Ngụy và cải tạo
Thời hậu Hồ, họ cũng đốt sách tàn dư ngụy quân, ngụy quyền. Nào có khác gì ‘’nguyên mẫu’’ của nhà Nguyễn với ‘’bản sao’’ Gia Long: Họ có tha gì mà không đốt sạch, phá sạch dấu vết nhà Tây Sơn còn sót lại? Tất cả những gì được gọi là “Nguỵ tây” bị nhà Nguyễn đốt hết. Như tiên sinh vừa khiên cưỡng diễn giải ở trên.
Ngoài cụm từ ngụy quân, ngụy quyền có từ thời Gia Long. Thời hậu ông Hồ còn vay mượn hai chữ ‘’cải tạo’’ có từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Theo trong Đại Nam chính biên liệt truyện thì chúa Nguyễn dành hai vùng “cải tạo’’ là Thủy Xá phía đông và Hỏa Xá phía tây núi Bà Nam thuộc tỉnh Phú Yên cho người Chiêm Thành mất nước. Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã ‘’cải cách’’ và ‘’tạo dựng’’ nơi ăn chố ở có tên : xá, ‘’láng’’…
Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Phú-Nhuận: Nghĩa là giàu sang và thuần nhã, là nơi còn nhiều di tích như: Lăng Đô-đốc Võ Di Nguy, mất tại cửa bể Thị Nại năm 1801. Lăng Trương Tấn Bửu và lăng Võ Quốc Công tức là hậu quân Vũ Tính, nơi đây vua Gia-Long có cho trồng 4 cây thông đưa từ Huế vào để tỏ lòng mến tiếc.
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)
Chữ nghĩa trong thơ
Những phát hiện tâm đắc nhất ở Võ Phiến là những phát hiện trong lãnh vực văn học ở nhịp ngắt: trong khi câu thơ thất ngôn, ví dụ trong thể song thất lục bát, ngược lại, ngắt theo nhịp lẻ/chẵn (hoặc 3/4 hoặc 3/2/2). Dễ thấy nhất là với câu thơ dịch ra tiếng Việt của Phan Huy Vịnh “Bến Tầm Dương / canh khuya đưa khách”. Võ Phiến đi xa hơn, cho câu thất ngôn truyền thống ấy không phải chỉ xuất hiện trong thể song thất lục bát mà còn cả trong thể nói lối của các tuồng hát bộ. Hơn nữa, Võ Phiến còn cho chính câu thất ngôn truyền thống ấy là tiền thân của câu thơ tám chữ thịnh hành trong phong trào Thơ Mới thời 1930-45.
Theo Dương Quảng Hàm, thể ca trù (hay hát nói) là biến thể của lục bát và song thất. Võ Phiến cho thể thơ tám chữ trong phong trào Thơ Mới thực chất là sự mở rộng của câu thơ thất ngôn. Cả hai đều có khuôn nhịp chính giống nhau: lẻ/chẵn, thường là 3/4 trong câu thất ngôn qua Chinh phụ ngâm với “Trống Tràng thành / lung lay bóng nguyệt, và 3/3/2 “Sầu đã chín / xin Người / thôi / hãy hái; Nhận tôi đi / dù địa ngục / thiên đàng”, của thơ Huy Cận. Với cách nhìn như vậy, lịch sử câu thơ tám chữ trong phong trào Thơ Mới bỗng dài ra, gần với truyền thống hơn, và điều này cũng góp phần giải thích tại sao nó lại hoàn chỉnh nhanh và được chấp nhận nhanh đến như vậy.
(Nguyễn Hưng Quốc – Đi tìm Võ Phiến)
Đồng sàng…
“Đồng sàng các mộng” hay “Đồng sàng dị mộng” đồng nghĩa là nằm cùng giường nhưng mộng tưởng khác nhau.
“Đồng tịch đồng sàng” là cùng giường chiếu chỉ nghĩa gắn bó của vợ chồng.
Trong Lục vân tiên có câu: “Cũng chưa đồng tịch đồng sàng”.
Tên gọi người…
Trong Phụ nữ tân văn số 5-1929 có bài thơ tựa đề Sài Gòn của tác giả Hải Khách:
Sài Gòn nguyên thị nhất đô hội
Đủ Tây, Chà, Chệt, Mọi, Cao Mên
Kể chi là đất người quen
Tiêu khiển cũng một đôi phen lếu láo
Vì vậy người Thượng được là “mọi” trước thập niên 30? Bây giờ người trong nước kêu là “người dân tộc”. Hiểu ra là người Việt là…“ngoại tộc”, không phải là người dân tộc!.
(Phan Anh – Chùa Hoa)
Chữ và nghĩa
Còn nhiều nữa, rất nhiều nữa, cả thảy 27 ngàn 400 tiếng Việt như vậy, ta đã cùng nói cùng xài chung, dùng chung, của không biết bao nhiêu là ngôn ngữ anh em chung quanh ta, đến nỗi không có một tiếng Việt nào mà lại không có chung gốc gác với một vài ngôn ngữ khácở miền Đông nam Á này.
Các tiếng nói Đông nam Á như Khmer, Lào, Thái, Chàm, Malay, Indonesia, Nùng, Hmong Bahnar, Rhade, v.v.. bao bọc tiếng Việt mà chúng ta không ngờ đến đó thôi.
Nhưng tiếng Việt có một điểm rất lạ, dễ thì dễ mà khó cũng thật là khó, vì ta tưởng là ta viết đuợc tiếng Việt là ta hiểu được tiếng Việt.
Thật ra ta không hiểu tiếng mẹ đẻ của chúng ta nó ra làm sao cả :
– Ta nói “đau đớn” mà ta không hiểu “đớn”là gì, (đớn là tiếng Mon có nghia là đau cái đau của lòng mình)
– Ta nói “rộn rịp”mà không hiểu “rịp” là gì, (rịp là bận việc, gốc tiếng Lào Thái)
– Ta nói “săn sóc”, chăm “sóc” mà ta chẳng hiểu “săn” là gì và “sóc: là gì. (Săn là theo dõi, “sóc” là sức khoẻ gốc Sanskrit / Pali).
Có cả thảy chừng 10 ngàn tiếng Việt gốc gácnhư thế !
(Nguyễn Hy Vọng – Cái tinh thần đặc biệt của tiếng Việt)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
