gọn gió nào đưa bác tới đây, cũng lâu lắm rồi đấy Bác nhỉ, nhớ năm nào, hình như là cuối xuân sang hạ thì phải. Đường xa vời vợi mệt không Bác, vậy thì cứ tạm ngồi nghỉ một lát, để tôi pha ấm trà, thú thực với Bác, tôi mới biết uống trà gần đây thôi, trà thì phải nói đến cụ Nguyễn Tuân trong “Những chiếc ấm đất”, chỉ thóang một hạt trấu trong ấm trà là các cụ biết ngay. Ấy, tính tôi tôi vẫn lẩn thẩn như vật đấy bác ạ, cứ chuyện này sọ qua chuyện kia, lại thích tẩn mẩn về những ngày tháng cũ, như nhà văn Nguyễn Khải về Hà Nội thăm ông cậu là Hồ Dzếnh…Mà nhắc đến Hồ Dzếnh tôi nằm lòng với hai câu thơ: “Nhớ nhà trong điếu thuốc, khói vàng bay lên cây”, cũng chẳng dấu gì Bác, được Bác cho phép, nói dại chứ cái vườn nhà ngòai kia, chút nữa tôi đưa Bác ra đảo một vòng, thì quanh đi quẩn lại cũng:
Lẩn thẩn ngày qua, lại tháng qua
Nhìn hàng cam quất, con đường cũ
Mấy đứa ngư tiều, đôi bạn thân
Hay là, trong lúc trà dư tửu hậu, ngày rộng tháng dài, tôi với Bác hãy theo hai cậu cháu Hồ Dzếnh thăm ngôi vườn của cụ Vĩnh năm nào:
“…Đừng tưởng hội nhà văn mình là to, cái nghề viết của mình mới có đạo, nghề chơi cây cảnh cũng có cái đạo của nó, không biết nó cũng không ai chết, cũng như không đọc văn cũng không ai chết, nhưng sống sẽ nghèo đi, sẽ buồn hơn và chắc chắn cách sống sẽ tục hơn. Những năm 50, có cụ Vĩnh ở phố Hàng Trống, là bậc sư của nhiều thế hệ trong cái nghề chơi cây cảnh, ai mà có chút ít gì của cụ để lại, một cái chậu, một cái cây, thậm chí chỉ một hòn đá, bây giờ thì vô giá. Chớ có mở miệng hỏi cụ mua cái này cái nọ, muốn mua phải mời cụ bữa rượu rồi nhân trong cái không khí thầy trò, bạn bè trong bữa rượu, ông cụ bốc nhằng lên bằng lòng bán là phải chớp ngay, khi cụ hối thì cũng muộn rồi.
Có lần ông Kim Lân cùng họa sĩ Nguyễn tiến Chung, Phạm văn Đôn, Nguyễn đức Nùng lại thăm cụ Vĩnh, có một ngừơi tiểu đồng, gọi thế thôi, chứ ông ta cũng phải năm chục tuổi, đầu cạo trọc như sư, mặc quần áo nâu đón khách ở nhà dưới rồi mới chạy lên hỏi cụ, hoặc cụ xuống tiếp hoặc cụ cáo bệnh. Một lát sau ông cụ xuống, quần áo lụa nâu, tóc trắng, râu bạc, thần thái phiêu dật như một đạo sĩ.
Trước khi ra vườn xem cây, cụ tự bê một cây cúc mốc, trong Nam gọi là Nguyệt Bạch, đặt lên cái đôn gỗ cao, phía sau là một bức thủy mặc của Tầu. Cái vườn của cụ là thượng uyển của tao nhân mặc khách, với muôn vàn vẻ đẹp của thiên nhiên đã thành mực thước cổ điển, đã thành thơ văn tự bao giờ. Đó là chính thiên nhiên, có sự sống của thiên nhiên nhưng đã được rút nhỏ lại, được gạn lọc lại, để cái đẹp được biểu lộ một cách tòan vẹn. Là hội họa, điêu khắc, thi ca cộng lại. Là những tác phẩm hòan mỹ của tác giả của nó. Là hiện thực và siêu thực. Là cuộc sống bị câu thúc trong hiện tại và những mơ mộng của những con người muôn thuở. Có những ngôi chùa trong hẻm núi, nhưng tường và mái ngói đã bị nứt ra, chùm rễ si buông xỏa xuống. Là một con thuyền ẩn dưới một vòm hang có nhủ đá lóng lánh. Là một ông như ngồi quay lưng lại trên một hòn đá nhỏ.
Nhìn cây tùng già như treo vào vách núi lại nhớ câu thơ của Lý Bạch: “Khô tùng đảo quải ỷ tuyệt bích”. Hoặc một cây tùng mọc chon von trên ngọn núi như trong thơ của Đỗ Phủ: “Minh minh cô cao, đa liệt phong”. Cảnh đã nhập vào thơ, nhập vào hồn, gợi lên cái bâng khuâng khôn tả của người ngắm cảnh, phía xa có một mảnh tường cũ, lở lói một cách cố ý, phủ lên một lượt lá vẩy ốc xanh rì. Một cây mai trắng, trời càng rét mai càng nhiều, trắng như tuyết, không có một cái lá nào, không còn một chút tục nào, ngạo nghễ với gió bấc, nó là Hàn mai. Lại có những chậu cúc Tầu, cúc ống, cánh to cánh ruỗi, đã chơi cúc là coi như bỏ công danh ra ngòai, mải mê suốt năm tháng với nó. Bất chợt thỏang đến, như có như không, cái mùi thơm sang trọng của mấy chậu Địa lan, một mùi thơm mà cụ Khổng Tử đã đặt tên là Vương Giả Chi Hương.
Rải rác đây đó là mấy hòn đá vân xanh, đá là trừu tượng nhất, chả có ý nghĩa gì, chỉ thấy đẹp thôi. Chả ai hiểu gì nhưng đều nhận rằng rất đẹp, cái đẹp còn có ý nghĩa là khó có thể cắt nghĩa được. Không cắt nghĩa được là siêu rồi, là siêu thực chứ còn gì ! Các cụ đã chơi siêu thực tự cái thuở nào, thuở nào chứ không phải đến tự bây giờ.
Nhìn vào vườn của cụ Vĩnh, rồi lại nhìn những con hạc, con lân uốn xén, những chậu cúc, chậu quất đời thường mới thấy là tục. Đó là vườn cảnh của trọc phú, của quan lại, khoe danh khoe của chứ đâu có ý vị thâm trầm gì. Lại còn cá cảnh nữa, người xưa chơi lưng, chơi vây cá, bây giờ họ nhốt cá trong tủ kính, chơi bụng cá, chỉ thấy những cái bụng chình ình, trắng lợt, lượn qua lượn lại với những tia cứt bắn thành vệt.
Đã chơi cây cảnh là cốt dinh dưỡng tính tình, phải tự mình chăm sóc tất cả, không nên nhờ, cũng không nên thuê. Mà cũng khó nhọc, vất vả lắm như thế mới vui, như trồng Địa lan chẳng hạn, nó là lọai hoa vương giả, thích mọc ở kẽ đá, trên mùn lá cây. Đất trồng nó phải lấy lớp bùn thứ để đầu hè, hai năm sau, nó khô trắng mới chặt nhỏ bằng quả vải xếp trong chậu sành, nó ưa chậu sành sốp, vì rễ lan mới thở được, còn chậu men mầu lòe lọet là bỏ, là dẹp.
Chơi lan phải chơi theo mùa, mùa xuân là Hòang lan, Thanh lan, Mặc lan, thu thì Trần mộng, Đông lan, hạ có Bạch lan, Ngọc vân Hội, Ngân biên, đông thì lan ngủ. Lại có lan Tứ thời, thơm lừng lẫy, lá dài hẹp, cứng đơ, trồng lại đẻ khỏe. Nhưng các cụ khinh, liệt vào lọai hoa hèn cỏ nội. Vì sao ? Vì thời nào nó cũng sống được, cũng thơm được, cái thứ hoa nịnh đời, nịnh người đến thế thì trọng làm quái gì.
Ông Nguyễn Tuân không chơi được lan, vì tính vốn lười, chỉ xin thôi, xin cây nào chết cây ấy, ông ta quen được vợ con hầu, bạn bè hầu, nhưng lan nó có chịu hầu ai bao giờ ? Nhưng cũng có những ông chơi rất kỹ, rất công phu mà như không chơi gì cả. Cái chơi và nếp sống như nhập làm một, như trong võ thuật, kiếm với người là một, không còn chiêu số nữa, tức là đạt tới cái đạo của sự chơi rồi.
Đó là trường hợp của ông Trần huyền Trân, nhà ông ở sau nhà thờ Nam Đồng, có một miếng đất nho nhỏ, có vườn và có ao. Ông trồng một bụi trúc trước nhà, kê mấy hòn đá rửa chân, rửa rau ở bờ ao, dưới giàn thiên lý đặt mấy chậu lan, ông Trần chỉ chơi có lan Hạc Đính vì là tên vợ ông, thêm mấy chậu cây thế và một bể cá. Bước vào nhà ông là thấy ngay cái nghèo nhưng thanh cao, phảng phất có mùi thơm của lan, lại nghe tiếng chim gáy gù xa xôi, vắng lặng ở một góc vườn. Trong cái thế giới nho nhỏ, riêng biệt ấy, người ta và trời đất thóang chốc như là một, bỗng nhiên nhận ra cái nực cười của bao nhiêu túi bụi một đời người, trước cái thong dong, thơ thới của cây cảnh và người, nói thì vô chừng. Như ông cậu Hồ Dzếnh của tôi, đã đặt chân đến đất kinh kỳ, từ hơn chục năm về trước, ở phố Hòa Mã, để cầu danh. Nay cũng lui về thành Nam, sống ở ven đô chứ không ở trong thành phố, vui thú điền viên cùng một mảnh vườn nho nhỏ…”.
***
Ấy Bác ạ, vườn nhà tôi không được cái thanh cảnh, trầm mặc và tiên cốt, như khu vườn cụ Vĩnh, nhưng được cái rộng đến một sào rưỡi ta đấy, một sào tức ba trăm sáu mươi mét vuông, hay mười công thợ ngòai Bắc mình chứ ít ỏi gì. Tôi biết Bác đang tặc lưỡi, nhăn mặt với ngôn từ, sao không là bộ, là mét, mà lại rắc rối với sào, với mẫu, ở cái thời buổi gạo châu củi quế này…Vâng, tôi hiểu và tôi không nhà quê, nhà mùa đâu Bác ạ, cũng đi Tây đi Tầu cả đấy chứ, nhưng dài dòng một chút thì thời ông nội tôi, cả tộc hai, ba đời bám vào ba sào ruộng, cũng qua ông cụ đẻ tôi thì ông nội tôi môi mỏng, suốt ngày rượu với thơ phú với mảnh vườn nho nhỏ, công danh phù thế không qua chùm cau, khóm trúc. Đến tam đại, tứ đại là thời thằng cháu đích tôn là tôi, ông cụ đẻ tôi vẫn thường nhiếc, mới nứt mắt đã cây với cỏ, rượu thì như hũ chìm, từ đó, tôi gần gũi ông nội tôi hơn qua hình bóng sào ruộng, mảnh vườn là vậy.
Tôi biết đầu óc Bác đang lùng bùng, nào mời Bác quá bộ ra vườn sau cho thóang đãng một chút, thực tình tôi không biết bắt đầu từ đâu và ngừng lại ở chỗ nào. Này nhé, quẹo trái, đi thẳng hay rẽ phải đều phải bước qua cái cầu…Bác lắc đầu, tôi cũng tự nhận là ôm đồm, thái quá, có một lần, tần mần đếm tới hơn chín cái đủ lọai, cầu gỗ, cầu đá, cầu “bê-tông”. Phẳng lặng quá thì cũng nhàm chán, tôi muốn bước cao bước thấp như lên non tìm động hoa vàng đấy thôi. Vả lại, tôi như chìm đắm trong mấy câu ca dao dân gian:
Giã ơn cái cối, cái chày
Nửa đêm gà gáy, có mày có tao
Giã ơn cái cọc, cầu ao
Nửa đêm gà gáy, có tao có mày
Hình như tôi Bác đang hòa nhập: “Ta đi thơ thẩn bên vườn mộng, em nấp sau hoa khúc khích cười”, thôi Bác ơi, già rồi còn thơ thẩn, mộng với mơ gì nữa, với tôi thì bây giờ chỉ còn bạn bè xa cũng như gần, như cái cọc, cầu ao. Mà Bác vừa hỏi gì vậy, “Cái cọc ?”, không phải cái cọc đâu Bác ơi, đó là mấy cái đế rải rác quanh vườn, người phương Tây thì họ đặt tượng, riêng tôi thì để mấy chậu Bonsai lên cho lạ mắt đấy mà.
Bác nói gì vậy, tôi nghe không rõ, già cả rồi, dạo này tai nó hơi nghễng ngãng, à Bác hỏi vườn tôi là vườn Nhật hả ? Thì cũng phiên phiến, hình thức như làm dáng vậy thôi, tôi nói thực đấy. Nói cho ngay thì tôi cũng chẳng bon chen mầu mè gì lắm đâu, vườn Tầu thì nặng nề, ở quê ta là vườn cây ăn trái, còn Nhật thì nó nhẹ nhàng hơn, cùng lãng đãng một chút nào bàng bạc của Thiền quán. Qua mảnh vườn này, tôi lõm bõm góp nhặt được chút nào hay chút nấy:
“…Bước trên lối đi nhỏ (roji) như lang thang của tâm thức, như góp nhặt sỏi đá trên nẻo đường trần, lác đác với những chiếc lá vàng và bỏ lại đằng sau cơn mê trần. Cũng vì ảnh hưởng của Thiền học, nên vườn Nhật được hài hòa giữa giao động và tĩnh lặng: Giao động được bố cục trong một khu dầy đặc với tùng bách, thác nước, cùng âm động của vô thức, tiếng róc rách rào rạt của máng nước tre chẩy xuống vại, xuống hồ, để bụi trần tan lõang, cùng tiếng thở dài của gió thỏang qua cỏ cây như hệ lụy mang mang bay bổng.
Và tĩnh lặng là khỏang đất trống trải, với rêu phong mọc dầy trên mảng đất mịn, rải rác đâu đây là năm, ba hòn đá thô, thóang trông thì chơi vơi lạc lõng nhưng thực sự được sắp sếp theo khuôn mẫu, có tan có hợp, tất cả chỉ là giấc kê vàng cùng tiếng chuông tỉnh thức, biểu tượng trầm mặc là ngôi chùa bằng đá (ishidoro) thầm lặng dưới tàng cây, ẩn hiện giác ngộ là cơn mộng du giữa ban ngày…”
Bác lắc đầu nhăn mặt, tôi cũng đang u mê, vườn tược quái qủy gì mà khó khăn qúa vậy. Trăm sự tại tôi, lụy vào chữ nghĩa để rồi lằng nhằng, nhồi nhét Bác quá sức. Tôi cũng muốn lơ thơ tơ liễu buông mành cùng khỏang vườn nhỏ bé xinh xinh trong một ngày nắng hanh: “Trèo lên cây bưởi hái hoa, bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”. Làng nước người mình qua đây, mang cả vườn rau, vườn húng, trải rộng khắp hang cùng ngõ hẻm…Bác nói gì “ồm ộp”, ấy đấy, cóc nhái ễnh ương nó rủ rê kêu gọi nhau Bác ạ, thế nào mai trời cũng mưa gầm sấm chớp. Trời đất nghĩ cũng lạ, cứ đào hồ vét ao, là y như rằng, thế nào chuồn chuồn có ngày ở đâu kéo nhau bay về, rồi chiều thế nào cũng ào một cái là mưa, mưa đấy rồi cũng tạnh ngay đấy…
Thôi thì cứ thủng thẳng, mình cứ thong dong vừa đi vừa nói chuyện cỏ cây, nào mời Bác quẹo trái, trước đây là vườn Thiền, chỉ trải sỏi trắng gợn sóng và cô đọng lẻ loi là một hòn đá. Ở đấy, một ngày như mọi ngày, tôi cũng học đòi đi tìm bản ngã của chính mình, nhức đầu chóng mặt, tìm đâu không thấy, chỉ thấy một mầu trắng phẳng lặng buồn nẫu người, cùng tảng đá cục mịch đến vô duyên. Để “ngộ”, để “đạt” bằng cách tôi phá bỏ nó đi, hì hục tướt người đào cái hồ, không có gạch Bát Tràng cho nàng rửa chân, thì tôi loay hoay bắc cái cầu gỗ chênh vênh, tảng đá thì tôi lui cui đục hang, khóet hốc trồng cây lưa thưa như một hoang đảo đơn độc. Còn bức tượng Thiền sư thì tôi vớt vát lại, ông cũng lưu lạc như tôi, nay ngồi không chỉ tay qua bên kia bến nước, như muốn gửi gấm về một khỏanh khắc nào đó, thật xa, xa lắm, nằm tận sâu trong ký ức tự thuở nào:
Ai ra bến nước trông về Bắc
Chỉ thấy mây trôi, chẳng thấy làng
Làng nước của tôi gói ghém và gửi gấm ở cái hóc hẻm này, bác thả bộ thêm vài bước nữa để tôi chỉ cho bác, cái ngõ trúc và con đường nho nhỏ sâu hun hút kia…Đường quê đất Bắc của riêng tôi đấy bác ạ, chưa hết, những cành trúc dầy đặc lá, nghiêng ngả cong dài về một phía, như có một chút âm u nhưng thanh tịnh và vắng lặng, âm hưởng của rặng chuối sau hè. Bác hãy chịu khó lom khom chui dưới vòm trúc ấy và chậm rãi dẵm từng bước…ngõ hẹp ao sâu, chỉ thiếu chút mưa phùn, đường mưa ướt đất với gió heo may, lá cành xào xạc và tận đằng cuối ngõ, xa vắng là cái cầu gỗ chơ vơ. Mà Bác đang lẩn thẩn gì vậy:
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo
Ừ thì cái tuổi này, Bác cũng như tôi, chẳng còn gì để bám víu ngòai quê nhà, cây đa bến cũ, thôi thì còn đó có đó, cứ để đấy đã, mình trở lại cái cửa hồi nãy và ra vườn trước, Bác nhìn cái hồ hơi lạ mắt phải không Bác, lại có cả chiếc cầu gỗ ọp ẹp. Đúng ra mò mẫm với cái thác nước này, tôi cũng có hơi mậy mọ một chút, là dung hòa hòn non bộ của miền bắc Trung Hoa, chỉ thuần đá không thôi và nghệ thuật sếp đá của Nhật, và gán ghép cái tên “Hòn Non Nước”. Ngang mặt hồ, đặt một phiến đá mỏng như hòn cù lao, ở trên ấy tôi sắp ba hòn đá to nhỏ khác nhau, ngất ngưởng theo cái thế thiên, địa, nhân, hòn này gần, cục kia xa, có cao có thấp…
Viết thì viết vậy, nhưng khổ một nỗi, làm xong ngắm đi ngắm lại thì cũng hơi khập khiễng, chẳng khác gì “Cái Giếng” của cụ bà Hồ xuân Hương năm xửa năm xưa:
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nước trong leo lẻo một dòng thông
Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
Bác hỏi tôi hai chữ Nho trên cái chậu kia hả, thực tình tôi cũng lờ mờ vì nó là chữ Nhật, tôi đóan là tsukubai, là hòn đá được khóet sâu như cái vại để chứa nước, dùng để rửa tay trước khi vào trà thất. Nước chẩy qua đốt tre gộc khẳng khiu (kakeki), lửng lơ bắc ngang hòn đá với dòng nước rơi lõm bõm không ngừng nghỉ. Nhưng điểm tôi vừa ý sau này, là hòn đá dựng đứng trơ trọi lừng lững ở hồ trên, gần cả mười năm tôi cứ lấn cấn với nó, rồi một giây phút yên sĩ phi lý thuần ập tới, tôi khoan một cái lỗ làm cái thác nước, nước róc rách từ trên cao len lỏi chẩy xuống qua tàn cây. Chưa hết, sau này tôi lại đục lại đẽo sâu vào đá theo dòng thác như…nước chẩy đá mòn, rồi ngồi dài mòn mỏi đợi một ngày đá sẽ rêu xanh.
Tôi biết Bác hơi…chóang váng, hay là mình tạm ngồi ở cái ghế này một lát, tôi vẫn thường thích ngồi ở đây…Cứ hoang tưởng, phiêu bạt về một quán nước bên đường, như Quang Dũng ngày nào: “Tiền nước trả rồi nắng gắt, đường xa chóang váng núi và mây” và phóng mắt nhìn qua dẫy đá, hồ nước, cái cầu và tận đằng xa là một khu vườn um tùm, hoang liêu như một cõi đi về, thôi thì cứ để tâm tư lãng đãng bồng bềnh về một chốn hư không cùng những người xưa năm cũ, hồn ở đâu bây giờ…Bác nhíu mày phân vân, thì cứ để đấy, tôi sẽ nhỏ to với Bác sau, bây giờ hãy đảo xéo qua bên tay phải, đó là cái cầu Nhật bắc qua dòng suối khô, rải rác trải rộng là những viên sỏi lớn nhỏ và tôi đặt tên là Suối Mơ, hòai vọng về một Văn Cao với em đến chơi một lần để rồi tất cả chỉ là một thóang mờ nhân ảnh. Rồi lại vướng víu, hòa lẫn bởi hai câu thơ Đường: “Kỵ lư quá tiểu kiều, độc thán mai hoa sấu”, vì vậy, năm ngóai, tôi lại lụi cụi trồng cây mai Nhật tên Toyo Nishiky là là bên bờ suối:
Giang mai, mai ở bờ sông
Trong thơ Đỗ Phủ, ngàn năm vẫn buồn
Tàn rồi một độ hoa xuân
Thiền sư ngửa mặt tần ngần với mai
Bác đang mỉm cười vu vơ, mà ai chẳng một lần hòai cảm với mộng và mơ…và đằng sau là mảnh vườn trúc đen cũng của Nhật, bây giờ thì nó còn lưa thưa còm cõi, hai, ba năm nữa, như một thóang mây bay, rồi Bác sẽ thấy, thân trúc bằng ngón tay cái, đen tuyền, cao vút, ngả nghiêng lơi lả theo gió chiều…Mà Bác cứ lẩn thẩn nghĩ mà xem, nếu làng quê đất Bắc mình mà thiếu rặng tre đầu làng cuối ngõ, thiếu khóm trúc sau góc đình, bên bờ ao thì cũng một phần nào mất mát đi những nét bàng bạc trong tâm khảm, để chẳng có Võ Phiến với “Quê Ngọai”, cùng Bàng bá Lân với “Hỡi cô tát nước bên đàng, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”, để đi vào văn học sử sau này, phải không Bác. Nhớ ngày nào, như mới đâu đây, lần mò về vườn Cò bên kia Thủ Đức, lười biếng nằm thõng người trên cái võng trong bụi tre gộc dầy đặc, giữa buổi trưa hè, gió hiu hiu thổi, đắm chìm trong tiếng kẽo kẹt của thân cây tre cọ vào nhau, lắng đọng qua tiếng lá tre xào xạc xanh um…Êm ả, thanh tịnh, khác hẳn tiếng võng đưa vắng lặng và âm ỷ của mẹ ru con bên trái nhà, hòa lẫn tiếng chó sủa vu vơ tận cuối thôn, nhưng rồi như nhạt nhòa hòa lẫn, đẩy đưa về âm vọng xa vắng, mộc mạc và bình dị của hương đồng cỏ nội và chỉ thiếu cánh diều căng gío của cái tuổi ấu thời, đánh khăng đánh vụ, về một vùng quê có vụ chiêm, vụ mùa, tiếng chày giã gạo rộn rã dưới đêm trăng vằng vặc, chênh chếch sau ngọn cau. Tất cả bây giờ chỉ là hòai niệm xa vời vợi, nhưng gắn bó không rời.
Hình như tôi hơi lẩn thẩn rồi thì phải, à mà bác ngắm cái gì vậy, hóa ra hòn non bộ, Bác và tôi lúc nào cũng vậy, thích quay về với các cụ ta xưa: “Trói chân kỳ ký tra vào rọ, rút ruột tang bồng trả nợ cơm”. Bóng ngả đường chiều, cả một hòai bão tang bồng thu nhỏ vào trong hòn giả sơn, như ốc mượn hồn…Và cũng thưa với Bác, hòn non bộ này ảnh hưởng của miền nam Trung Hoa đấy Bác ạ, có nước có non, sông núi cùng ngư tiều canh độc. Chậu và đá cũng nhiêu khê mang từ Hà Tiên qua, của đi tìm người thật đấy, nhưng nặng khiếp, nặng kinh người, được cái sườn núi chênh vênh có nhiều hóc hẻm nên tôi cứ dấm dúi ông tiều, ông canh vào hốc này, mỏm kia để có chỗ che mưa dầm nắng “Lom khom dưới núi tiều vài chú, lác đác bên sông rợ mấy nhà”. Ngang ngang đỉnh núi phất phơ có mấy ông tiên đánh cờ với bình rượu túi thơ cùng ngàn năm mây bay “Bước xuống đèo Ngang bóng sế tà, cỏ cây chen đá, đá chen hoa”, lại phải tẩn mẩn bắc cái cầu cho mấy tiên ông xuống núi ngắm trời ngắm nước, đâu đây “Gác mái ngư ông về viễn phố, gõ sừng mục tử tại cô thôn” và xa xa, ẩn hiện qua lùm cây bên dòng nước là “Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo, sóng biếc theo làn hơi gợn tí”:
Mặt nước mênh mông nổi ba hòn
Tiếng già nhưng núi vẫn còn non
Mảng cây thưa thớt đầu như trọc
Tảng đá cheo leo ngấn chửa mòn
Một lá về đâu xa thăm thẳm
Nghìn làng trông xuống bé con con
Bây giờ Bác lại ngậm ngùi, trong Bác đang “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, thôi Bác ạ, sông có khúc người có lúc, vận nước non nhà đã vậy rồi, thở than u hòai cũng vậy thôi, tất cả chỉ là giấc mộng Nam Kha, có tan có tụ, cùng sắc sắc không không:
Bản lai vô xứ sở
Xứ sở thị chân tông
Chân tông như thị huyễn
Huyễn hữu tức không không
Để tôi đưa Bác tới khu vườn hoang liêu như một ốc đảo mà lúc nẫy tôi đã chỉ cho Bác, Bác thấy trong dẫy cây phong đỏ dầy đặc, có cái đầu tượng Phật Chàm bằng đá cẩm thạch trắng, to cũng gần bằng cái nồi ba mươi. Đấy Bác thấy không, cùng vận nước nổi trôi, dân tộc Chàm mất nước rồi cũng có mặt ở đây, để dãi dầu sương gió “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, nước còn cau mặt với tang thương”, để rồi Bác nghĩ mà xem, Tháp Chàm cùng Thăng Long hòai cổ, qua những lớp sóng phế hưng cũng nhạt nhòa: “Lối xe ngựa cũ hồn thua thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương” đang cìm dần dần trong quên lãng của vang bóng một thời, nhất là trong lúc này, đất khách quê người trong những ngày luân lạc, gặp nhau cũng không ngòai vấn vương tri giao quái ngã sầu đa mộng…
***
Bác cũng hơi khật khừ rồi đấy, dạo này hay trái nắng trở trời, rước Bác quá bộ về “Trà thất” dùng tách trà đầu ngày. Tôi cũng hơi chém to kho mặn, gọi quá là “Trà thất” cho có văn vẻ, thực ra, như Bác đã thấy, chỉ là dàn cây gỗ kèo này cột kia, gác ngang vắt dọc, chỉ có khác là mớ cây leo rậm rạp um tùm đầy bóng mát, lâu ngày cây rủ xuống che ngang tầm mắt, âm u, cô tịch như cái thảo am. Nào mời Bác dùng trà, tôi không múa bút như một trà nhân nào đó: “Từ tốn ngồi xuống trong tĩnh lặng của chân không, qua làn khói trà nhẹ tênh, tan lõang và cùng đi tìm những giây phút lắng đọng của tâm thức”. Riêng tôi chỉ dung dị, đơn thuần, mỗi buổi sáng dưới bóng mát mầu xanh của dàn cây leo, tôi lại u hòai về một khúc nhạc có cái tên “Bóng Mát”, âm hưởng như vang vọng: “Còn đâu nữa, tiếng hát ca dao ru tôi vào đời, dưới bóng tre xanh đong đưa nhịp võng, đã cho tôi bóng mát cuộc đời, còn đâu nữa, gió ngát hoa cau trong đêm dần tối, ngõ trúc trăng lên rong chơi hội làng, tiếng sáo lang thang theo chim về núi…mãi đi hoang, mãi lang thang…đã quên đi bóng mát cuộc đời”.
Và cũng mỗi buổi chiều cuối tuần, tôi thường ngồi đấy, đắm chìm trong mông lung và xa vắng, đưa cay cùng…khói vàng bay lên cây.
Nào mình quẹo trái thăm thú mấy kệ cây của tôi, Bác hỏi về Bonsai ấy hả, ngắn và gọn thì từ đời Hán, đời Đường, người Trung Hoa đã tận thu tứ hải sơn hà vào ao, hồ, hòn non bộ… Sau này đến Bosai, cây cối, rừng rậm cũng được thu gọn trong chậu nhỏ như tục bó chân bó cẳng, và một thời có tên là “Cây thế” hay “cây Nhật lùn”, mặc dù vườn nhà cũng có khá bộn, nhưng tôi chỉ chắt chiu với hai lọai, cây tùng bách và cây si. Với cây tùng thì thằng bạn tôi có hai câu chữ Nho, đủ nói lên tất cả: “Tuế bất hàn vô dĩ tri tùng bách, sự bất nan vô dĩ tri quân tử”. Riêng vườn nhà có một cây si cổ thụ, cũng đâu đó gần trăm năm, mấp mé sấp sỉ một đời người “nhân sinh bách tuế vi kỳ”, gốc cằn cỗi sần sùi mốc meo, rễ buông chằng chịt chẩy dài từ trên xuống dưới, như cây đa cây đề cạnh miếu đền, vậy mà cũng lạ lắm Bác ạ, nó như ngậm nhấm vào xương vào tủy. Mỗi lần ngắm cây si già nua ấy, tôi lại lãng đãng, mường tượng về một khung trời nào đó, cùng những chiếc bình vôi lăn lóc bên miếu thổ địa, mái âm dương rêu phong ẩm ướt, mỗi mớ rễ cây, mỗi chiếc bình vôi, ẩn hiện cả một quãng đời, qua bao thế hệ, chôn chặt gắn bó với đất đai làng nước, năm này qua năm khác cùng những ngày tháng đong đưa.
Từ chậu Bonsai đến chậu kiểng lớn, thực tình tôi muốn thầm khoe với Bác, đều từ quê mình mang sang. Nếu Bác hỏi tôi gửi gấm gì ở vườn nhà, chẳng dấu gì Bác cũng thấy, không ngòai gói ghém qua mấy cái chậu vô tri vô giác, tôi nói thực đấy…Mỗi lần lang thang trong vườn nhà với gió và mây, trong những ngày nhạt nắng, bâng khuâng nhìn cái chậu đồ gốm mầu gạch cua đồng, con rồn uốn khúc đầy hồn tính, cái chậu men sành mầu ngọc bích, cùng những đường nét hoa văn, thanh và dung dị, cái chậu mầu huyết dụ, như cái đỉnh nhang, mộc mạc và đơn sơ…mang mang qua những địa danh cùng những niên đại một thời ngày nào. Bác tặc lưỡi, hình tượng chỉ là cục đất sét, sau đó là nung với nướng, thành cái chậu cái chum, mệt Bác quá đi…Này Bác ạ, nghệ thuật đồ gốm chân truyền qua tay nghề của các cụ xưa, Bát Tràng, Thanh Hóa, đường nét không gò bó của đời Tống. Lái Thiêu, Hà Tiên cũng chẳng nặng nề như đời Minh. Nét vẽ thóang đơn sơ một vài cọng lau, phóng khóang đan thanh dăm ba ngọn cỏ, là biểu tượng thăng trầm đổi thay cả một dòng lịch sử, từ triều đại này qua triều đại khác, nhưng vẫn giữ hoa văn cổ truyền chan chứa đầy tình tự dân tộc, bèo dạt nổi trôi tắp về một mảnh đất nào đó của miền Nam mưa gió hai mùa, nay ngược dòng lịch sử ấp ủ bên tả ngạn sông Hồng, nước chẩy về cội cùng những đường nét gần gũi và thân quen.
Giời đất ạ, chết chửa cũng gần trưa rồi, Bác nói gì: “Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà”, gà với vịt, tôi biết Bác muốn nhắc khéo gì nữa đây, thì kỳ trước, một chuyến đò nên duyên, đã nếm qua chả cá rồi. Hôm nay thì có tiết canh vịt với bánh đa vừng, nếu răng cỏ Bác có móm mém thì tôi bảo bu cháu, xào xáo nồi ốc giả ba ba mời Bác sơi, bu cháu múa bát múa đũa, lóang một cái là xong ngay ấy mà. Có chuối xanh và một, hai lát đậu rán, ít sườn non, rau tía tô, tôi dân đồng chua nước mặn, phải có tí ti mắm tôm mới đậm đà. Tôi dạo này bụng dạ nó hơi chộn rộn, phải làm cút rượu mới xong, riêng Bác thì đừng khách sáo, cùng người nhà cả, Bác cứ dùng trà, nhất Bác đấy, mà Bác tặc lưỡi bảo tôi sướng. Sướng ở cái khổ nào ? Không dấu gì Bác, chẳng qua cũng trong cái vòng lẩn quẩn:
Đọan tống nhất sinh duy hữu tửu
Trầm tư bách kế bất như nhàn
Trúc gia trang
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
*Ảnh trong bài của tác giả.
©T.Vấn 2022















