T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
Kỳ 14- LÀN SÓNG ÁP CHÓT
Họ rời Moscow ra sân bay bằng xe buýt từ sáng tinh mơ, khi đường phố còn vắng hoe, chỉ có các cô lao công đang làm việc. Những cô gái trẻ và các bà trung niên đang phun nước xuống mặt đường, điều khiển xe quét rác cơ giới, hoặc cầm chổi quét nốt những gì máy móc bỏ sót. Don Camillo chỉ cho Peppone thấy những cử chỉ tự nhiên của họ, như thể họ cảm thấy vinh dự khi được làm công việc vốn dành cho đàn ông.
“Thật là một cảnh tượng khiến người ta yên lòng,” ông kết luận, “và chắc chỉ có thể nhìn thấy ở Liên bang Xô Viết.”
“Tôi sẽ còn yên lòng hơn,” Peppone lầm bầm, “nếu một ngày nào đó ở quê nhà ta cũng bắt được đám linh mục đi làm việc này.”
Một cơn gió buốt, như thổi thẳng từ vùng băng nguyên Siberia, lồng lộng lao qua các con phố vắng. Chỉ riêng ở quảng trường Đỏ rộng lớn là nó gặp phải “chướng ngại vật” là con người. Nhìn thoáng qua, những đống giẻ rách co ro kia trông như rác rưởi đang chờ nhân viên vệ sinh tới dọn, nhưng nhìn kỹ hơn thì đó là các tín đồ – đang ngồi co cụm trên vali của họ, xếp hàng chờ tới lượt vào lăng viếng vị lãnh tụ. Họ là những nông dân từ Uzbekistan, Georgia, Irkutsk và những nơi xa xôi khác, bị “tống ra” khỏi các chuyến tàu từ giữa đêm để kịp hành trình kính viếng.
“Đồng chí,” Don Camillo nói, “cảnh này thật khác xa cái thời những anh mujik khốn khổ phải ngồi xe ngựa đến tận St. Petersburg và cắm trại cả tuần trong công viên chỉ để chờ một cái liếc mắt của Sa hoàng và cô vợ người Đức của ông ta.”
“Làm nô lệ, đến cúi đầu trước một bạo chúa, thì khác hoàn toàn với một công dân tự do, đến kính cẩn tưởng nhớ người đã giải phóng mình,” Peppone đáp lại, giọng đầy tự hào.
“Và cũng có khối người đến để… kiểm tra xem Lenin với Stalin có thật là chết rồi chưa.”
Peppone chỉ cười nhạt, không phản bác.
“Chỉ nghĩ đến chuyện: đêm mai là tôi sẽ đẩy cả đám các ông xuống sân ga Milan là tôi lại phải cấu đùi để tự nhắc mình đây không phải mơ. Cứ vui đi, còn được mấy tiếng nữa thôi…”
Cuộc phiêu lưu sắp kết thúc. Đúng chín giờ, máy bay sẽ thả họ xuống thành phố S., nơi đoàn sẽ tham quan một nhà máy đóng tàu; sau đó, họ sẽ tiếp tục lên tàu thủy đi ba tiếng đồng hồ tới thành phố O. rồi lại chuyển sang máy bay khác để bay tới Berlin. Chuyến đi bằng tàu thủy là sáng kiến riêng của đồng chí Oregov. Nào là máy bay, tàu hỏa, xe buýt, xe điện, tàu điện ngầm — tất cả đã góp phần chứng minh cho “tính hiệu quả vận tải” của Xô Viết. Nhưng thiếu một chuyến đi đường biển thì vẫn chưa trọn vẹn. Đồng chí Oregov đã đệ trình phương án cuối cùng của mình lên cấp trên và đang hân hoan vì nó đã được duyệt.
Đúng chín giờ, máy bay hạ cánh xuống thành phố S. Sân bay nhỏ, vừa khít với cái thị trấn chẳng có gì nổi bật ngoài một nhà máy đóng tàu. Trong bến cảng rộng lớn, được canh gác cẩn mật và trang bị đầy đủ cho mọi loại sửa chữa, có đủ loại tàu bè neo đậu. Đồng chí Bacciga đến từ Genoa lập tức thấy như đang ở nhà và đột nhiên trở nên hoạt ngôn khác thường. Trong số những chiếc tàu đủ loại, có một chiếc tàu chở dầu lấp lánh sơn mới, và anh ta mô tả trọng tải, hệ thống máy móc của nó bằng thứ ngôn ngữ chuyên môn thành thạo đến mức đồng chí Oregov cảm thấy sự hướng dẫn của mình hoàn toàn không cần thiết. Ông liền để lại nhóm người Ý cho đồng chí Nadia Petrovna trông coi, còn mình thì đi trước tới xưởng tàu để thu xếp chi tiết chuyến tham quan.
Đồng chí Bacciga đúng là đang lên đồng. Câu hỏi nào anh ta cũng đáp trôi chảy, thỉnh thoảng còn thốt lên:
“Ngành đóng tàu là nghề truyền thống của dân Genoa chúng tôi, nhưng mấy ông này thiệt đỉnh – tôi phải ngả mũ bái phục!”
Don Camillo, như thường lệ, không để lỡ cơ hội. Sau khi nghe Bacciga lặp lại câu đó vài lần, ông nói:
“Họ đúng là chuyên gia, và là từ đời tám hoánh nào rồi cơ. Nhìn cái thuyền buồm cổ kia kìa! Đẹp như bước ra từ một bản khắc thép thế kỷ mười chín ấy chứ!”
Cả đoàn đi theo Don Camillo dọc theo bến cho đến khi chiếc thuyền buồm hiện ra trọn vẹn trong tầm mắt. Nó trông như một món đồ cổ bước ra từ sách vở, nhưng được phủ một lớp sơn và véc-ni mới tinh khiến nó sáng bóng như vừa xuất xưởng.
“Thật cảm động khi thấy người Nga tôn trọng tất cả những gì gợi lại quá khứ hào hùng của họ!” Don Camillo trầm trồ. “Đồng chí các vị, con tàu này là bằng chứng sống cho một truyền thống lâu đời và cao quý.” Rồi sau vài phút đứng lặng ngắm nhìn, ông quay sang Bacciga: “Đồng chí bốc xếp ạ, dân ta làm nghề đóng tàu mấy trăm năm nay, mà muốn thấy một con tàu buồm như vầy cũng phải lặn lội sang tận Xô Viết!”
Đồng chí Nadia Petrovna vừa được một công nhân địa phương mách nhỏ thông tin và báo lại với giọng hãnh diện:
“Tàu mang tên Tovarisch, dùng để huấn luyện học viên hải quân.”
“Ba ngàn tấn,” đồng chí Bacciga quay ngoắt lại phía cô. “Tên cũ là Cristoforo Colombo, trước từng là tàu huấn luyện của Hải quân Ý.”
Nadia đỏ mặt.
“Xin lỗi đồng chí,” cô lắp bắp. Nhưng vì vừa nhìn thấy đồng chí Oregov cùng một cán bộ của xưởng đang tiến về phía họ, cô liền rảo bước đi đón lệnh.
Peppone kéo tay áo Don Camillo, kéo ông ra một góc.
“Ông không thể ngậm cái miệng ông lại sao?” hắn thì thầm. “Lần này thì ông chơi bậy thật rồi đó.”
“Tôi đâu có bậy,” Don Camillo thản nhiên. “Tôi nhận ra con Cristoforo Colombo ngay từ đầu. Tôi còn nhớ cái cảm giác đau như cắt tim ngày người ta tịch thu nó với con Giulio Cesare nữa kìa.”
Lúc ấy Bacciga đang đứng gần đó và Peppone quay sang trút giận vào anh ta.
“Sao không im đi cho rồi?”
“Làm sao mà im được, Thủ lĩnh?” Bacciga ngơ ngác. “Tôi nhìn ra nó liền.”
“Một đảng viên trung kiên phải biết tự kềm chế mấy loại… nhận biết như thế.”
“Tôi là đảng viên trung kiên, nhưng đồng thời cũng là dân bốc xếp chuyên nghiệp, đừng quên chuyện đó,” Bacciga đáp lại không chút sượng sùng.
“Ý anh là sao?”
“Nước nào cũng có nước,” Bacciga nói, “nhưng biển thì không giống sông. Nhìn con Cristoforo Colombo này mà tôi cứ giả vờ như đang nhìn một cái sà lan trên sông Po thì không xong.”
“Thủy thủ của chiến hạm Potemkin đâu có như vậy!” Peppone xỉa xói.
“Họ là người Nga. Còn tôi là dân Genoa.” Bacciga tỉnh bơ đáp.
Đúng mười một giờ, sau khi đầu óc đã đầy ắp những con số thống kê, đoàn người Ý kết thúc chuyến tham quan xưởng đóng tàu. Chiếc tàu mà họ sẽ lên chưa rời bến trong một tiếng nữa, và trong khi đồng chí Nadia Petrovna đưa phần lớn nhóm đi dạo thị trấn, thì đồng chí Oregov, Peppone và Don Camillo rẽ vào một quán ăn của công nhân để… dưỡng thần bằng chút chất lỏng mạnh. Đồng chí Oregov tranh thủ viết bản tường trình hoạt động trong ngày, trong khi hai ông còn lại chuẩn bị tinh thần cho chuyến lênh đênh sắp tới.
Một cơn gió buốt xương và mây dày đặc trên bầu trời như báo hiệu một cơn giông đang tới.
Quán ăn lụp xụp, tối tăm, bẩn thỉu, nhưng rượu vodka thì hảo hạng. Sau vòng thứ hai, Peppone ghé sát thì thầm với Don Camillo:
“Tôi lo bị say sóng. Còn ông thì sao?”
“Tôi thì không,” Don Camillo trả lời. “Giáo sĩ chúng tôi đã lênh đênh bão tố suốt gần hai ngàn năm nay mà vẫn sống sót đến giờ.”
“Để coi lúc tàu lắc lư giữa biển cả ông còn đùa nổi nữa không!” Peppone gầm gừ.
Chẳng bao lâu sau, cơn gió lạnh buộc những người còn lại cũng phải chui vào trong. Trông họ chẳng có vẻ gì là vui vẻ, mà người ủ ê nhất vẫn là đồng chí Curullu. Sau khi được một ly vodka khai thông huyết mạch, Curullu bùng nổ:
“Biết chúng tôi vừa đi đâu không, đồng chí?” – hắn quay sang Don Camillo hỏi.
Don Camillo khép sổ tay Lenin lại, chờ đợi.
“Nhà thờ!” Curullu la lên. “Và biết có chuyện gì đang diễn ra không?”
Don Camillo nhún vai.
“Một đám cưới!” Curullu gào. “Đầy đủ linh mục và mấy trò tôn giáo vớ vẩn! Mà nhìn cô dâu chú rể mới kinh – chắp tay, mỉm cười đức hạnh như tượng thánh sống! Đúng là muốn ói.”
“Thật ghê tởm khi thấy cảnh đó ở đất Xô Viết!” đồng chí Li Friddi phụ họa. “Cứ tưởng như đang lạc về một làng nhỏ ở Sicilia thế kỷ trước!”
Tất cả quay sang Don Camillo, chờ đợi phản ứng. Và ông không để họ thất vọng.
“Các đồng chí, hiến pháp Xô Viết cho phép mỗi công dân được tự do theo tôn giáo của mình. Miễn là linh mục không truyền đạo cho trẻ dưới mười tám tuổi thì họ được tự do hành nghề. Vậy thôi. Mấy chuyện đàn áp tôn giáo toàn là trò tuyên truyền của Vatican.”
Lúc này, đồng chí Oregov bắt đầu lắng nghe, và với sự trợ giúp của Nadia Petrovna, ông theo sát cuộc đối thoại.
Don Camillo liếc về phía Oregov chờ tín hiệu, và quả nhiên nhận được sự đồng thuận ngay lập tức.
“Đồng chí Oregov xác nhận điều đó,” Petrovna nói. “Hiến pháp điều 24 được thực hiện nghiêm túc. Hội đồng Chính thống giáo và Hội đồng các tổ chức tôn giáo đảm bảo quyền tự do lương tâm. Họ còn giúp nhà thờ giải quyết các vấn đề thực tế.”
“Thấy chưa,” Don Camillo kết luận. “Linh mục ở đây không làm loạn như ở quê ta. Họ chỉ làm đúng những gì hiến pháp cho phép. Khác nhau một trời một vực.”
“Nhưng rốt cuộc thì cũng vẫn là linh mục,” Li Friddi càu nhàu.
Don Camillo cười nhẹ.
“Trong đất nước mênh mông này chỉ còn lại hai mươi sáu ngàn nhà thờ và ba mươi lăm ngàn linh mục thôi.”
“Vẫn là quá nhiều!” Curullu càu nhàu tiếp.
“Nhưng nhớ nhé,” Don Camillo nói, “năm 1917 là bốn mươi sáu ngàn nhà thờ và năm mươi ngàn linh mục. Đến 1945 chỉ còn bốn ngàn nhà thờ và năm ngàn linh mục.”
“Có thật vậy không?” Curullu nhìn sang Oregov, nghi ngờ.
Sau một vòng phiên dịch, Petrovna gật đầu:
“Con số căn bản là chính xác. Linh mục không nhận trợ cấp từ nhà nước, chỉ sống bằng tiền giáo dân. Trong chiến tranh, Giáo hội Chính thống ủng hộ lòng yêu nước. Và Đảng chỉ dùng biện pháp không bạo lực để chống mê tín.”
Nhưng vodka đã làm Curullu nói ra điều mà hắn hậm hực bấy lâu.
“Thế nếu từ năm 1945 đến giờ số linh mục tăng từ năm ngàn lên ba mươi lăm ngàn thì gọi là ‘chống mê tín’ kiểu gì vậy?”
Petrovna hơi lưỡng lự khi chuyển câu hỏi. Oregov cúi đầu như mang trọng trách nặng nề. Rồi ông chỉ buông hai tay ra như muốn nói: Đành vậy thôi. Không cần phiên dịch – cuộc tranh luận kết thúc ở đó.
Oregov quay lại viết báo cáo. Không khí đổi chủ đề. Căn phòng đặc khói thuốc. Don Camillo thấy ngột ngạt, liền đứng dậy ra ngoài, Peppone đi theo.
Gió đã dịu, cả hai bước chầm chậm trên con phố vắng. Cuối cùng Peppone thốt lên:
“Ba mươi lăm ngàn linh mục! Sau một cuộc cách mạng đẫm máu và ba mươi hai năm hy sinh vì nhân dân!”
“Đừng nóng, đồng chí,” Don Camillo dỗ. “Số lượng không đáng lo. Mấy linh mục Nga giờ toàn cán bộ nhà nước. Họ gọi Giáo hoàng là kẻ thù hoà bình, còn ông thượng phụ Alexis thì bảo Stalin là ‘người Chúa gửi đến’. Đảng có thể thu phục được linh mục, nhưng không thắng được tôn giáo. Và họ cũng thua cả ở mặt trận nông dân lẫn tư sản. Sau bốn chục năm đấu tranh, Xô Viết có bom nguyên tử, có tàu lên Mặt trăng, có khoa học thay mê tín, có quyền lực siết cổ dân và các nước chư hầu. Họ giết mười triệu nông dân để tập thể hóa nông nghiệp, xóa sổ giai cấp trung lưu. Vậy mà giờ dân vẫn bỏ tiền túi xây nhà thờ. Nông nghiệp vẫn kém thời Nga hoàng, nhà nước phải để dân giữ vài mảnh đất riêng bán ngoài chợ. Và một tầng lớp tư sản mới lại hình thành. Đừng giận, đồng chí, nhưng chính ông – với bộ vest xanh đen cắt may kỹ lưỡng, hai đồng lương béo bở, tài khoản ngân hàng, dự tính mua xe – chính là một tư sản mới nảy nở. Ông dám chối không?”
“Tư sản cái nỗi gì! Tôi chỉ định mua chiếc xe cũ thôi!”
“Không phải mã lực, mà là nguyên lý,” Don Camillo lắc đầu.
Peppone móc ra một hộp da, rút lấy điếu xì gà kiểu Tuscan. Don Camillo, đã thèm thuồng mùi ấy suốt hai ngày qua, thở dài thườn thượt:
“Đấy. Tư sản nhồi xì gà, còn dân đen nhai khoai.”
Peppone bực mình bẻ đôi điếu xì gà, chìa một nửa cho Don Camillo.
“Ba mươi lăm ngàn linh mục chưa đủ! Phải có thêm ông nữa!” hắn lầm bầm.
Đúng lúc ấy, họ nghe thấy tiếng còi tàu vang vọng từ bến cảng.
Chiếc tàu Partisan là một con tàu hiện đại, nhẹ mà mạnh, rẽ sóng lao nhanh về phía trước. Giờ đầu tiên của chuyến hành trình trôi qua thật hoàn hảo. Nhưng quỷ dữ không chịu đứng ngoài cuộc: bầu trời tối sầm lại, gió bắt đầu nổi lên. Để tránh những con sóng khổng lồ hất tàu vào bờ đá, thuyền trưởng cho tàu hướng ra xa bờ tìm vùng nước yên hơn. Nhưng cơn bão ngày càng dữ dội, và chẳng mấy chốc con tàu bắt đầu trôi dạt nguy hiểm. Một thủy thủ chạy xuống phòng khách và ném đống áo phao xuống sàn.
“Thuyền trưởng bảo mặc áo phao rồi lên boong,” đồng chí Nadia Petrovna nói.
Trên boong, như thể địa ngục đã mở cửa. Mưa như trút nước từ trời xuống, và những con sóng hung hãn đập vào thân tàu không thương tiếc. Trời đen kịt, gió hú điên cuồng. Bánh lái quay tít mù, hai chiếc thuyền cứu sinh bị cuốn mất. Mọi ánh mắt đổ dồn vào thuyền trưởng đang bám lấy lan can của buồng lái. Ông biết mọi người đang trông chờ ông cứu nguy, nhưng ông lảng tránh ánh nhìn đó và chỉ trân trân nhìn ra biển. Con tàu còn trụ được bao lâu nữa? Một con sóng khổng lồ nâng bổng đuôi tàu lên và có vẻ như mũi tàu sắp cắm thẳng xuống biển. Sóng tràn qua boong, nhưng khi con tàu lấy lại thăng bằng, hành khách kiểm đếm lại người: vẫn đủ mặt—Peppone và đoàn của ông ta, đồng chí Oregov, đồng chí Petrovna, thuyền trưởng và sáu thành viên thủy thủ đoàn. Mọi người bấu víu vào bất cứ thứ gì có thể. Họ sống sót kỳ diệu qua đợt sóng đầu tiên. Nhưng liệu có qua được đợt tiếp theo?
Tàu trượt dọc sườn một con sóng nữa rồi rơi xuống lòng chảo biển. Rồi lại trồi lên, nhưng một ô cửa sổ bị vỡ, nước bắt đầu tràn vào khoang. Peppone tuyệt vọng quay sang Don Camillo:
“Lạy Chúa, làm gì đi chứ!”
Don Camillo gom hết can đảm.
“Lạy Chúa, con hạnh phúc nếu được chết trong phục vụ Ngài.”
Quên bẵng mình đang ở đâu và rằng trừ Peppone thì không ai biết mình là ai ngoài cái tên “đồng chí Tarocci,” ông bỏ mũ, rút ra cây bút máy giấu thánh giá trong đó, giơ cao trên đầu mọi người. Ai nấy quỳ rạp dưới chân ông, kể cả đồng chí Petrovna, thuyền trưởng và thủy thủ đoàn. Chỉ có đồng chí Oregov vẫn đội mũ, bám lấy lan can cầu thang lên buồng lái, nhìn cảnh tượng ấy với ánh mắt sững sờ.
“Lạy Chúa,” Don Camillo cầu nguyện, “xin thương xót những đứa con bất hạnh của Ngài…”
Một con sóng lại tông vào tàu, sóng khác đe dọa tràn qua boong.
“Ego vos absolvo a peccatis vestris, in nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti…”
Ông làm dấu thánh giá trong không khí mịt mù giông gió, và mọi người cũng làm dấu, rồi bò tới hôn lên thánh giá. Một ngọn nước nữa đập vào boong, nhưng Thiên Chúa đã định rằng họ sẽ sống sót. Họ đứng dậy, tràn đầy niềm tin rằng hiểm họa đã qua.
Ai cũng để ý rằng đồng chí Oregov không hề bỏ mũ, không hề quỳ xuống, nhưng đến lúc này họ mới thầm nghĩ tới hậu quả. Oregov đứng trơ trơ với quai hàm nghiến chặt và ánh mắt rực lửa. Petrovna, thuyền trưởng và các thủy thủ đều bị ánh nhìn giận dữ ấy làm lo lắng. Nhưng các đồng chí Ý thì chỉ mừng rỡ vì còn sống.
Con tàu vẫn còn bị rung lắc bởi cơn bão, nhưng các thủy thủ đã có thể vận hành máy bơm trong khi hành khách đi vắt khô quần áo sũng nước. Thái độ của đồng chí Oregov nhanh chóng bị lãng quên. Khi cơn bão dần dịu xuống, đời sống trên tàu lại trở về bình thường. Hai giờ sau, mọi người đã trò chuyện với nhau như thể chẳng có gì xảy ra. Suy cho cùng, có gì là quá bất thường? Biển động mạnh, boong tàu bị sóng đánh tràn, một cửa sổ vỡ, hai thuyền cứu sinh bị cuốn trôi—những chuyện vẫn thường xảy ra trong một chuyến hải trình.
Không ai nghĩ đến đồng chí Oregov cho đến khi con tàu cập cảng và đồng chí Nadia Petrovna nhắc đến tên ông. Cầu tàu đã được thả và Peppone cùng nhóm của ông đang chuẩn bị bước xuống thì đồng chí Petrovna chặn họ lại.
“Chúng ta phải chờ đồng chí Oregov,” cô nói, giọng run run.
Ngay lúc đó, thuyền trưởng bước tới và đưa cô xuống boong tàu. Một lúc sau, ông quay trở lại cùng cô, mỉm cười và bắt tay Don Camillo.
“Kak trevòga, tak do Bògo,” ông nói.
“Chúng ta có thể rời tàu,” đồng chí Petrovna giải thích. “Không may, một trong những con sóng cuối cùng đã cuốn đồng chí Oregov ra biển. Đảng đã mất đi một người phục vụ tận tụy và trung thành. Một chiến sĩ dũng cảm đã ngã xuống.”
Khi họ đặt chân lên đất liền, Don Camillo lo lắng nhìn ra biển, như thể trông đợi bóng ma của Oregov hiện lên giữa bầu trời xám xịt và những cơn sóng còn dâng cao.
“Cầu xin Chúa tha thứ tội lỗi cho ông,” ông thầm nói, cố thuyết phục chính mình tin vào lời kể của thuyền trưởng. Nếu thuyền trưởng đã ghi vào nhật ký rằng hai thuyền cứu sinh và đồng chí Oregov đã bị mất tích trên biển, thì còn lý do gì để nghi ngờ?
***
Chuyến bay đến Berlin bị hoãn do bão. Trên chiếc xe buýt chở họ ra sân bay, Don Camillo ngồi đối diện đồng chí Scamoggia.
“Thế nào, đồng chí,” ông nói, “đã đến lúc chia tay. Đồng chí sẽ ở lại sau khi chúng tôi rời đi.”
“Không, tôi sẽ đi cùng các đồng chí,” Scamoggia đáp.
“Đồng chí Petrovna không thuyết phục được đồng chí ở lại à?”
“Tôi thậm chí còn chưa nhắc đến chuyện ấy. Tôi cảm thấy Đảng Cộng sản Ý vẫn còn cần đến tôi.”
“Rất tốt, đồng chí! Một chiến sĩ trung kiên của Đảng phải đặt tình yêu dưới nghĩa vụ.”
Scamoggia thở dài và quay nhìn ra cửa sổ. Chiếc xe dừng lại ở cổng sân bay và mọi người xuống xe. Petrovna và Peppone mang giấy tờ vào văn phòng. Viên cảnh sát kiểm tra xong chuyển danh sách tên cho phiên dịch, người bắt đầu gọi từng người.
“Pietro Bacciga…”
Bacciga bước vào, cả Peppone lẫn Petrovna đều xác nhận danh tính. Sau đó là các đồng chí Capece, Gibetti, Li Friddi và Peratto.
“Walter Rondella.”
Peppone quên khuấy mất rằng đồng chí Rondella đã bị gửi trả về Ý từ sớm. Ông nhìn lên và thấy gã thợ hớt tóc Napoli mà họ từng gặp ở kolkhos Tifiz đang trơ trẽn bước tới. Ông đã vô tình xác nhận tên người này là Rondella và Petrovna cũng gật đầu đồng thuận. Khi đến lượt đồng chí Tarocci, Peppone thoáng muốn phủ nhận. Nhưng ý nghĩ trả đũa ấy chưa kịp bén rễ thì…
“Mười người vào, mười người ra,” người phiên dịch nói, trao lại giấy tờ cho Peppone.
Trên đường ra máy bay, Don Camillo hỏi Petrovna ý nghĩa chính xác của câu tiếng Nga mà thuyền trưởng đã nói khi họ rời tàu.
“Ông ấy đang tóm tắt những gì đã xảy ra trong cơn bão,” cô đáp. “’Trong cơn hoạn nạn, con người mới nhớ đến Chúa’.”
“Một câu tục ngữ lỗi thời của người Nga,” Don Camillo lầm bầm.
Khi các hành khách bước lên máy bay, đồng chí Petrovna bắt tay từng người. Khi đến lượt gã thợ hớt tóc Napoli—cũng là một người tị nạn từ Rumani—cô suýt bật cười. Nhưng khi đối mặt với Scamoggia, nụ cười của cô lập tức tắt ngấm.
Don Camillo là người cuối cùng bước lên máy bay.
“Tạm biệt,” ông nói.
“Hãy cầu nguyện cho tôi, đồng chí,” Petrovna thì thầm, nước mắt lăn dài trên má.
Một lúc lâu sau khi máy bay đã rời khỏi mặt đất, Don Camillo vẫn không ngừng nghĩ đến ánh mắt u sầu của cô. Rồi ông nhìn xuống vùng đất bao la phủ mù sương bên dưới và nhớ lại một câu tiếng Nga mà ông từng ghi trong sổ tay:
“Spasitjel mira, spasi Rossiu!—Đấng Cứu Thế, xin hãy cứu lấy nước Nga!”
G.G.
