Nguyễn Hữu Quyền: NHỮNG MẢNH VỠ ẢO GIÁC (Tập Thơ)

XIN BẤM VÀO ĐÂY

Nguyễn Hữu Quyền: NHỮNG MẢNH VỠ ẢO GIÁC (Tập Thơ)

THAY LỜI TỰA

Nguyễn Hữu Quyền: Tản mạn về thơ

1. Lịch sử thơ ca dân tộc từng đi qua hành trình với dòng chủ lưu chủ thể và khách thể thẩm mỹ có chung mẫu số. Ở đó cái tôi cá nhân, cá thể bị co lại, nhường chỗ cho cái ta phi ngã. Tất cả hướng về cộng đồng, hướng về những biểu tượng đại diện cho cộng đồng mang tầm vĩ mô với cảm hứng thần phục, ngợi ca mang âm hưởng sử thi cùng với cấu trúc diễn ngôn nặng tính “quy phạm”. Có thể nói, đó là thơ đại tự sự?

2. Nhưng rồi lịch sử vẫn tiếp tục chảy, các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ diễn ra góp phần thúc đẩy cuộc sống phát triển. Theo đó, đời sống nội tâm con người chuyển dịch về chất với những quan niệm, những nhu cầu phức tạp hơn, đa đoan hơn. Nó đòi hỏi nghệ thuật nói chung cần phải bứt phá để tạo nên những giá trị mới và khác, trong đó có thơ. Điều đó là tất yếu, không thể khác được. Sự bứt phá này có sự kế thừa truyền thống, không chối bỏ truyền thống. Sẽ có những tên tuổi lớn, tiếp tục được khẳng định trong quá trình chuyển đổi này. Tất yếu là như vậy. Trở lại với câu chuyện bứt phá, thơ Việt đương đại đã và đang chuyển từ đại tự sự sang tiểu tự sự để đáp ứng yêu cầu biểu hiện và tự biểu hiện của con người cá nhân, cá thể đang có mặt mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống. Đó là kiểu con người phân mảnh, luôn cùng một lúc tồn tại các mảnh ghép ý thức, vô thức, trực giác, ảo giác; luôn có nhu cầu giải thiêng. Con người cá nhân, cá thể trong trường hợp này luôn cô đơn đứng trước câu hỏi: Ta là ai? Ta đang ở đâu? Ta đang sống hay đã chết?… Việc đưa thực trạng này của cuộc sống vào thơ, ở nhiều cấp độ, không chỉ phản ánh với nghĩa cơ học, trực nghĩa mà còn phải lặn sâu khám phá những khuất lấp, mù sương những ký ức, vô thức, những chồng xếp ấn ức trong con người. Đó là tất yếu khách quan. Trộm nghĩ thơ truyền thống khó có thể đảm đương công việc này. Thực tế đó đòi hỏi không chỉ thơ mà cả phía người đọc, phải thay đổi, phải tự nâng mình lên để đáp ứng yêu cầu mới của sáng tác và tiếp nhận. Đó là điều không thể khác, không thể biện minh, không thể phủ nhận với bất cứ  lý do nào.

3. Lâu nay có một số ý kiến cho rằng, thơ Việt đương đại có một bộ phận đang vượt thoát truyền thống bằng cách áp dụng lý thuyết tượng trưng, siêu thực, tân hình thức, haiku, hậu hiện đại… vào sáng tác. Theo tôi, điều đó chỉ đúng một phần. Từ thực tế sáng tác của bản thân, qua quan sát, trải nghiệm tôi thấy: trước hết do tâm trạng, tâm thế của chính tác giả chi phối. Tác giả thuộc kiểu con người như thế, thường xuyên sống trong trạng huống tinh thần như thế – nghĩa là day dứt, phân tâm, đa mảnh, luôn đặt mình trước những câu hỏi bất an (Đó là sản phẩm tinh thần tất yếu của thời đại như đã nói). Những lúc như vậy, thơ tìm đến anh ta – thực chất là các con chữ, các ký hiệu, các cách diễn ngôn tìm đến anh ta. Cứ thế, thi sĩ bị dẫn dụ bởi ngôn từ, bởi nhịp điệu, nhạc điệu… Mặt khác, nếu có lý thuyết nào đó xuất hiện để dẫn dắt quá trình sáng tạo thì lý thuyết đó trong thực tế đã biến thành máu thịt của anh ta để rồi tự bật ra, vô thức tạo ra sự khác biệt. Nó không chỉ là của ý thức mà chủ yếu là của vô thức, thậm chí là của bản năng người sáng tác. Nó giống như trời cho vậy. Ở đây không có chuyện áp đặt lý thuyết thơ theo cách tỉnh táo trong khi sáng tác. Bằng cách này, bài thơ sau khi ra đời sẽ mang đậm cá tính sáng tạo khác biệt của tác giả. Mọi trường phái nọ kia chỉ còn là chút dấu ấn sót lại mà thôi.

4. Người đọc – với loại thơ này phải là người đồng sáng tạo. Nghĩa là từ văn bản gốc của bài thơ, họ phải tạo ra những văn bản mới, với cách hiểu không giống nhau. Loại thơ này do đó, không thể lấy số đông người thích làm thước đo khi đánh giá giá trị. Cách đánh giá ấy chỉ phù hợp với quan niệm từng tồn tại một thời: “Văn học phục vụ đại chúng” (Suy nghĩ này ngoại trừ những trường hợp thơ giản dị mà hay. Loại thơ này dành cho những thiên tài). Nói như vậy để hiểu thêm điều cần hiểu: Vốn sống, vốn văn hóa, vốn hiểu biết thơ, năng lực đọc của người đọc hết sức quan trọng.

5. Trước tập thơ  “Những mảnh vỡ ảo giác”, tôi đã ấn hành 5 tập thơ, gồm: Về miền hoa Lộc Vừng, Nơi con sông đổ về biển, Nụ cười sót lại sau mưa, Khởi Thủy, Át Cơ. Các tập thơ trên đều chủ yếu viết bằng trực cảm và suy tư. Nó là thế giới trộn hòa của ý thức, vô thức, trực giác, vị giác, ký ức… được chuyển tải bằng các giác quan, cảm giác, tri giác, ảo giác… Nó phản chiếu những vùng rất thực của đời sống ngoại cảnh và tâm cảnh. Nhưng ở trong đó cũng có những vùng mờ, những ảo ảnh có mà không có, những vùng trắng, những điểm lặng… (tức là những dạng thức cuộc sống thật được khúc xạ phát tiết qua ý thức, vô thức, ấn ức). Từ đây, các tập thơ đưa người đọc đến không chỉ nội dung mà cả cách thức diễn ngôn của thơ – điều mà người làm thơ và người thưởng thức thơ chưa quan tâm đúng mức. Ở 5 tập thơ này, tác giả rất chú trọng tính triết học của nội dung và sự vượt thoát truyền thống mà vẫn giữ lại bản sắc của truyền thống trong hình thức diễn ngôn.

6. Tập thơ “Những mảnh vỡ ảo giác” là tập thơ thứ 6 tiếp nối và phát triển 5 tập thơ trước. Về nội dung, tập thơ thứ 6 khám phá bản thể con người trong mối quan hệ với thiên nhiên (vũ trụ) và xã hội. Ở tập thơ này tác giả tập trung đi sâu khám phá cái tôi cá nhân, cá thể nhằm gợi ý người đọc trả lời các câu hỏi: Tôi là ai? Thế giới bên trong tôi là những gì? Ý nghĩa cuộc sống của tôi như thế nào?… Tất cả đều được đặt trong mối quan hệ với loài người, với vũ trụ… Về hình thức, tác giả tiếp tục sử dụng những biện pháp quen thuộc của bản thân để biểu đạt thông điệp như lắp ghép các mảnh vỡ khác nhau, dùng các biểu tượng (ẩn dụ, tượng trưng…), dùng trí tưởng tượng, liên tưởng tạo nên những ký hiệu siêu thực, hiện sinh, tạo khoảng trống trong các dòng thơ, khổ thơ, giữa các con chữ… Đây là những thủ pháp thường dùng trong thơ nhưng đến lượt tác giả có sự sáng tạo riêng biệt, khác biệt, khi sử dụng chúng. Tác dụng của chúng là tạo sự đa thanh trong tiếp nhận. Trở lại với cái tôi cá nhân, cá thể trong tập thơ này, ở rất nhiều bài, tác giả đã lật đi, lật lại với nhiều góc nhìn, nhiều khía cạnh. Từ góc nhìn đời thường, cái tôi ấy thấy mình giống củ khoai lang để “cuối góc tường / Ngóc đầu ngóng ánh sáng”. Củ khoai lang ấy đóng vai con tốt trong ván cờ người, có khi nó vụt biến mất:

“Người làng lật đất lên

Không thấy con tốt trong ván cờ người”

                                                (Trầm tích củ khoai lang)

Từ góc nhìn vũ trụ, cái tôi ấy có một chiều kích bình đẳng với vũ trụ:

“Vũ trụ ló ra chào tôi

Tôi chào vũ trụ”

                                                (Tôi chào vũ trụ)

Cái tôi ấy hóa thân trong đất trời, trở thành một thành tố tạo nên vũ trụ vĩnh cửu, chẳng khác gì hồ nước:

“Tôi như hồ nước

Tạo hóa bỏ quên sau một lần sinh nở…

Vạn năm hay triệu năm rồi

Sao hồ nước cứ đầy

Như tôi”

                                                (Hồ nước)

Cũng có khi cái tôi cá nhân – cá thể ấy lặn vào trong cuộc sống thường nhật, hóa thành sức sống, sự sống vang động âm thanh:

“Tôi thấy tôi trong tiếng còi

Tóe tòe toe toe

Quen mà lạ”

                                                (Mộng du)

Dấu ấn cá nhân tác giả khi nói đến những vấn đề này không theo lối tái hiện trực nghĩa vốn dĩ là cách biểu đạt quen thuộc của thơ ca truyền thống. Nó chủ yếu dùng ẩn dụ, tượng trưng, siêu thực đậm chất hiện sinh được cá tính hóa với sự sáng tạo, không lặp lại. Ví dụ ở bài “Trầm tích củ khoai lang”, tác giả qua những hướng liên tưởng nhìn thấy trong củ khoai có hình ảnh trẻ con chơi ô trên đường. Cũng bằng liên tưởng, tác giả liên tưởng đến Tết đến, ván cờ người, trong đó “tôi” đóng vai con tốt. Rồi hình ảnh cái mõ làng. Tháng ba giáp hạt… Tất cả là ẩn dụ, đúng hơn là một chuỗi ẩn dụ vắt qua sự chảy trôi của thời gian, không gian, khắc họa, gợi mở một thế giới tôi nhiều chiều kích. Ở đó có kỷ niệm đã lặn vào ký ức, tạo thành vô thức, với những ấn ức xếp chồng, đứt gãy, với bao biến thiên, mất còn thăm thẳm… Đó là củ khoai lang – biểu tượng của tôi – một cái tôi giản dị mà phức điệu với những trầm tích ám gợi, bao la… Từ đây, bài thơ “Trầm tích củ khoai lang” gợi ra những vấn đề triết học và mỹ học, góp phần giúp người đọc lý giải diện mạo tinh thần của cái tôi cá nhân – cá thể ở tầng bản thể.

7. Bài thơ “Những mảnh vỡ ảo giác” và tên gọi của tập thơ: Sáng tạo thi ca ở phía nào đó bắt đầu từ trực giác, tri giác, ảo giác… Nó khúc xạ qua cấu trúc diễn ngôn với nhiều loại ký hiệu. Từ đây đời sống được tái tạo qua nhiều tầng nấc với những thực hư, những hiển ngôn, vô ngôn, lộ thiên và chìm ẩn… thật mà không thật. Bài “Những mảnh vỡ ảo giác”, đồng thời là tên của tập thơ mang đậm tinh thần đó. Người sáng tạo bài thơ này chủ yếu sử dụng các biểu tượng kết hợp với ảo giác như một bút pháp:

“Có bóng gì trong trang giấy

                        trông như ảo giác

Đây là đâu mà bên bờ sông có ngồng đậu

chỉ có một đài hoa

                        Tím chi lạ?

Mấy người đánh bài trên sân ga

                        ta đang về đâu?

Không thấy trang giấy.

Bài thơ có những hình ảnh rất thật: ngồng đậu, bờ sông, đài hoa, người đánh bài trên sân ga, trang giấy… Ở phía khác, bài thơ chứa nhiều ảo ảnh: Bóng gì trong trang giấy? đây là đâu, ta đang về đâu… Những ký hiệu này được tạo nên bởi ảo giác. Chúng tồn tại trong một không gian, thời gian vừa xác định, vừa không xác định. Không gian, thời gian đó tạo nên một thế giới vừa có thực,vừa không có thực. Thực đấy, nhưng mà ảo đấy. Chúng bị phân mảnh, bị đứt gãy với quá nhiều trống vắng do sự đứt quãng của các khoảng trắng, của những mảnh ghép phi tuyến tính… Từ đây bài thơ chuyển đi thông điệp: Thế giới này rất thật mà cũng rất không thật. Đó là câu chuyện của đời sống, của triết học và mỹ học. Đó là tên bài thơ và cũng là tập thơ – Những mảnh vỡ ảo giác. Tất cả là hệ quả, kết quả của ảo giác. Đó là cách quan sát, cảm nhận, suy ngẫm của người đã vượt qua tầng trải nghiệm, suy nghiệm thông thường để vươn tới triết học và mỹ học.

Xin trân trọng cảm ơn các độc giả!

Nguyễn Hữu Quyền

Bài Mới Nhất
Search