Nguyễn Hữu Quyền: ÁT CƠ (Tập Thơ)

XIN BẤM VÀO ĐÂY

Nguyễn Hữu Quyền: ÁT CƠ (Tập Thơ)

Lời nói đầu

1. Những tập thơ đã xuất bản

Về miền hoa Lộc vừng (2020), Nơi con sông đổ về biển (2021), Nụ cười sót lại sau mưa (2022), Khởi Thủy (2024) – các tập thơ này đều do Nhà xuất bản Nghệ An cấp giấy phép. Đến tập thơ Át cơ (2025), Nhà xuất bản Đại học Vinh ấn hành. Có thể nói đây là quá trình sáng tạo liên tục không ngừng, không nghỉ trong âm thầm, lặng lẽ, đối thoại và tự đối thoại của tôi, một nhà giáo đã nghỉ hưu lấy thơ ca làm điểm tựa, làm bạn tâm tình, làm mục đích cứu rỗi.

2. Vài đặc điểm của năm tập thơ đã xuất bản

2.1. Thơ Việt đương đại, theo tôi đang tiếp tục đi trên con đường quen thuộc của quan niệm truyền thống: Văn học phản ánh hiện thực – một quan niệm coi trọng “cái phản ánh”, coi trọng chức năng phục vụ. Theo đó, sự dễ hiểu, dễ đọc, ít biểu tưởng được xem là tiêu chí hàng đầu. Nhận thức đó thịnh hành trong thời gian không ngắn, về sau có bị phai nhạt do quá trình hội nhập, nhưng quán tính vẫn còn cho đến hôm nay. Có thể nói rất khách quan, dù văn học, trong đó có thơ, vấp phải một số hạn chế do quan niệm nói trên, nhưng vẫn tạo được những thành quả không nhỏ, khắc hoạ được diện mạo riêng cho một giai đoạn văn học với nhiều tên tuổi lớn. Ở phía khác, thơ việt đương đại đã và đang có sự đổi mới. Nó nảy mầm trong truyền thống, vượt thoát truyền thống, tạo thành dòng chảy, hòa vào văn học dân tộc và văn học thế giới với một quan niệm khác, một thi pháp khác.

2.2. Về năm tập thơ đã xuất bản

Điểm nhìn trong năm tập thơ

Tác phẩm văn học, trong đó có thơ, sau khi đến với bạn đọc, sẽ chịu sự chi phối của quy luật tiếp nhận. Nghĩa là thu hoạch của từng độc giả trong quá trình đọc văn bản sẽ không giống nhau và có thể khác với ý định của tác giả. Tuy vậy, việc xác định điểm nhìn của Nhà thơ trong quá trình sáng tạo là điều cần lưu ý. Nó sẽ hỗ trợ người đọc trong quá trình đọc hiểu văn bản. Với tôi, quá trình sáng tác có sự tham gia của ý thức, vô thức và những ẩn ức. Bản thân thường sử dụng trường liên tưởng vừa gần, vừa xa vừa đứt quảng, vừa chắp nối, bất ngờ… Các thi ảnh có sự hoà trộn giữa thực và ảo, giàu tính tượng trưng, siêu thực, hay bỏ ngỏ các ý nghĩ. Giọng thơ biến hoá. Bởi thế khi đọc thơ tôi, độc giả cần xem đó như một trong những điểm nhìn.

Nếu không xác định được đặc điểm này, độc giả sẽ rất khó khăn khi khám phá các bài thơ. Xin lấy bài thơ Lạch phồn sinh trong tập thơ Át cơ làm ví dụ:

“Đang chạy tồng ngồng trên vỉa hè

Bỗng bò đực dừng lại

Chú nhìn người đàn bà bán hàng mặc váy mỏng trắng

Lúc đó ve kêu

Bên kia đường chỗ cây tre cụt ngọn có con chim gì sà xuống mà

không được

Nó vãi vào chiều chất lênh lang

Chị bán hàng nói với tôi

Anh ơi

Bò đực đi tìm con cái”

Điểm nhìn của cái tôi trữ tình – tác giả trong bài thơ này khá tổng quan với nhiều mảnh cuộc sống tưởng như không liên quan với nhau: Con bò đực chạy trên vỉa hè – Người đàn bà mặc váy trắng – Ve kêu – Bên kia đường – Cây tre cụt ngọn – Con chim – Chị bán hàng… Nếu xét kỹ thì các mảnh ghép đó được gắn kết bởi quan hệ bên trong với bản chất chung:  Khát khao bản năng giống loài.

Về hệ thống các ký hiệu trong năm tập thơ

Đồng thời với xác định đích đến, nhà thơ cần tìm kiếm các kí hiệu để mã hoá các ý.

Trở lại bài thơ Lạch Phồn Sinh, tác giả đã dùng các mã ký hiệu (Tôi tạm gọi khái niệm “ký hiệu” theo cách của mình) ở nhiều cấp độ, nhiều tầng vỉa:

– Hình ảnh: con bò đực, con chim gì, người đàn bà mặc váy trắng.

– Các động từ, tính từ: “ Vãi”, “đi tìm”, “lênh lang”…

– Những khoảng trắng, theo đó là sự đứt gãy trong văn bản, những liên tưởng bất ngờ (“Chú nhìn người đàn bà bán hàng mặc váy mỏng trắng/ lúc đó ve kêu”)

– Những ẩn dụ – tượng trưng (Lạch phồn sinh) và nhiều biện pháp nghệ thuật khác như giọng điệu, nhịp điệu, nhạc điệu, các phép tu từ; phong cách nghệ thuật tác giả; đặc điểm trào lưu, trường phái…

Tất cả – từ điểm nhìn trên, thông qua các hệ thống ký hiệu, nhà thơ chuyển tải thông điệp thẩm mỹ, không phải theo cách trực tiếp, trực nghĩa như truyền thống mà là gián tiếp dùng kí hiệu tạo nên những khúc xạ, theo đó ý và nghĩa của văn bản thơ trở nên đa nghĩa, đa thanh khi được người đọc tiếp nhận. Như bài thơ trên chẳng hạn thì thông điệp nội dung của nó có thể là: – Khát khao đực – cái (nghĩa đen), theo đó, nghĩa rộng hơn là bản năng sinh tồn. Sâu và rộng hơn nữa là phồn sinh – bản thể… (Mang ý nghĩa mỹ học, triết học). Những ý nghĩa này có thể vượt khỏi văn bản, nằm ngoài thơ, trở nên vô thanh. Giới hạn của sự tiếp nhận thông điệp nội dung thẩm mỹ của bài thơ đến đâu sẽ được quyết định bởi vốn sống, vốn văn hoá, vốn hiểu biết về lí luận văn học, trong đó có lí luận về thơ, về các trào lưu, các trường phái thơ… của từng độc giả. Trên đây chỉ mới nói đến những “công cụ” thông thường khi đọc thơ. Còn bao nhiêu những “công cụ” rộng, sâu khác mà người viết bài này không dám và không đủ vốn liếng đề cập đến.

Trở lại với năm tập thơ đã xuất bản của mình, người viết bài này khiêm tốn tự thấy có sự cách tân, đổi mới. Còn đổi mới, cách tân như thế nào sẽ nhờ thời gian và độc giả thẩm định.

2.3. Về tập thơ Át cơ

Tập thơ này là sự tiếp nối của bốn tập thơ trước. Nghĩa là nó tiếp tục định hình về phong cách nghệ thuật tác giả, về thi pháp. Cái đáng nói ở tập thơ là đề tài và cách xử lý đề tài. Mạch xuyên suốt ẩn sâu trong bốn tập thơ trước là vấn đề bản thể – tính nữ được biểu đạt bằng sự chấm phá, rải rác đó đây. Cốt lõi của bản thể tính nữ ở các tập thơ này là sự trong suốt, khôi nguyên, vằng vặc khởi thủy. Đó là nơi xuất phát và là nơi trở về của con người. Nó chứa đựng chiều sâu triết học, mĩ học. Tập thơ Át cơ tiếp tục đi theo hướng đó nhưng tập trung hơn, hệ thống hơn, khác biệt hơn bởi sự đi sâu khám phá, cách khám phá đề tài phồn sinh, một dạng thức khác của bản thể.

Phồn sinh trong tập thơ Át cơ được diễn đạt bởi nhiều ký hiệu. Đó là những ẩn dụ – tượng trưng. Những ẩn dụ tượng trưng này có khi quen thuộc như hình ảnh giếng nước, dòng sông, bến bờ… cũng có khi nó là những hình ảnh mới như “dòng sông tôi” “vầng trăng máu”, “nguy nga vũ trụ”… Cũng có khi hình ảnh cũ nhưng cấp cho nó ý nghĩa mới nhờ cách sắp xếp các con chữ, cách tạo ngữ cảnh… Đó là các từ ngữ, các biện pháp tu từ… Tất cả tạo nên sự chuyển nghĩa đa thanh, tỏ mờ, chìm ẩn….

Ví dụ:

“Bữa đó Cửa Lò giống con át cơ

Nứt nẻ bờ cỏ

Át cơ có lúm đồng tiền

Má đỏ bao la

Gặp tôi đang tha đất”

                                    (Cửa Lò)

Cửa Lò sẽ chỉ đơn thuần là một địa danh khi không có sự gia công nghệ thuật. Nhưng Cửa Lò trong đoạn thơ này bỗng trở thành một sinh thể sống động. Khi đứng cạnh các chữ “nứt nẻ bờ cỏ”, “lúm đồng tiền”, “má đỏ bao la”. Hoặc Cửa Lò được so sánh “Giống như con át cơ”. Bằng cách đó, nghĩa của từ Cửa Lò được mở rộng biên độ: Nó là con át cơ, là… cái gì đó giống sự sinh nở, là một sinh thể, là bản thể, là vũ trụ hiện sinh, lõa thể, tiềm ẩn sinh sôi. Đó là sự độc đáo, riêng biệt, của bài thơ, tập thơ và của tác giả trong khám phá đề tài, cũng như cách biểu đạt đề tài qua một ví dụ nhỏ.

Xin lấy bài thơ Nguy nga vũ trụ làm ví dụ tiếp theo:

“Hãy chảy đi con

Tạo hóa bảo

Tôi vội ngược

về ngày xưa

Còn bốn ngày nữa mới tới

Dừng lại bên đầm lầy

Trông lạch chảy

Lau lách đẩy nước vào suối

Rót đầy sông

Biển ướt nhoẹt

Tôi vét nước trong mình đổ vào lỗ thủng khởi thủy

Hóa thân với người

Chợt thấy nguy nga vũ trụ…”

Bài thơ nói đến đầm lầy, lạch chảy, lau lách… cùng với chúng là các từ như “đẩy nước”, “ướt nhoẹt”, “ vét nước trong mình đổ vào lỗ thủng khởi thủy”… Cách chọn từ, gieo từ, cách tạo khổ thơ, theo đó là ngữ cảnh kích hoạt trí trưởng tượng, liên tưởng của độc giả, giúp họ kết nối các ký hiệu, trong đó có ký hiệu cuối bài thơ “nguy nga vũ trụ”. Từ đây, nghĩa của các từ các hình ảnh “đầm lầy”, “lạch chảy”, “lau lách”, “ướt nhoẹt”, “vét nước đổ vào lỗ thủng” bỗng nhiên được mở rộng theo hướng ẩn dụ (ngầm ví). Nó là “thiên nhiên” (tương tự như Nguyễn Du dùng hình ảnh “một toà thiên nhiên”), là cái gì đó hồn nhiên, phồn sinh, lõa thể. Nó thật sự “nguy nga”, nghĩa là rất kích thước, rất phồn thực, sinh hạ. Đó là vũ trụ, một vũ trụ theo nghĩa đời sống, mỹ học, triết học. Là bản thể – tính nữ, nhưng tập thơ Át cơ nhấn mạnh, nhấn sâu nghĩa phồn sinh – vĩnh cửu. Át cơ tiếp tục biểu đạt vấn đề này qua nhiều ký hiệu nghệ thuật tương tự như: “châu thổ”, “thiên đình”, v.v..  Có thể nói, với cách diễn ngôn như đã nói ở trên, tập thơ Át cơ qua mạch phồn sinh đã đẩy vấn đề bản thể – tính nữ lên một tầm mới mang tính phổ quát, phản ánh một cách nhìn khác về đời sống, về thơ và vai trò của thơ ca.

Như đã nói ở trên, tôi là một nhà giáo yêu thơ và lấy thơ làm bạn. Sau khi về hưu tôi đã cho ra đời năm tập thơ. Dù biết là rất nhỏ nhoi nhưng đó là cách bản thân tiếp tục hiến dâng cho đời.

Xin trân trọng cảm ơn các độc giả gần xa

Tác giả Nguyễn Hữu Quyền

Bài Mới Nhất
Search