Mỗi khi xuất hiện những tranh cãi chính trị gay gắt tại Hoa Kỳ, đặc biệt liên quan đến vấn đề nhập cư, an ninh quốc gia hay những cá nhân bị cáo buộc phạm tội nghiêm trọng, lại có người đặt câu hỏi: Liệu Tổng thống Mỹ có thể dùng sắc lệnh hành pháp để tước quốc tịch của một công dân Mỹ hay không?
Câu trả lời ngắn gọn là: Không.
Điều này không chỉ là một quy định pháp luật thông thường mà còn là một trong những nguyên tắc nền tảng của nền dân chủ Hoa Kỳ.
Hiến pháp Mỹ được xây dựng trên cơ sở tam quyền phân lập. Quyền lực nhà nước được chia thành ba nhánh độc lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Tổng thống đứng đầu nhánh hành pháp, có quyền điều hành chính phủ liên bang và thực thi luật pháp, nhưng không có quyền tự mình giải thích luật theo ý muốn hay tự mình kết án công dân.
Quốc tịch Mỹ không phải là một đặc ân do Tổng thống ban phát để rồi có thể thu hồi bằng một chữ ký. Quyền công dân được bảo vệ bởi Tu chính án thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, trong đó quy định rõ những người sinh ra hoặc nhập quốc tịch hợp pháp tại Hoa Kỳ đều là công dân Hoa Kỳ và được hưởng sự bảo vệ bình đẳng của pháp luật.
Chính vì vậy, việc tước quốc tịch không thể diễn ra theo ý chí của bất kỳ tổng thống nào, dù người đó thuộc đảng Dân chủ hay Cộng hòa.
Trong lịch sử tư pháp Hoa Kỳ, Tòa án Tối cao nhiều lần khẳng định rằng quốc tịch là một quyền hiến định vô cùng quan trọng.
Năm 1967, trong vụ kiện nổi tiếng Afroyim v. Rusk, Tòa án Tối cao phán quyết rằng chính phủ không thể tước quốc tịch của một công dân Mỹ nếu người đó không tự nguyện từ bỏ quốc tịch của mình. Phán quyết này trở thành một trong những nền tảng quan trọng bảo vệ quyền công dân trước sự lạm quyền của nhà nước.
Điều đó không có nghĩa quốc tịch Mỹ là bất khả xâm phạm trong mọi trường hợp.
Trong một số trường hợp đặc biệt, chính phủ liên bang có thể yêu cầu tòa án hủy bỏ quốc tịch của một cá nhân nếu chứng minh được rằng người đó đã nhập quốc tịch bằng hành vi gian lận nghiêm trọng, chẳng hạn khai man lý lịch, che giấu tội ác chiến tranh, sử dụng giấy tờ giả hoặc cố tình lừa dối cơ quan nhập cư.
Nhưng ngay cả trong những trường hợp đó, quyết định cuối cùng vẫn thuộc về hệ thống tư pháp. Bộ Tư pháp phải nộp đơn kiện ra tòa, phải đưa ra bằng chứng rõ ràng và phải thuyết phục được thẩm phán liên bang. Người bị kiện có quyền thuê luật sư, quyền tranh tụng và quyền kháng cáo.
Nói cách khác, quốc tịch chỉ có thể bị hủy bỏ thông qua một quy trình xét xử công khai theo đúng nguyên tắc tố tụng, chứ không phải bằng một sắc lệnh hành pháp.
Chính vì thế, mỗi khi xuất hiện những lời kêu gọi rằng Tổng thống nên tước quốc tịch của những người bất đồng chính kiến, những người biểu tình hay thậm chí những người phạm tội hình sự, chúng ta cần hiểu rằng đó không phải là cách vận hành của một nhà nước pháp quyền.
Trong các chế độ độc tài, lãnh tụ có thể ký một văn bản và lập tức biến một người thành kẻ không quốc tịch. Nhưng trong nền dân chủ Hoa Kỳ, quyền lực của nhà nước bị giới hạn bởi Hiến pháp và được kiểm soát bởi các tòa án độc lập.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa dân chủ và độc tài không nằm ở việc có một vị tổng thống mạnh hay yếu. Điểm khác biệt nằm ở chỗ ngay cả vị tổng thống quyền lực nhất cũng không thể đứng trên Hiến pháp.
Vì vậy, câu hỏi đúng không phải là liệu Tổng thống Mỹ có muốn tước quốc tịch của ai đó hay không. Câu hỏi đúng là liệu Hiến pháp Hoa Kỳ có cho phép điều đó hay không.
Và cho đến ngày nay, câu trả lời vẫn là: Không một Tổng thống Mỹ nào có quyền đơn phương tước quốc tịch của một công dân Mỹ bằng sắc lệnh hành pháp.
Chỉ có tòa án, thông qua một quy trình pháp lý chặt chẽ và dựa trên bằng chứng rõ ràng, mới có thể xem xét việc hủy bỏ quốc tịch trong những trường hợp cực kỳ hạn hữu được luật pháp quy định.
Hoài Linh Ngọc Dương
*Bài do CTV/TVBH gởi
