CHÂN Y NGHIÊM: NHƯ MỘT DÒNG SÔNG (HỒI KÝ) – KỲ 9: Lục Bình Trôi Sông/Thầy Là Mẹ trong Con

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

KỲ 9

Lục Bình Trôi Sông

Nhà tôi thật nghèo, anh Thanh còn đi học, chị Thuận, cô Lan đi học may. Ba đến tuổi hưu trí, còn phải nuôi bà Dì quanh năm bệnh tật. Chị Nghĩa đã đi buôn bán xa để giúp đỡ gia đình. Còn lại chúng tôi sáu người, không ai kiếm ra tiền, nhà ở thuê, chúng tôi biết làm gì để sống. Tôi đến chùa, nhờ các bà Phật tử nhà giàu giới thiệu việc làm cho tôi.

Tôi được ông Thành, dược sĩ, giới thiệu cho tôi làm gia sư, dạy cô bé mười lăm tuổi. Cô này con gia đình bác sĩ ở Rạch Giá, nhà giàu, làm biếng, ham chơi. Tôi phải về Rạch Giá để sống với gia đình họ. Tiền lương tháng được hai ngàn đồng, tôi đưa hết cho ba chi phí cho gia đình.

Tôi bắt đầu công việc mới, cô giáo bất đắc dĩ, dạy kèm một cô gái còn cao lớn hơn tôi. Nhiệm vụ của tôi là chơi với Hoa, tập cho Hoa sinh hoạt có nền nếp. Bố mẹ Hoa thiếu hòa hợp nên giáo dục gia đình lỏng lẻo, khiến tính tình Hoa ít khiêm tốn. Ông bà bác sĩ rất hài lòng đón tiếp tôi. Mẹ Hoa nói là muốn tôi sống như người nhà, làm bạn với Hoa để truyền đạt những đức tính tốt, dịu dàng, lễ phép, biết thương người. Bà không cần tôi kèm chữ cho Hoa, chỉ muốn con gái bà trở lên nhu hòa, lịch sự, cư xử có văn hóa.

Tôi thân thiện với Hoa, chơi với em như người bạn nhỏ. Tôi kể cho em nghe về mơ ước của tôi, về hoàn cảnh đáng thương của những trẻ mồ côi, những mảnh đời bất hạnh. Tôi chỉ cho em sống hòa mình vào thiên nhiên, thấy vẻ đẹp của trời xanh, mây trắng, thấy tình thương yêu của cha mẹ…

Ông bác sĩ rất hài lòng khi thấy con gái vui vẻ, hòa nhã, biết chào đón mỗi khi thấy ông đi làm về. Ông bà tìm thấy không khí gia đình ấm cúng trở lại. Buổi tối ông lái xe hơi chở cả nhà đi chơi, vào những quán ăn xa nơi thành phố. Ngày nghỉ, ông chở cả nhà đi thăm khu dân cư trồng nhiều cây trái, mua những thứ mà bà bác sĩ và Hoa thích.

Cuộc sống bình dị, thân thiện ở gia đình Hoa khiến tôi bớt niềm đau, day dứt vì nhớ Phương. Sống ở Rạch Giá một năm thì chị Nghĩa gọi tôi về trông nom phụ căng tin quân đội, chị mới trúng thầu. Thế là cuộc sống tôi lại thay đổi. Hàng ngày tôi phải ra bán hàng ở căng tin, tiếp xúc với các binh lính, cuộc sống xô bồ. Nửa năm sau, chị Nghĩa lập gia đình. Tôi xin nghỉ.

Tháng ngày trôi qua nhạt nhẽo trong cảnh nghèo. Rồi tôi cũng xin được việc làm ở sở Xổ số Kiến thiết. Mức lương tạm đủ giúp ba tôi chi tiêu gia đình. Tôi ghi tên học Anh văn ở trường Diên Hồng buổi tối. Tôi chăm chỉ học, lắng nghe thầy giảng tiếng Anh một cách chăm chú. Thầy giáo dạy lớp tôi là thầy Huyến. Thầy có giọng phát âm rất hay, phong cách lịch lãm, dáng vẻ thanh tao, thầy rất được học trò mến mộ. Thỉnh thoảng thầy nhìn tôi, ngầm ý hỏi tôi có hiểu bài không. Tôi nhìn thầy, ánh mắt biết ơn.

Đầu tháng, nhân viên đến lớp gọi tên những học viên chưa đóng tiền học phí, có tên tôi. Tôi ra về mà lòng buồn bã. Tiền lương hàng tháng của tôi chỉ đủ chi phí cho gia đình. Tôi phải đến mượn chị Nghĩa.

Khi tôi đến văn phòng đóng tiền thì được biết đã có người đóng cho tôi rồi. Tôi hỏi là ai, ông thủ quỹ không nói. Từ đó,  người ấy vẫn đóng tiền học cho tôi đến khi hết khóa. Tôi thầm mang ơn người giấu mặt đã giúp đỡ tôi.

Tôi suy nghĩ mãi, đoán rằng người đó chính là thầy Huyến. Thầy khiến tôi xúc động và mang ơn suốt đời.

Tôi không liên lạc với anh Phương nữa. Niềm đau rướm máu nên để cho thời gian làm dịu đi, tôi chấp nhận cuộc sống đơn điệu, buồn tẻ đó.

—–ooooo—–

Thầy Là Mẹ Trong Con

Năm 1963,Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đề nghị thầy Nhất Hạnh đi Pháp để kêu gọi hòa bình cho quê hương. Bom đạn đang tàn phá đất nước, máu chảy, thịt rơi, non sông đang chịu cảnh thương đau khốc liệt của chiến tranh.

Thỉnh thoảng thầy gửi cho tôi lá thư từ Pháp. Đọc thư thầy mà tôi rưng rưng nước mắt.

Thầy kể về hành trình của thầy thật vất vả, nhưng thầy làm tất cả vì quê hương, vì đồng bào Việt Nam đang hứng chịu cảnh chiến tranh nồi da xáo thịt, cảnh anh em Nam Bắc tương tàn trong cuộc chiến tranh đẫm máu ý thức hệ. Dù thầy có phải hy sinh thầy vẫn vui lòng. Dù bận rộn, tâm hồn thầy vẫn thanh thản, mỉm cười đón hạt sương rơi long lanh buổi sáng. Những bước chân chánh niệm vẫn êm ả trên lá thu vàng. Những đêm trăng sáng, thầy đã ngả đầu trên gối mộng để có những vần thơ tuyệt diệu.

Rừng Thu gối mộng trăng mười sáu

Mười sáu trăng rồi, em biết không?

Tôi viết hồi âm cho thầy, kể thầy nghe cuộc sống bình lặng của tôi. Ngoài những ngày đi làm kiếm tiền giúp gia đình, tôi vẫn đi sinh hoạt gia đình Phật tử chùa Giác Minh. Quỳ dưới chân đức Phật tôi nghe trong tôi niềm hạnh phúc tràn dâng, nhìn vào ánh mắt đức Phật, tôi thấy rõ thầy và mẹ tôi đang hiện diện. Hình bóng Thầy và Mẹ tôi quyện vào nhau. Thầy như là Mẹ tôi, đang thương yêu và che chở cho tôi, dẫn tôi đi trên con đường hạnh phúc, con đường của quê hương mà tôi vẫn hằng thao thức.

– Rồi mai lớn lên, em sẽ làm gì cho quê hương của Mẹ?

Những lá thư của thầy đã giúp tôi hồi sinh trong tình thương thanh khiết.

Hình ảnh Phương đôi lúc hiện về trong ký ức, một nỗi buồn mênh mang như một thoáng mây bay, như dư vị hương thơm hoa Ngọc Lan anh đã trao cho tôi năm trước.

Năm 1964, được tin thầy về nước, mọi người mừng vui đi đón thầy. Tôi cũng rất vui, nhưng niềm vui lặng lẽ. Tôi không đi đón mà cũng không đi thăm thầy, dù tôi biết thầy đang ở chùa Phương Bối nằm trên đường Ngô Tùng Châu Gia Định, cách chỗ tôi đang ở khoảng 300m.

Một tuần sau, thầy Thanh Tuệ đi tìm tôi bảo tôi đến chùa Phương Bối gặp thầy Nhất Hạnh. Gặp lại tôi, thầy điềm tĩnh nhìn tôi, đôi mắt vừa xót thương vừa nghiêm khắc. Thầy hỏi, tôi có biết tin thầy về không.

– Dạ, thưa thầy có.

– Thuần bận lắm phải không?

– Dạ, ban ngày con đi làm, tối con đi học.

Thầy hỏi tôi đang làm ở đâu. Tôi trả lời tôi đang làm ở công ty Xổ Số Kiến Thiết. Thầy hỏi mức lương tháng của tôi bao nhiêu.

– Thưa thầy lương con một tháng hai ngàn đồng.

– Tháng sau, Thuần sẽ về làm thư ký Ban Tu thư Phật học giúp thầy, thầy sẽ trả lương tháng cho Thuần hai ngàn năm trăm đồng.

Tôi từ chối, lấy cớ rằng tôi chưa có nghiệp vụ kế toán, đánh máy còn dở, sợ làm hư công việc của thầy.

– Không sao đâu. Thầy sẽ chỉ cho Thuần vài lần là biết. Hơn nữa đánh máy không là việc chính. Mà chủ yếu Thuần ngồi liên hệ nhận bài tham khảo của các học giả ngoại quốc gửi về. Không được từ chối nữa. Tháng sau về làm việc giúp thầy.

Lời thầy như mệnh lệnh, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì từ nay sẽ được gần thầy, lo vì không biết có hoàn thành công việc cho thầy không.

Sáng thứ hai, tôi đến nhận nhiệm sở mới. Trường Cao đẳng Phật học mới được thành lập hơn một năm, đặt cơ sở tạm tại chùa Pháp Hội trên một con đường nhỏ, đối diện Viện Hóa Đạo.

Giữa gian nhà có một bàn lớn hình chữ nhật sơn màu xám, mặt bàn lắp kính, một cái ghế nệm, trông rất đẹp. Tôi đang đứng quan sát chỗ làm việc mới thì thầy xuất hiện. Tôi cúi chào thầy, thầy mỉm cười chỉ cho chỗ làm việc mới của tôi.

Đây là bàn làm việc của cô Thuần. Cô bắt đầu làm việc từ hôm nay. Cô làm Ban Tu thư, thầy Nhất Hạnh làm Trưởng ban. Công việc của cô là tiếp nhận những tác phẩm của học giả trong và ngoài nước. Cô ghi nhận những tác phẩm gửi đến vào từng danh mục, báo cáo cho thầy những văn phẩm cần trả lời.

Những gì không biết, cô cứ hỏi, thầy sẽ chỉ bảo sau. Còn đây là chiếc tủ đựng sách và chiếc máy chữ. Khi làm xong thì cất vào tủ. Thầy dặn dò một số điều nữa, tôi chỉ biết líu ríu dạ vâng.

Tôi bắt đầu công việc một cách khó khăn. Tôi chưa từng học làm văn phòng, chưa biết đánh máy. Thầy đã dạy tôi ấn mười đầu ngón tay vào từng chữ a-b-c-d, cách lên hàng, xuống hàng. Bây giờ tôi phải tập đánh từng chữ, biết bao giờ mới đánh được văn bản cho thầy. Tôi phải cố gắng thôi.

Thầy Nhất Hạnh về nước sáng lập viện Cao đẳng Phật học, mục đích truyền bá Phật giáo cho giới sinh viên, trí thức tìm hiểu đạo Phật chân chính. Các sinh viên theo học phải có bằng tú tài II, được cấp chứng chỉ và văn bằng cử nhân Phật học được bộ Giáo dục công nhận như các văn bằng khác của bậc Đại học.

Năm sau trường mở thêm phân khoa Văn học, bằng cử nhân được cấp có giá trị như trường Đại học Văn khoa. Ban Giáo sư được nhà trường mời dạy đa số là những vị giáo sư có bằng tiến sĩ, có uy tín. Thế nên sinh viên ghi tên học rất đông.

Tôi về làm Ban Tu thư trực thuộc thầy Nhất Hạnh. Công việc của tôi ít giao tiếp với các giáo sư và sinh viên. Buổi sáng tôi đến đúng giờ, lặng lẽ làm việc, tập đánh máy và coi lại những tác phẩm của học giả các nơi gửi đến.

Hàng ngày, thầy đến bên cạnh tôi, ngồi đánh lại những văn bản tôi đã đánh máy sai. Thầy không hề trách móc, chỉ nhẹ nhàng hướng dẫn tôi cách trình bày một lá thư, một văn bản, cách xuống hàng sao cho đẹp. Tôi cảm động và mang ơn thầy. Bầu không khí nhẹ nhàng, tươi mát ở đây đã cho tôi sự bình an. Thấy tôi quanh năm mặc áo dài màu tím, quàng khăn voan màu tím, thầy bảo tôi: Cô Thuần hãy bỏ màu áo tím đi, nhìn cô buồn quá. Hãy vui lên và nở nụ cười tươi. Phong cách cô tượng trưng cho con gái Hà Nội, cô sẽ được nhiều người yêu thương đấy.

Tôi chỉ cúi đầu, khẽ dạ, rồi im lặng. Màu Tím là màu nhớ thương, màu thủy chung. Phương đã ép những bông hoa Pensee màu tím gửi về tôi suốt ba năm trời, đã hết lòng tin tưởng đặt tình yêu chân thành nơi tôi, chỉ yêu cầu tôi hy sinh đạo Phật, đi cùng hướng với Phương, tạo lập một gia đình hạnh phúc trọn đời có nhau, mà tôi không làm được. Một năm qua, dù tôi từ chối, những Phương vẫn đợi, không lập gia đình, mẹ anh hối thúc, anh vẫn im lặng. Tôi cảm thấy có lỗi với anh. Tôi không thể nào thay màu áo mới, tiếp xúc với bạn trai. Tôi sống thầm lặng với tình yêu vô vọng.

Thầy có đăng một thông báo mời gọi các học giả văn hữu trí thức gửi tác phẩm về Ban Tu thư Viện Cao đẳng Phật học, Nguyệt San Hải Triều Âm, gửi về cô Phan Thị Thuần.

Phương biết chỗ tôi làm việc. Anh đến gặp thầy Nhất Hạnh, nhờ thầy chuyển cho tôi tấm thiệp hồng, báo tin ngày anh kết hôn, mời tôi tới tham dự.

Nhà tôi ở rất xa, nên buổi trưa thầy cho tôi dùng cơm, có thầy Thanh Văn. Thầy nấu cơm khéo, làm thức ăn đơn giản mà rất ngon. Trưa hôm đó tôi không lên dùng cơm, gục đầu trên bàn, ngồi khóc nức nở trong góc tối của căn phòng. Nỗi đau đớn khiến tôi nấc nghẹn. Tôi không oán trách, không nuối tiếc Phương. Sự tan vỡ này do chính tôi gây ra, nhưng khi nghe tin Phương đi lấy vợ, tôi thấy tan nát cõi lòng. Thôi thế là hết. Từ nay chúng tôi sẽ vĩnh viễn mất nhau.

Bỗng nhiên có ai đó ôm nhẹ đầu tôi. Tôi ngẩng lên, chính là thầy.

Thầy nhìn tôi ánh mắt dịu dàng, ánh mắt của mẹ tôi, của đức Quan Âm, mát rượi như giọt mưa cam lộ, xóa tan niềm đau đang bóp nát tim tôi. Thầy dìu tôi đứng lên, khẽ nói: Lên dùng cơm, thầy Thanh Văn đang đợi Thuần.

Ngày hôm sau tôi mua bức tượng nhỏ màu trắng, làm bằng thạch cao, hai bé đang chụm đầu bên nhau học bài. Tôi nhờ cô Mai Tuyết An đi cùng với tôi đến nhà anh Phương mừng đám cưới, để giã biệt anh ấy. Lúc đó vào buổi chiều, con đường Trương Minh Giảng ngập nắng. Nhà thờ Ba Chuông rộn tiếng chuông ngân. Bước vào nhà, tôi thấy mẹ anh đang trưng bày bàn thờ Chúa Giêsu và Đức Mẹ đồng trinh, tôi cúi đầu chào bà, khẽ hỏi:

Thưa cụ, anh Phương có nhà không ạ?

Tiếng nói tôi vừa dứt, thì anh Phương từ trên lầu chạy xuống thật nhanh. Anh ôm chầm lấy tôi, ôm thật chặt như sợ tôi biến mất. Mai Tuyết An đứng ngẩn ra nhìn rồi cô đi ra ngoài cửa. Tôi xúc động, không khóc được vì nước mắt đã cạn rồi. Tôi gỡ mình ra khỏi vòng tay anh, chạy ra ngoài, cầm tay Tuyết An đi vội ra đường.

Thôi thế là hết. Mối tình đẹp và trong sáng như trăng rằm của tôi và anh kéo dài bốn năm đã chấm dứt từ đây. Tiếng hát Tà Áo Cưới của Hoàng Thi Thơ phát ra từ ngôi nhà bên đường, khiến lòng tôi xao xuyến. Thôi nhé anh, mình xa nhau mãi mãi. Chúc anh tràn đầy hạnh phúc.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search