CHÂN Y NGHIÊM: NHƯ MỘT DÒNG SÔNG (HỒI KÝ) – KỲ 10: Duyên Kiếp

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

KỲ 10: Duyên Kiếp

Ngày 6 tháng 10 năm Giáp Thìn 1964, một cơn bão lụt khủng khiếp đổ ập lên các tỉnh miền Trung do Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ. Về đêm, trong các vùng nông thôn thì Việt Cộng kiểm soát. Dân chúng sống giữa hai lằn đạn, hai chế độ, đời sống rất cơ cực, cơm không đủ no, áo không đủ mặc giữa cái rét buốt miền Trung. Khi bão lụt ập tới, trôi hết tài sản, lúa gạo, đàn gà, vịt, trâu bò, đời sống cơ cực thảm thương. Giữa biển nước mênh mông, tàu thuyền của các đoàn thể không dám tiến sâu vào các vùng hiểm yếu, Việt Cộng bắn súng ra, các đoàn cứu trợ đành ra về, đau lòng nhìn đồng bào chết đói.

Thầy Nhất Hạnh thành lập đoàn cứu trợ của sinh viên Đại học Vạn Hạnh. Thầy kêu gọi các bạn sinh viên Vạn Hạnh và các trường Đại học Sài Gòn tham gia vào đoàn cứu trợ.

Đoàn chia thành từng nhóm, mỗi nhóm có 5 người, có nhóm trưởng nhóm phó, mỗi nhóm tự làm thùng quyên tiền bằng thùng sữa carton, tự trang trí tên của nhóm ví dụ như: LA HẦU LA, viết tên viện Đại học Vạn Hạnh và dòng kẻ “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”

Có tất cả 15 nhóm, có sự tham gia của sinh viên viện Đại học Sài Gòn, và  có các anh Chương, anh Linh, anh Tài khoa Quản trị Kinh doanh, viện Đại học Đà Lạt. Các anh phân chia từng nhóm đi theo lộ trình các quận trong thành phố. Ngày xuất quân, khí thế sinh viên từng nhóm ôm thùng cứu trợ lên đường quyên tiền cứu trợ rất vui. Tôi được thầy phân công làm thủ quỹ, ngồi văn phòng thu nhận tiền của các nhóm quyên góp được, ghi ngày tháng và yêu cầu hai anh trưởng, phó ký tên.

Anh Phúc, thư ký bên phân khoa Phật học thì thu gom vật phẩm do sinh viên quyên góp được. Công việc tuy bận rộn nhưng rất vui.

Được một tuần thì chương trình quyên góp khóa sổ. Số tiền và vật phẩm được đồng bào nhiệt tình ủng hộ rất nhiều. Thầy giao cho tôi liên hệ với phòng Xã Hội Sài Gòn, xin thêm gạo và phương tiện chuyên chở ra miền Trung. Có vài anh muốn chở tôi đi liên hệ, nhưng các anh chỉ có xe đạp hoặc xe Velosolex. Trong đoàn sinh viên, có anh Lưu An Bang là có xe Lambretta đời mới, anh tình nguyện chở tôi đi liên hệ với phòng Xã Hội thành phố và kho gạo ở Chợ Lớn mua thêm, đến các tiệm mì Ngũ Vị Hương, Hảo Hảo, Vifon, Miliket… để mua và cũng xin họ ủng hộ thêm. Nhờ lòng hảo tâm của mọi đồng bào mà đoàn chúng tôi quyên được rất nhiều vật phẩm.

Hàng cứu trợ chất đống cao ở bến sông Bạch Đằng. Thầy Nhất Hạnh, chị Cao Ngọc Phượng, các tăng ni và các anh chị nhóm Thanh Niên Phụng Sự Xã hội đi ca nô và thuyền, chở hàng ra miền Trung tiếp tế cho đồng bào đang bị lũ lụt tràn ngập vào bờ. Trên biển nước mênh mông, đoàn cứu trợ đi trong mưa gió, có những phát súng từ trong làng hẻo lánh bắn ra, thầy bảo các anh chị giương cờ Phật giáo và bắc loa phóng thanh nói to yêu cầu các anh dân quân ngưng bắn để cho đoàn vào tiếp tế cho đồng bào đang đói khổ khắp thôn làng. Tàu thuyền không được tiến gần bờ, thầy và các thành viên trong đoàn phải lội nước khuân vác thực phẩm mang đến tận tay đồng bào. Chuyến đi thật vất vả, nguy hiểm. Sau một tuần lênh đênh trên biển nước, dưới cơn mưa bão, súng đạn vô tình, nhờ đức Quan Âm che chở cả đoàn đã thực hiện được công cuộc cứu trợ cho đồng bào một cách viên mãn.

Nhờ có anh Bang nhiệt tình chở đi liên hệ nhiều chỗ, tôi đã thực hiện nhiệm vụ một cách tốt đẹp.

Anh Bang rất chu đáo, bảy giờ sáng, tôi đã thấy anh đứng  trước cửa nhà tôi, ở đường Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận để đưa tôi đến trường Cao đẳng Phật Học, hẻm đường Trần Quốc Toản, nơi tôi làm việc. Chiều đến, đúng 4 giờ 30 anh đứng trước cửa trường đón tôi về, anh luôn rất đúng giờ.

Tôi thấy ngại làm phiền anh, nói để tôi đi xe đạp, anh đừng mất quá nhiều thì giờ vì tôi.

Anh làm thinh, ngày nào anh cũng đến đón đưa như vậy, tôi có trốn cũng không được.

Về phần tôi, từ ngày anh Phương lấy vợ, tôi đã bỏ màu tím. Tôi đã thoát được mặc cảm có lỗi, vì đã từ bỏ lời hẹn ước với anh. Bây giờ, tôi không còn bị ràng buộc bởi mối tình vô vọng ấy nữa. Tôi đã cho phép tôi được giao thiệp với bạn trai.

Có mấy anh sinh viên cũng hay đến trò chuyện với tôi, nhưng tôi chỉ coi các anh như bạn.

Riêng đối với anh Bang, sự chăm sóc nhiệt tâm khiến tôi cảm động. Anh Bang còn rất trẻ, da trắng, môi hồng, mắt trong xanh, một mí rất đẹp, nụ cười của anh khả ái, có sức quyến rũ. Anh Bang rất đẹp trai, giống như công tử con nhà giàu. Nhiều cô sinh viên trong trường để ý, theo đuổi anh. Nhưng anh lại dành tình cảm, hết lòng chăm sóc tôi, khiến tôi xúc động và tâm hồn tôi được sưởi ấm lại.

Một buổi chiều, anh chở tôi dạo chơi bến sông Bạch Đằng, rồi anh đưa tôi vào một quán cà phê nhỏ trên đường Chánh Hưng. Anh gọi cho tôi ly cà phê sữa. Anh nhìn tôi thật lâu rồi ngập ngừng nói:

– Thuần, tôi yêu em! Tôi yêu em ngay giây phút đầu tiên khi tôi bước chân vào văn phòng viện Cao đẳng. Em mặc áo dài màu tím, dáng trầm lặng và buồn. Tôi muốn đến nói chuyện với em nhưng tôi không dám, nhìn em nghiêm trang và thánh thiện. Chiều nào tôi cũng đến văn phòng để nhìn em, tôi đợi lúc em ra về, đến lấy chiếc xe đạp ra cho em, chân tay luýnh quýnh, xô vào em xuýt ngã. Chỉ làm cho em được bấy nhiêu, tôi cũng thấy vui lắm.

Đến khi trường tổ chức cứu trợ, tôi tình nguyện trong ban cứu trợ và tôi được làm tổ trưởng.

Mỗi buổi chiều được em nhận tiền, ký tên vào sổ, được nhìn em, nói với em vài câu, tôi thấy thật vui. Đến khi được em nhận lời chở em đến sở Xã Hội xin giấy phép và xe, tàu đi miền Trung, tôi mừng lắm. Thế là tôi có cơ hội để ngỏ lời yêu em và xin cầu hôn với em. Hôm nay, tôi thành khẩn xin em đón nhận tình yêu chân thật của tôi và nhận lời cầu hôn của tôi.

Tôi nhìn anh thật sâu rồi nhẹ nhàng hỏi anh:

– Trước khi gặp em, anh đã từng yêu cô nào chưa?

Anh thoáng chút ngập ngừng: có, khi anh học Y khoa năm thứ hai, anh yêu một cô tên là Chân Như, nhưng khi anh rời bỏ Y khoa, sang trường Kiến trúc thì anh không gặp cô ấy nữa. Anh học Kiến trúc năm nay là năm thứ ba, nhà trường có cho anh một học bổng sang Nhật để chuyên ngành thiết kế. Khi gặp em, anh rất yêu em, anh nghĩ nếu anh du học, khi trở về anh mất em, thì bằng cấp cũng trở thành vô nghĩa.

 Tôi cúi đầu im lặng. Khi từ giã Phương, tôi nghĩ tôi không thể yêu ai được nữa.

Tôi đi kiếm thầy Nhất Hạnh và ngỏ lời với thầy: Con muốn xuất gia để thực hiện lời hứa với đức Phật, để sống hạnh nguyện cứu giúp các trẻ mồ côi.

Thầy nhìn tôi với ánh mắt thương xót, dịu dàng nói:

– Con chưa thể xuất gia bây giờ được. Các sư bà và tăng ni trong chùa vẫn còn giữ nề nếp cũ, khắt khe, cực khổ lắm. Con đợi thầy thành lập Tăng Thân, thầy sẽ đón con đến chốn bình an, lúc đó con tu cũng chưa muộn.

 Năm nay tôi 25 tuổi, tôi phải đợi thầy đến bao giờ. Các chị em tôi đã lập gia đình cả rồi, anh Thanh cũng sắp lấy vợ. Tôi sẽ sống cô đơn với niềm đau khắc khoải khi nghĩ đến Phương. Không, tôi phải tìm cho tôi một lối thoát.

Trước mặt tôi là Bang, anh khôi ngô tuấn tú, phong độ. Anh rất trẻ, chưa có mối tình đầu, anh học giỏi, nói năng chững chạc. Anh có phong cách, tôi còn đợi gì nữa mà không nhận lời cầu hôn của anh.

Tôi nhìn anh thật lâu, dịu dàng nói: Trước khi nhận lời cầu hôn của anh, em cần nói rõ về thân thế em để anh suy nghĩ, để mai này anh khỏi hối tiếc vì đã yêu em.

– Em làm văn phòng Ban Tu thư Phật học, thư ký cho thầy Nhất Hạnh. Em không phải là sinh viên, không có bằng Tú Tài II. Gia đình em rất nghèo, hiện tại em phải đi làm để giúp đỡ gia đình. Về tình cảm, trước đây có một anh sinh viên học đại học sư phạm Triết ở viện Đại học Đà Lạt, anh ấy xin cưới em nhưng yêu cầu em phải vào đạo Thiên Chúa. Em từ chối vì em đã thệ nguyện với đức Phật sau này em sẽ đi tu để cứu giúp các trẻ mồ côi, và em rất thương mẹ em, không thể bỏ mẹ mà đi. Đó, tất cả dĩ vãng em đã nói cho anh nghe hết rồi, em muốn mình đến với nhau bằng sự chân thành, anh cảm thấy được thì mình tiến tới, nếu có lấn cấn thì mình có thể ngừng ở đây.

Bang nắm chặt tay tôi, tha thiết nói: Anh không cần bằng cấp, giàu nghèo. Anh không quan tâm đến dĩ vãng của em. Người con gái nết na, hiền thục như em, chắc chắn phải có nhiều người yêu quý. Anh cảm ơn em vì đã tin tưởng anh, trao tình yêu cho anh, nhận lời cầu hôn của anh, anh thật là người hạnh phúc.

Từ hôm đó chúng tôi chính thức yêu nhau. Tôi kể hết chuyện của tôi với Bang cho thầy nghe, như kể cho mẹ tôi. Tôi có thầy là có mẹ, có cả bầu trời, tôi không còn cảm thấy lạc lõng, đơn côi nữa.

Một tuần sau, thầy cho tôi nghỉ phép để lấy lại sức khỏe sau những ngày làm việc. Tôi có nói với Bang tôi sẽ lên chơi nhà cô Yến ở Đà Lạt. Bang có vẻ không vui, nhưng tôi vẫn đi.

Một tuần lễ ở Đà Lạt thật hạnh phúc và thú vị. Các anh Chương, Linh và Tài, mà tôi quen được trong thời gian làm cứu trợ, đang học khóa Quản trị Kinh doanh ở đó. Nghe tin tôi lên chơi, các anh đều xin nghỉ học, thuê xe chở tôi đi thăm các thắng cảnh nổi tiếng như thác Prenn, hồ Than Thở, Thung Lũng Tình yêu, Đồi Thông Hai Mộ… các anh chuẩn bị nước và đồ ăn trưa rất chu đáo. Chúng tôi dùng Picnic, ngồi quây quần bên nhau hát, chơi những trò chơi vui và kể chuyện cho nhau nghe rất thoải mái. Đó là những ngày vui vẻ nhất của tôi. Hôm tiễn tôi về, các anh chở cô Yến và tôi ra bến xe đò về Sài Gòn.

Hôm sau, Bang đến đón tôi đi làm, anh chở tôi vào công viên Văn Lang hỏi tôi những ngày ở Đà Lạt đi chơi những đâu, ai chở tôi đi chơi. Tôi hồn nhiên kể cho anh nghe những chuyến đi thăm thắng cảnh Đà Lạt với các anh Chương, Linh và Tài. Bang cười hỏi tôi:

– Em có hạnh phúc những ngày nghỉ ở Đà Lạt không.

Tôi gật đầu.

Bang lặng người, rồi tát mạnh một cái vào má tôi, giọng đầy khổ sở: Em có biết ở nhà tôi từng phút nhớ em, nhớ em đến nỗi tôi không còn tâm trí học hành. Vậy mà ở Đà Lạt, em lại đi chơi, vui đùa thoải mái với những đứa bạn trai. Em có biết như vậy là có lỗi với tôi không.

Tôi đau quá, ôm mặt khóc, chạy thẳng về viện Cao đẳng. Bang lái xe chạy theo gọi tôi, tôi từ chối.

Tôi lên gặp thầy, kể thầy nghe nỗi uất ức của mình.

– Thưa thầy, con đâu làm gì có lỗi với anh ta, vậy mà anh ta đánh con ngay giữa công viên. Bây giờ chúng con chưa có hẹn ước gì với nhau mà anh ta còn đối xử với con như vậy. Mai sau, cưới nhau rồi, anh ta còn thô bạo đến thế nào, con không chịu nổi đâu. Thầy cho phép con được rút lui khỏi mối tình này.

Thầy lắng nghe tôi kể, với ánh mắt dịu dàng xót thương, giọng thầy ấm áp: 

– Trong tình yêu có nhiều tình huống xảy ra giữa hai người. Ghen tuông, nghi ngờ, khi người ta chưa thật sự hiểu nhau. Tình yêu càng mạnh thì sự bộc phát đôi lúc thô bạo. Con nên khéo léo trong khi hành xử. Chỉ cần một lời nói quá thật thà, vô tình làm cho anh ta đau xót, nổi nóng, tạo nên sự rạn nứt tình yêu. Bày tỏ sự thật và thẳng thắn là một đức tính tốt, nhưng đôi lúc con không nên nói tuột ra hết, nếu không cần thiết. Phải gạt bỏ tự ái trong tình yêu. Có điều gì không vừa ý thì tìm cơ hội thích hợp để bày tỏ một cách nhẹ nhàng những điều sai sót cần phải sửa đổi. Không nên để hạt cát vướng trong mắt một cách chịu đựng, phải lấy nó ra ngay. Hạnh phúc gia đình phải được xây dựng bằng sự hiểu biết và thương yêu. Thầy thấy ở con đức tính bao dung, tha thứ, sự nhẫn nhịn và lòng tự trọng khá cao.

– Thầy hy vọng con sẽ có một gia đình hạnh phúc. Bang tuy còn trẻ, nhưng anh ta chín chắn, trung thực, nhiệt tình. Anh ta vì quá yêu con, vì quá thương nhớ con nên khi nghe những lời kể chuyện hồn nhiên, vô tình của con, anh ta nổi điên mà tát con cho hả cơn giận.

Ngồi lắng nghe những lời thầy dạy mà lòng tôi nhẹ nhõm. Tôi không còn tức giận Bang nữa mà chỉ thấy thương anh. Anh đã vì tôi mà sáng chiều đưa đón tôi đi làm, mặc dù đường rất xa. Chiều chiều anh chở tôi đi dạo phố. Có những ngày chủ nhật anh đưa tôi đi dạo đồng quê, ngắm những cánh đồng lúa vàng nặng trĩu hạt, đong đưa trong gió mát chiều hè. Có những buổi sáng cuối tuần, nắng hồng rực rỡ, anh chở tôi đi dạo công viên, chạy trên những đồi cỏ non, anh rượt bắt tôi như con thỏ, anh bắt được tôi, tỏ ra rất thích thú, anh ôm chặt tôi vào lòng, miệng cười thật tươi, nói vừa đủ cho tôi nghe: Anh bắt được em rồi nhé. Anh sẽ ôm chặt em mãi mãi, không để ai chạm được em đâu, rồi anh hôn tôi cuồng nhiệt giữa chốn đông người.

Có những lần anh chở tôi đi ngắm vườn hoa đủ màu sắc trong ánh nắng hoàng hôn, thăm hồ sen nở bông ngát thơm trong nắng nhẹ của buổi chiều vàng. Anh bước xuống hồ hái một bông sen trắng vừa hé nụ. Anh quỳ một chân dâng tôi bông hoa, miệng thành khẩn nói: Anh tặng em bông sen trắng, mong rằng em nhận lời làm vợ anh, đức hạnh và tinh khiết như đóa sen này. Chúng ta sẽ làm vợ chồng trọn vòng luân hồi, sẽ yêu thương nhau mãi mãi. Anh sẽ che chở cho em, không để em phải khổ tâm, lao nhọc.

Rồi anh đứng dậy ôm chặt lấy tôi, hôn tôi cuồng nhiệt như sợ tôi chạy khỏi cuộc đời anh.

Bang đã mang đến cho tôi cuộc tình nóng bỏng, lãng mạn của tuổi thanh xuân. Tôi như được hồi sinh, sống hân hoan trong hạnh phúc. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ được nề nếp lời mẹ dạy. Tôi không vì quá đam mê buông thả trong tình yêu bốc cháy của Bang, mà để tấm thân khổ lụy. Tôi vẫn giữ cho mình sự thanh khiết.

Tôi nhắc Bang: Mình nên làm đám hỏi, đám cưới nhanh lên. Em không muốn tình trạng này kéo dài làm mất thời gian học tập của anh thế này, anh đâu còn thời gian tâm trí mà học nữa.

Một tháng sau, gia đình Bang gồm có cụ thân sinh Bang và người chị cả, mang lễ vật đến gặp ba tôi, xin làm đám hỏi cho tôi và Bang được thành duyên đôi lứa. Lễ vật đơn giản, đủ báo tin vui cho bạn bè và họ hàng.

Còn về đám cưới, Bang nói để thư thả, đợi anh tốt nghiệp, đi dạy nhiều trường sẽ có tiền, tổ chức đám cưới long trọng, cho tôi mát mặt với bạn bè.

Tôi nói: Điều đó không cần đâu anh. Mình yêu nhau chân thật. Hạnh phúc do mình tạo ra, chứ không phải bạn bè. Em không muốn lệ thuộc quá nhiều vào người khác. Mình sẽ làm đám cưới ở chùa, vừa đỡ tốn tiền, vừa cầu xin đức Phật chứng minh cho tấm lòng chí thành của em. Ngài sẽ vui vẻ gia hộ cho chúng ta hạnh phúc, sống trọn đời bên nhau.

Bang băn khoăn: Anh còn đang đi học, ở chùa thì cũng phải tốn tiền, mình lấy đâu ra để lo làm đám cưới.

Tôi đưa tay lên môi, ra hiệu anh im lặng.

Tôi đến chùa Vĩnh Nghiêm, xin gặp Thượng tọa Tâm Giác và Thượng tọa Thanh Kiểm. Thượng tọa Tâm Giác hiện đang làm giám đốc nha Tuyên úy Phật giáo, còn Thượng tọa Thanh Kiểm đang làm trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm. Tôi ít đi chùa Vĩnh Nghiêm, nên sự quen biết hai vị này cũng không thân cận lắm. May mắn sao, tôi gặp được cả hai vị. Tôi chắp tay lễ phép chào hai thầy, rồi tự giới thiệu:

– Con là đoàn sinh Phật tử chùa Giác Minh, và hiện đang là thư ký của thầy Nhất Hạnh.

Tôi kể hai thầy nghe về mối tình trong sáng của chúng tôi. Chúng tôi muốn kết hôn, đám cưới sẽ tổ chức tại chùa Giác Minh, nhưng cả hai chúng tôi đều không có tiền. Bang còn đang đi học, cuối năm nay mới ra trường, còn tôi, làm thư ký cho thầy, lương hàng tháng chỉ đủ giúp gia đình.

– Bây giờ, con xin hai thầy cho con mượn một ngàn để làm đám cưới và xin mời hai thầy đi dự đám cưới của chúng con.

Tôi thật không ngờ, đức Phật gia hộ cho chúng tôi. Thượng tọa Thanh Kiểm quay trở vào phòng rồi ra đưa tôi chiếc phong bì, ngài còn nói:

– Hôm nào tổ chức đám cưới, nhớ gửi thiệp, hai thầy sẽ đi dự đám cưới của chị.

Tôi mừng đến rưng rưng nước mắt, cúi chào thầy rồi ra về.

Đám cưới được tổ chức tại chùa Giác Minh đơn giản. Tôi đặt 10 mâm cỗ chay, khách mời là thân quyến gia đình hai bên, một số bạn bè thân. Chúng tôi rất mừng vui. Quý Thượng tọa Minh Châu, Thượng tọa Tâm Châu, Thượng tọa Tâm Giác, Thượng tọa Thanh Kiểm, vài thầy đang ở chùa Giác Minh, sư cô Tịnh Nguyện… đã đến dự đám cưới thanh đạm của chúng tôi. Thượng tọa Chính Tiến là thầy quy y cho tôi đích thân làm chủ lễ. Hình như là lần đầu tiên chùa Giác Minh tổ chức lễ cưới cho chúng tôi, vì hồi đó không có mấy người làm đám cưới tại chùa.

Cả hai chúng tôi đều nghèo. Bang đang là sinh viên, còn tôi làm việc cho thầy, lương tháng khá ít. Ngày đầu tiên chúng tôi dẫn nhau đi Biên Hòa, vào ngôi nhà trọ bình dân. Chúng tôi đã ôm chặt lấy nhau trong nỗi mừng vui và lo sợ. Nước mắt đã trào ra, như hai đứa trẻ con. Chúng tôi cùng nhìn về tương lai, thấy cuộc sống bấp bênh đang trên một con thuyền chưa bến đỗ. Bang vỗ về tôi, ngọt ngào nói: Em ráng chịu cực khổ ít ngày, cuối năm anh ra trường, anh sẽ đi dạy học, cuộc sống chúng ta sẽ ổn định. Thời gian này, em hãy nghỉ làm ở viện Phật Học. Em chấm dứt tiếp xúc với bạn bè, dù là bạn gái. Anh sẽ chở em về thăm ba em, em không được tự ý một mình đi ra ngoài khi chưa được anh cho phép. Còn nếu em cãi lời anh, lén lút ra ngoài tức là em đã đi ngoại tình, anh sẽ đánh em đau. Bang ôm chặt tôi vào lòng, thủ thỉ những lời nói ngọt ngào, như một mệnh lệnh.

Rồi anh kể chuyện về anh. Gia đình anh thuộc thành phần nho giáo. Thầy anh là nhà nho uyên thâm. Ông cụ làm chánh tổng huyện Thanh Trì, tính tình cụ nghiêm khắc.

Cụ có một bà vợ cả, bà này không có con. Còn mẹ anh là bà hai, sinh ra bốn người, chị Nghiêu, anh Viêm, anh Bang và cô em út tên Huyền. Một hôm mẹ anh đang dẫn em Huyền mới có một tuổi đi chợ thì bị cộng sản bắt cóc, rồi giấu vào tù, chỉ vì cái tội chồng của bà lúc đó đang làm thông ngôn cho người Pháp. Lúc ấy mẹ Bang đang có mang, và sắp sanh đứa con thứ năm, nhưng chúng lại bỏ mặc  bà trong tù, cùng với em Huyền mới được một tuổi suốt hơn một tháng trời. Bà bị khó sanh mà chết. Bà chết đau đớn, chết cả mẹ lẫn con. Em gái 1 tuổi của anh sau đó được chúng thả về, vì sợ quá mà bị bệnh động kinh chữa cả ba năm mới khỏi. Khi mẹ anh qua đời,  Bang mới có ba tuổi.

Nửa năm sau, cô em gái ruột của mẹ Bang đã tự nguyện gả cho Thầy anh, trở thành vợ kế để trả ơn,  vì trước đó bà làm cộng sản, bị bắt và ông cứu bà từ tay người Pháp; cũng là vì để chăm sóc mấy đứa cháu mồ côi, mất Mẹ do cộng sản giết.

Suốt trong quãng đời thơ ấu, nay đây mai đó của gia đình anh, chị cả phải đi làm thuê để kiếm gạo phụ với bố nuôi các em. Còn bà ba không đi làm,  chỉ hoạt động cho cộng sản như trước kia. Công tác đảng giao bận rộn, bà không giúp gì cho gia đình.

Đến năm 1950, ông cụ dắt 4 đứa con trốn về Hà Nội, xin đi dạy học, lương cũng chẳng đủ sống, nên chị cả vẫn phải đi làm thuê phụ giúp gia đình. Tính tình ông cụ nghiêm khắc, gia trưởng nên Bang không có tuổi thơ. Anh và người anh trai đều học Kiến trúc. Cả hai anh em đều thông minh, học giỏi nên được nhà trường cấp học bổng. Chị cả đi làm phụ giúp gia đình đến tối mới về. Nấu ăn, hai anh em Bang phải tự lo.

Nghe anh kể chuyện mà tôi thấy nghẹn ngào. Bang còn khổ hơn tôi, tôi còn có mẹ thương yêu chăm sóc đến năm 14 tuổi. Thế mà, tôi đã thấy đau khổ lắm. Còn Bang mới lên ba, cái tuổi thơ dại đã mất mẹ rồi. Anh thiếu tình thương từ thời ấu thơ,  chưa được nếm trải sự ngọt ngào của tình mẹ. Thế nên gặp tôi, anh đã tìm thấy nơi tôi một bóng dáng dịu dàng, một ánh mắt bao dung, một tình yêu độ lượng nên anh đã quấn chặt lấy, không một phút buông lơi, sợ tôi sẽ chạy mất như mẹ anh đã đi vào lòng đất, khi anh mới có ba tuổi.

Trở về nhà chị cả, nhìn thấy cảnh gia đình anh, bốn người sống nhờ vào chị và anh rể phải làm bánh phở vất vả. Bây giờ có thêm tôi nữa, tôi nghỉ việc làm rồi, đâu còn tiền phụ với chị.

Thế nên, tôi xin Bang cho tôi đi làm lại. Bữa trước Hòa thượng Minh Châu đích thân đến nhà Bang gặp ông cụ và Bang xin cho tôi đi làm trở lại. Thầy nói: Chúng tôi không thiếu người, nhưng tìm được người siêng năng, có tinh thần trách nhiệm như cô Thuần thì khó.

Cả ông cụ và Bang đều từ chối. Nhìn thầy thất vọng ra về, tôi vừa đau lòng, vừa giận bố con Bang. Nhưng biết làm sao bây giờ. Ván đã đóng thuyền rồi!

Hàng ngày phải sống nhờ vả vào chị cả và anh rể, nhìn sắc mặt mọi người lạnh lùng, tôi thấy khó chịu. Tôi không thể sống bám vào anh chị khi tôi vẫn đủ sức khỏe. Tôi nói với Bang:

– Khi anh chưa lập gia đình, anh có thể sống nhờ vả vào chị để đi học. Bây giờ anh có vợ rồi, anh lại kéo thêm em sống bám vào anh chị ấy. Em không thể chịu nổi cảnh này. Anh cấm em đi làm vì sợ các sinh viên họ trêu ghẹo em. Bây giờ em sẽ sang một cái sạp bán quần áo ngoài chợ. Ở đấy chỉ có mấy bà buôn bán và người đi chợ, anh yên tâm rồi chứ. Nếu anh vẫn cấm em, em sẽ về nhà ba em ở. Em không chịu nổi cảnh sống bám thế này. Khi ra chợ bán rồi, em sẽ gửi chị cả mỗi tháng hai ngàn đồng để phụ vào phần cơm của anh và của em.

Cuối cùng thì Bang đồng ý. Tôi và Bang ra chợ Ông Tạ tìm một sạp quần áo để sang. May mắn tôi tìm được một cái sạp bán quần áo trẻ em, giá cả cũng rẻ. Chị bán hàng chỉ tôi cách mua bán và lấy mối của bạn hàng. Thế là, tôi trở thành một cô bán quần áo ngoài chợ. Sáng sớm Bang chở tôi ra sạp ngoài chợ. Chiều đến đúng giờ Bang đón tôi về. Anh hay đùa giỡn những câu như:

– Hôm nay có người đàn ông nào đến mua hàng không? Có ai tán tỉnh em không?.

Những đùa vớ vẩn ấy chiều nào cũng lặp lại, khiến tôi vừa khó chịu vừa buồn cười cái anh chàng điên điên này, hết chuyện để nói.

Cuối năm đó, tôi mang thai. Chúng tôi phải về nhà ba tôi ở nhờ. Lúc này Bang đã tốt nghiệp 2 bằng cử nhân. Một cái Văn học, một cái Phật học. Bang đã đi dạy học. Cuộc sống của chúng tôi tạm ổn định. Ở nhà bên ngoại, Bang phải đi dạy học thường xuyên, không quản chế được tôi. Bang trở nên đa nghi, khó tính. Anh hay dò xét từng cử chỉ buồn vui của tôi, khiến tôi cảm thấy ngộp thở. Trước khi gặp Bang, tôi như con chim bồ câu, sống thoải mái trong bầu trời tự do. Tôi hay đi thăm trại mồ côi chơi với các cháu bé, tôi hay đi chùa sinh hoạt với gia đình Phật tử, đi thăm một vài thầy để nghe các vị nói về chân lý cuộc sống.

Chiều xuống tôi thả hồn trong từng vạt nắng, từng dòng nhạc êm đềm. Tôi yêu tiếng hát đồng quê, tiếng chim hót lúc ban mai, tôi thao thức về nhân sinh quan kiếp người. Ôi, tâm hồn tôi như biển rộng mênh mông, tình yêu của tôi trải dài khắp quê hương, trong đó có mẹ tôi, có anh chị em, bạn bè, và cả những người bất hạnh. Bây giờ, làm vợ Bang, tôi như con chim bị nhốt trong cũi sắt, tôi bị kiểm soát từng ánh mắt, từng cử chỉ, từng nụ cười, từng nét buồn vui.

Tôi cười tươi tắn khi thấy Bang về, anh lại nhìn tôi, nói giọng nửa dò xét, nửa bông đùa : Hôm nay có anh nào đến chơi, em vui thế?

Hoặc khi tôi nghe bản nhạc, cảm thấy thoáng buồn, Bang vặn hỏi: Em nghĩ đến ai mà sao mơ mộng vậy?

Đấy, cuộc sống của tôi là những điệp khúc tra hỏi, nửa đùa, nửa thật của Bang. Tôi cảm thấy tình yêu đã chết trong tôi. Tôi trở nên cô đơn, sợ hãi. Bang muốn tôi không đươc bước chân ra khỏi nhà. Nếu tôi tự ý đi một mình là tôi ngoại tình.

Sáng nay, tôi trốn ra khỏi nhà, như con chim sổ lồng, vừa đi vừa lấm lét sợ Bang bất ngờ trông thấy. Tôi phải đi gặp thầy, để giãi bày hết nỗi đau khổ, ấm ức đang vò xé tâm can tôi. Tôi ghé chùa Phước Hải, vừa nhìn thấy tôi, các sư cô đã kêu lên: Chị Thuần, từ ngày lấy chồng sao không thấy chị đến chùa. Mà sao nhìn chị thảm quá vậy, xanh xao, mặt nhìn thấy không có thần sắc.

 Tôi chảy nước mắt, rồi chạy ra ngoài đường. Tôi phải gặp thầy ngay, phải kể hết cho thầy nghe nỗi ấm ức của tôi.

Tôi không muốn kéo dài cuộc sống ngục tù này nữa.

Tới đường Lê Ngô Cát, tôi gặp thầy tại nhà bác sĩ Hiệu. Nhìn thấy vẻ xanh xao của tôi, thầy ái ngại hỏi: Con làm sao vậy, con có bệnh không?

Tôi rưng rưng nước mắt, lắc đầu.

– Con có điều gì buồn, kể cho thầy nghe đi.

– Thưa thầy, con không chịu nổi Bang nữa rồi. Anh ta cấm đoán không cho con bước ra khỏi nhà, cắt mọi liên hệ của con với bạn bè, kiểm soát con trong mọi hành động buồn vui. Con mất hết tất cả mọi tự do, cả trong suy nghĩ. Con muốn chấm dứt cuộc hôn nhân này.

Thầy ngồi im lặng hồi lâu, rồi dịu dàng hỏi: Bang có mối quan hệ với cô gái khác không?

– Dạ thưa Thầy không.

– Bang có bỏ bữa cơm nào ở gia đình không?

– Dạ thưa không.

– Bang có ngủ đêm ở chỗ khác không?

– Dạ thưa không.

– Bang có đánh con không?

– Dạ thưa không.

– Bang có nói lời đay nghiến, thô bạo với con không.

– Dạ thưa không.

Thầy nhìn tôi với ánh mắt dịu dàng, nói:

– Con biết không, hồi ở bên Mỹ, thầy rất ít khi gặp người Việt Nam, thầy rất ao ước được nghe tiếng Việt Nam. Thầy nghĩ nếu mình được về quê nhà, được nói và nghe tiếng Việt nhiều, chắc thầy hạnh phúc lắm. Nhưng khi về đây, thầy thấy bình thường, chẳng hạnh phúc hơn chút nào cả. Hạnh phúc phải đổi bằng tấm lòng bao dung, bằng sự chấp nhận những điều trái ý, bằng sự hy sinh, bằng tình yêu rộng mở, bằng sự tha thứ và nhường nhịn. Để có được gia đình hạnh phúc, con phải mở lòng ra để thấu hiểu người con thương yêu, xem những điều gì khó khăn đã xảy đến với anh ta, lắng nghe những điều anh ta nói, rồi từ từ giải thích cho anh ta hiểu. Để có được một gia đình hạnh phúc, con phải bỏ nhiều công sức ra xây dựng, đáp ứng những yếu tố cần và đủ. Con phải có đức tính người vợ hiền đôi khi làm người chị, người mẹ nữa. Chiều chuộng, ngọt ngào khi anh ta mệt mỏi với công việc xã hội bên ngoài.

Những lời dạy bảo ngọt ngào của thầy đã xoa dịu nỗi khổ đau của tôi. Thầy nhìn tôi mỉm cười nói: Có một lần thầy làm mất chùm chìa khóa, thầy đi tìm mãi, tìm hoài. Thầy mệt quá, ngồi thở, rồi chợt thấy nó nằm gọn trong bàn tay mình.

– Thầy ơi, con hiểu rồi. Bài học hôm nay thầy dạy con thật thấm thía. Con sẽ vâng lời thầy, sống vui vẻ với Bang.

Buổi thăm thầy hôm đó thật ngắn nhưng thầy đã dạy tôi bài học xây dựng hạnh phúc. Tôi ra về lòng nhẹ nhõm. Con vô cùng cảm ơn thầy. Đó cũng là buổi cuối cùng tôi gặp thầy. Thầy rời quê hương, không trở về nữa. Đó là cuối năm 1966, tôi mãi mãi xa thầy.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search