Picture of Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Gã thiền gỉa Ngộ Không, tên thật: Phí Ngọc Hùng, sinh năm 1944, Thái Bình, ở Hà Nội từ nhỏ. Năm 54 vào Nam học Nguyễn Trãi- Chu Văn An và Kiến Trúc. Năm 75 tới Houston, Hoa Kỳ. Hiện về hưu và đang vật lộn với chữ nghĩa hàng ngày. Tác phẩm đã xuất bản: Phiếm Sử Lược Truyện (2016); Một Chút Dối Già–Tập Một (2016); Một Chút Dối Già Tập Hai (2017); Chữ Nghĩa Làng Văn (I) (2017); Một Chút Dối Già – Tập Ba (2017); Chữ Nghĩa Làng Văn (II) (2017); Chữ Nghĩa Làng Văn (III) (2018); Một Chút Dối Già – Tập Bốn (2019); Một Chút Dối Già – Tập Năm (2020); Chữ Nghĩa Làng Văn (IV) (2023);

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 294)

Những câu thơ sau cùng của Bút Tre Chưa đi chưa biết Sài gònĐi rồi mới biết chẳng còn một xuVề nhà mới biết là nguMồm tiêu thì ít thằng cu tiêu nhiều. Phương ngữ Hà Tĩnh “Ló ngô” không phải là loại ngũ cốc bản địa từ xưa mà sau này được di thực

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 293)

Ðiệu nghệ hay diệu nghệ? Hiển nhiên, điệu nghệ là do đọc chệch từ diệu nghệ mà ra. Diệu nghệ là từ Hán-Việt, trong đó diệu (cũng là thành tố của các từ tuyệt diệu, huyền diệu, diệu kỳ…) nghĩa là hay, giỏi, khéo  và nghệ nghĩa là nghề. Diệu nghệ là giỏi nghề. Còn

Đọc Thêm »

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: HÀ TẤT THÀNH SẦU…

Bên Rổ Rau Muống – Tranh: THANH CHÂU        Ngày ông cụ tôi rời làng quê…        Tôi không biết khoảng thời gian nào cụ trồng cây bàng ở ngã ba đầu làng. Ắt hẳn cụ trồng chơi trong lúc đánh khăng, đánh đáo đấy thôi. Nghe bà chị kể cây bàng có tàn, có

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 292)

Chữ nghĩa làng văn Bài thơ ngắn nhất có cái đầu đề bài thơ còn dài gấp đôi bài thơ của Trần Dần: Vợ chồng Xong. (Trích theo Nguyễn Quang Lập, tức đầu đề bài thơ là : Vợ chồng. Toàn thể bài thơ là: Xong). Văn bản Nôm xưa nhất Từ năm 1975 đến

Đọc Thêm »

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: TIỀN DUYÊN NGHIỆP KIẾP

       Vô Ưu – Tranh: THANH CHÂU Chùa làng không ra dáng “cổ tự” cho mấy. Vì năm Canh Tuất, chùa bị cháy một phần cửa võng. Bởi phải sửa sao cho hai cái quễnh, xà nách, xà dọc chầu vào cột cũ không thấy vết nối nên thợ làng chắp vá cho qua quít. Ngòai cửa

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 291)

Tiếng Bắc… Cũng là một tiếng phủ định nhưng “chưa” khác với “chửa”. Tuy rằng “chửa” là thổ ngữ ở một vài vùng quê, song nó mang một ý nghĩa khác biệt hơn. Thêm dấu hỏi (?), từ “chưa” hàm “chứa” một sự khác quyết hoàn toàn. “Chửa” là một khẳng định của phủ định.

Đọc Thêm »

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: SINH BẮC TỬ NAM

Cõi Người Ta (10) – Tranh: MAI TÂM        Tôi có ông bạn H.O., đủng đỉnh thế nào chả biết nữa, tôi vồ được em gái ông. Nói dơi nói chuột thì ông anh vợ và tôi gần gũi như…anh em. Một ngày tới nhà, ông đưa phong bì thư viền đỏ, trắng, xanh. Ông

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 290)

Những nhà văn miền Nam Theo sự tìm tòi của Nguyễn Văn Trung gần đây, bộ môn tiểu thuyết xuất hiện ở trong Nam sớm hơn ngoài Bắc chừng ba, bốn chục năm. Vũ Ngọc Phan không hề biết những nhà văn miền Nam, ông nói về Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn…như những người

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 289)

Gà, bò Về gà, bò, vốn từ vựng tiếng Việt rất dồi dào. Không những dồi dào mà còn chi li: gà, bò có nhiều loại khác nhau. Ví dụ: Gà ác (còn gọi là gà ri), gà ấp, gà cỏ, gà cồ, gà chọi, gà chuối, gà dao, gà độ, gà gô (còn gọi là đa

Đọc Thêm »

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: MẠT LỘ

Bìa tập thơ HƯƠNG CỐ NHÂN (Á Châu Ấn Cục 1941) – Nguồn: www.thivien.net        Người thơ mạt lộ chết bên bờ ao chiều 29 Têt, mươi niên sau, con gái ông thổ lộ:        “Chú Thanh vội buông đũa chạy ra, nhìn thấy cha tôi ngồi gục đầu thổ huyết bên bờ ao chỗ

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 288)

Tên gọi: khách trú Tên gọi “khách trú”  từ Trịnh Hoài Đức (1765-1825) mà ra. Ông là người Việt gốc Hoa làm quan nhà Nguyễn, đi sứ nhà Thanh hai lần trong Gia Định thành thông chí, ông viết: Sĩ tắc Bắc trào thần, cang thường trịnh trọng Ninh vi Nam khách trú, trước bạch

Đọc Thêm »

Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 287)

Tiếng Việt tiếng Tầu Vì mê tin, người Việt đặt tên con xấu để khỏi bị ông giời “bắt” đi như: thằng Cu, cái Hĩm, thằng Chuột, thằng Tèo. Người Tầu cũng vậy, họ gọi tên với: thằng Heo (Tưa Kía), thằng Cứt Heo (Tưa Sáng), thằng Cẩu. Nhưng họ không bao giờ đặt tên

Đọc Thêm »