Bên Rổ Rau Muống – Tranh: THANH CHÂU
Ngày ông cụ tôi rời làng quê…
Tôi không biết khoảng thời gian nào cụ trồng cây bàng ở ngã ba đầu làng. Ắt hẳn cụ trồng chơi trong lúc đánh khăng, đánh đáo đấy thôi. Nghe bà chị kể cây bàng có tàn, có tán, dưới gốc cây có quán nước. Ấy vậy mà ông cụ tôi bỏ làng bỏ nước mà đi, chưa một lần trở về với ao sâu ruộng vườn, cùng giỏ cua, nơm ná, gầu sòng. Để rồi một ngày tôi về thăm quê nhà, và vu vơ nhìn ngắm cây bàng của ông cụ tôi năm xưa…
Trôi dạt từ vùng suôi lên mạn ngược, cụ hay nhắc đến những nơi chốn đèo heo hút gió như Lào Kai, Sa Pa, rồi cụ dinh tê và làm thông ngôn cho…Tây. Cụ theo mấy ông Tây “cà lồ” đi đây đi đó không phải để bắt Việt Minh mà…bắt thuốc phiện lậu, hay vào rừng đi săn. Những ngày còn bé, tôi được nghe cụ vui chuyện về con “petit…đen, petit…vàng”. Và cụ “phụ đề Việt ngữ” đó là…con hổ. Lớn lên tôi mới hay cụ không dám về làng vì sợ…Việt Minh.
Một ngày cụ ngừng chân ở núi Đèo, Đông Triều…
Ở đây cụ gặp…bà cụ thân sinh ra tôi. Cái buổi ấy, cụ trồng ở vườn nhà bà cụ tôi cây xoài từ trong Nam cụ thửa ở đâu chẳng biết nữa. Lớn lên cây xoài thành…cây muỗm, trái bé choắt như cái cật heo và chua lè. Tôi nhớ mãi cây muỗm cao hơn chục mét ở cái tuổi lên bảy. Tôi không ham lắm với chùm cuống dài ngoằng có cả chục trái muỗm xanh lủng lẳng. Tôi chỉ muốn trèo lên cây cao chót vót vì ở đấy có tổ chim chào mào.
Sau 75, qua đây ông bà cụ tôi chia tay vì chuyện xưa như trái đất: “chán cơm nguội thì ăn phở”. Vào cái lúc chân ướt chân ráo, mặc dù cụ sáu mươi có lẻ, bằng tuổi tôi về thăm làng như ở trên. Nhưng vì cái nợ áo cơm…bắt phong trần phải phong trần, cụ bắt được cái “job” thơm như múi mít là chân phụ bếp trong một nhà hàng Tàu. Vừa đảo cái chảo cơm chiên khói bay mịt mùng, cụ nghe hơi nồi chõ người xưa vừa mới…”chèo thuyền” đến một tiểu bang xa cách nghìn trùng. Tình cũ không gọi mà đến, thế là cụ cuống cuồng chùi tay vào cái tạp dề phóng ra khỏi tiệm. Trong buổi tan tầm đông nghìn nghịt…Cụ lại vui chuyện bôn ba suôi ngược nơi xứ người với cái xe Mustang thổ tả đời 1967, bản đồ nhằng nhịt vì vậy cụ lơ mơ lỗ mỗ. Cụ cứ nhắm theo dòng xe như mắc cửi mà khai phá mảnh đất mới. Bởi số cụ có sao thiên di nên cụ đi theo mệnh trời. Vì theo cụ kể lại thì: Cụ lái cái Mustang đeo theo cái xe truck 18 bánh. Bởi cụ triết lý củ khoai: Xe truck lớn thế nào cũng tới thành phố lớn nên chả sợ lạc…Cụ luân lạc về hướng đông, hai ngày một đêm, cụ gặp lại người cũ.
Khúc sau cụ không…trồng cây nữa.
Khúc kế tiếp để rồi đến một ngày tóc bạc da mồi, ông cụ tôi cáo lão về hưu. Ông bà về thành phố tôi đang ngụ cư để tối lửa tắt đèn có nhau. Để tôi ghi nhận những chia ngọt sẻ bùi của bà với ông cụ tôi. Vi một ngày nào đó, bà và ông cụ tôi đều phải đối đầu với nỗi buồn chạm mặt để bước qua ngưỡng cửa sinh, lão, bệnh, tử.
Ngày ấy cũng đã đến: Bà bị…bệnh ung thư.
Với cái bệnh quái ác trên cần phải chữa trị lâu dài và bà ra vào bệnh viện như đi chợ. Trong buổi chợ chiều vắng khách, bà chẳng còn thì giờ để gần gũi chăm sóc ông cụ tôi nữa. Tôi điện thoại cho thằng em cùng cha khác mẹ. Chẳng là mấy tuần nay, thỉnh thoảng nghe tiếng điện thoại nửa đêm, choàng tỉnh dậy, thấp thỏm chẳng hiểu ông hay bà có mệnh hệ nào chăng. Nghe đầu giây bên kia nói xin lỗi lộn số thì lại…mừng húm. Nhưng lại lao xao…không ngủ được. Thế là tôi cò cưa với thằng em một lần ông cụ ngã từ trên giường xuống…Khổ nỗi ông cụ to con, khi ngã bị nằm kẹt cứng giữa thành giường cái tường với khoảng cách nhỏ hẹp. Cụ đang như ngọn đèn leo lét nên không xoay sở được. Bà vực ông dậy không nổi vì yếu sức. Bà điện thoại cho tôi. Tới nơi, đưa cụ lên giường rồi, nhưng cụ nằm ngay đơ, bất động, mắt trừng trừng nhìn lên trần nhà. Tôi vội gọi xe cấp cứu. Họ đến làm những việc cần phải làm. Thấy tôi láo nháo vậy, thằng em lái xe tới nhà. Hai anh em đứng ở cái cửa tò vò hút thuốc lá vặt và tôi chỉ nó cái cây ngay trước cửa.
Tôi ba điều bốn chuyện với nó về…hà tất thành sầu.
Cây đây là cây phong lá xanh rộng bản từ miên bắc lạnh lẽo, thân to và cành cứng cáp. Chẳng hiểu người chủ trước trồng nó tự bao giờ, nó vẫn lừng lững đứng ở đấy dãi dầu với nắng mưa. Vậy mà năm nay, mỗi ngày tháng mỗi tàn lụi dần. Bỗng dưng không đâu tôi có linh cảm cây phong có chung một dòng sinh mệnh với ông cụ tôi. Tôi nói với thằng em, mới năm trước, cả thân cây rợp tàn rợp tán. Vậy mà qua một cơn bão biển, nó chỉ còn dăm cành, mỗi cành mươi chiếc lá phất phơ trước gió. Bấy lâu nay, cây chăm bón mãi mới lên được vài tàn lá khổ sở. Bèn đi xem bói, ông thầy dậy rằng trong họ sắp có tang nhưng không…quan trọng lắm. Nghe lạ, gì mà không quan trọng? Chợt nghĩ năm nay là năm Kỷ Sửu, ông cụ tôi 95, chỉ dăm năm nữa được bách tuế giai lão, lại vất vưởng đến câu chúc “trăm năm đầu bạc”. Với tôi chẳng có ý nghĩa gì trong lúc này. Ngẫm cho cùng người già như cây hết nhựa vậy.
Cuối cùng hai anh em cũng đành sầu qua ngọn cỏ với cỏ xót xa đưa cỏ xót xa người với mưa ngâu cách trở qua cầu ô thước: Tôi đưa ông cụ về nhà tôi. Nó đưa bà về nhà nó. Nhìn cành cây lá hẻo mọn…Tôi tin những chuyện huyễn hoặc của các cụ ta xưa qua những huyền hoặc cú cây đa, ma cây đề của miếu đền. Vì cách biệt tuổi tác, tôi không kể cho thằng em nghe bài viết của ai đấy về cây chuối, cứ nửa đêm về sáng, buồng chuối kêu “bụp…bụp…”. Các cụ dậy ấy là cây chuối đau đẻ. Vì vậy ở nhà quê, ai đó sinh khó, hai mẹ con đều chết. Các cụ trồng cây chuối ngay đầu mộ để mẹ tròn con vuông.
Riêng tôi…tôi tin chuyên “không tưởng” ở thế giới khác. Thế là tôi chặt béng cây chuối ở góc vườn. Ừ thì tạm cho là tâm linh thì cây có một dòng sinh mệnh với người mà tôi đã trải qua.
Nhưng ấy là chuyện sau. (xem tr 5)
.
Chuyện bây giờ là…
Là ông cụ tôi bị bệnh đi tiểu giắt, mỗi tối tôi đưa cụ vào phòng vệ sinh ba bốn lần. Mỗi lần vực cụ dậy, tôi luồn tay xuống gáy cụ, đỡ cụ hẳn lên, vất vả lắm mới chuyển cụ tới cái “walker”. Hai tay cụ như khúc cây lỏng le dính vào bả vai, làm như máu lưu thông sao ấy nên mầu da trắng nhợt nhạt tái mét. Hai chân cụ khẳng khiu, tóp lại như hai cây sậy. Tôi lại ngậm ngùi với đôi chân này đây, hồi còn trẻ cụ đã mòn gót từ làng Thượng Tầm suôi tới làng Trạo Hà gặp bà cụ tôi, để tôi có mặt trong cõi nhân gian này. Chưa hết, vóc dáng cụ cao, to người, nay gầy thì có gầy đấy, nhưng vẫn còn nặng hơn tôi nên không dễ dàng gì bế cụ ngồi dậy. Lại nữa, mỗi lần tắm rửa cho cụ. Da thịt cụ mềm nhão, tôi vẩn vơ đến luật đào thải, đến tuổi lão hóa, thì…
Thì tôi ăn mày chữ nghĩa qua câu “gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm”. Khi còn trẻ, vì mưu sinh nên các cụ không gần gũi nhau. Khi bước vào tuổi bóng xế chiều hôm, các cụ mới có thời gian săn sóc cho nhau. Những tia nắng yếu ớt “nắng quái chiều hôm” chỉ tồn tại trong chốc lát mà thôi qua những ngày còn lại sống qua ngày chờ qua đời. Vì vậy cả chục năm trước, một phần ông cụ tôi không chịu về ở với con cái vì ngại phiền hà các con. Nhất là khi các cụ ăn không vào, nuốt không vô. Thêm tiểu tiện chẳng được, đại tiện cũng không xong. Với cái nợ đời đeo đẳng dai dẳng ấy, ít nhất hơn một lần ông cụ tôi lụm cụm với tiện nội tôi: “Cậu muốn chết cho rồi để khỏi làm khổ các con”.
Để lấy ngắn nuôi dài, chuyện dưới đây nằm ở khúc sau tôi đưa lên đây…
Một lần trong ngươi cụ thiếu đường thì phải, nên bị sỉu phải đưa vào bệnh viện cứu cấp. Trước khi về, ông bác sĩ trong bệnh viện ra nói chuyện với tôi, với khuôn mặt nghiêm trọng. Ông cụ tôi chẳng còn sống bao lâu nữa nếu như ông cụ tôi tim ngừng đập thi…Thì tôi có để bệnh việnh dùng máy “Defibrillator” để hồi sinh ông cụ không? Tôi hỏi ngược lai ông nếu trường hợp xảy ra cho ông cụ ông ta thì sao? Ông giảng giải: Một là cái máy giật thình thịch, xương sườn người già lão sẽ không chịu nổi. Hai là nếu có qua khỏi cũng chỉ sống được hai, ba tháng hoặc hai, ba ngày. Vì vậy câu trả lơi của ông ta là: “Không”. Nghe xong tôi….gật đầu. Chuyện này cho đến nay tôi dấu anh em họ hàng, không ai hay biết.
Chẳng phải bất hiếu gì, nói thẳng mực tầu đau lòng lòng gỗ, vì từ lâu cái đầu củ chuối tôi mọc ra cái ý tưởng: Một ngày nào đó cụ nằm xuống, tôi sẽ thở ra cái phào. Tôi không thở ra cho…tôi mà cho…cụ: Thoát được cái tuổi già với những nặng nợ ốm đau, vật vã của thân xác. Tiếp đến tôi quắn đầu vì ông bác sĩ nói hãy đưa cụ vào viện dưỡng lão. Về nhà, tôi bàn với tiện nội. Nằm dài trên ghế ‘sa-lông” hóng chuyện, con gái tôi khi ấy 11 tuổi, ngóc đầu lên hóng hớt: “Nếu bố già, con đưa bố vào “nursing home”, bố có chịu không?”.
Năm sau bà cụ mất.
Tôi dặn dò họ hàng đừng cho cụ hay biết, vì sợ cụ này rủ cụ kia đi theo. Hồi nhớ lại đám tang nhà tôi với chuyện xe tang chạy qua nhà, để nhà tôi nhìn lại căn nhà lần cuối. Thêm chuyện thằng bạn chữ Lê Thiệp về với cõi, tôi tới chùa Linh Sơn dự lễ 49 ngày của nó. Gặp thầy Thích Trí Huệ là đông môn của nó và tôi. Ông thầy nói tôi hãy viết về tập tục đám tang của các cụ ta xưa. Thế là tôi nặn óc ra bài Ngồi ở nhà quàn có đọan…
(…) Vừa lúc nhà đám đi ra, vì ngõ trúc ao sâu nên không len chân vào được, tôi chỉ thấy người dẫn đầu tay cắp cái rổ, tay rải tiền âm phủ và những thỏi vàng trắng. Cụ cho hay ấy là tục rải vàng bạc trên đường đi để đánh dấu cho người chết biết lối mà trở về nhà. (…)
Trở lại với ông cụ tôi…
Nhiều đêm tôi tỉnh dậy giữa khuya và mường tượng phải chạm mặt với một sự thực chẳng thể chối bỏ là tỉnh dậy thì…Thì cụ đã đi rồi. Rồi sẽ phải làm gì đây? Để rồi cái sợ cứ chập chờn trong giấc ngủ. Sáng hôm sau thức dậy, tôi ngắm nhìn ông cụ có…còn không. Đôi khi thấy ông cụ nằm im như đã…đi rồi. Thế là tôi vỗ vỗ cụ thăm chừng. Hay lấy tay huơ huơ qua mũi ông cụ xem cụ còn thở không.
Cũng những nghĩ quẩn trên, sáng nay nhìn đồng hồ thấy cái kim chỉ vào cái giờ giấc như thường lệ. Tôi ra bếp đun ấm nước pha cà phê cho tỉnh táo để viết bài vở. Trong khi chờ đợi nước sôi, tôi trở lại phòng. Ngồi bên cạnh giường và ngắm cụ qua ánh sáng lờ mờ của cái đèn ngủ. Tôi bắt gặp cụ đang nhắm mắt, nửa tỉnh nửa thức. Ánh sáng yếu ớt hắt qua cái chụp đèn nhưng soi rõ những nếp nhăn trên trán, trên mặt cụ như những nếp gấp của thời gian. Những sợi tóc bạc lơ thơ, lạc lõng trước trán quấn rôi vào nhau. Ngắm cụ gần hơn một chút nữa, tôi nhìn rõ từng vết nhăn trên mặt, trên cổ. Những lằn sếp ngang dọc. Những chấm đồi mồi lớn nhỏ trên hai gò má. Tôi có thể nhìn thấy những thớ thịt mềm và nhão rung rung ở cổ cụ với hơi thở nặng nề đứt quãng. Bỗng nghe cụ thì thầm:
– Hòai ơi…Mở cửa…
Cụ thò tay ra khỏi chăn, cầm tay tôi. Tôi nắm tay cụ. Bàn tay gầy guộc và chun choắt lại của cụ nằm trong tay tôi.
Cụ thì thào đứt quãng:
– Cậu muốn…về…với…cô …cô.
Mặc dù chờ đợi chuyện này sẽ sẩy ra từ lâu nhưng tôi vẫn cảm thấy hụt hẫng. Đợi một ngày cụ khỏe hơn, tôi đưa cụ về nhà hai ông bà vẫn còn để trống. Trên xe, vì đã tính những gì phải thưa với cụ từ trước để…nói dối cụ. Tai cụ lãng, ghé sát tai cụ, rất chậm rãi tôi giải bày với cụ tế bào ung thư của bà đã lan lên não bộ. Bà nay gần như mất trí, vì mới đây, bà lái xe đi chợ, ra khỏi hàng quán bà không biết tìm xe mình ở đâu. Và tôi đành nói ra một sự thực: Chẳng còn bao lâu nữa, bà đang từng bước, từng bước một xa rời cuộc sống tạm bợ này…
Tôi bắt gặp đôi mắt buồn bã của cụ nhướng lên. Nhìn mắt cụ, tôi không biết cụ nghĩ gì. Rồi đôi mắt mệt mỏi của cụ mở ra như mất thần, thẫn thờ nhìn ra ngoài phố sá trong xa vắng.
Đến trước cửa nhà bà, tôi đẩy cụ vào bằng cái xe lăn.
Từ cái xe lăn, tôi để cụ tự bấm chuông…
Chuông kêu ba hồi hai nhịp theo ngón tay cụ, tôi biết cụ không nghe được vi tai lãng. Nhưng tôi nghe được tiếng cụ nói vào cánh cửa đang im lìm, khô cứng:
– Hòai ơi…Mở cửa…
Tôi đốt điếu thuốc đợi. Không phải tôi đợi mà để…cụ đợi. Thêm hai ba hồi chuông trong hoang vắng. Thêm câu nói của cụ cùng …hòai vọng:
– Hòai ơi…
Dụi điếu thuốc đang cháy dở, tôi ghé tai cụ, để nói dối là có thể bà đang chạy thuốc trong nhà thương. Ra xe, tôi bâng quơ còn chạy thuốc còn hy vọng, nhìn trước mặt là con ngõ cũ mà cụ đã đi đi lại lại cả bao nhiêu năm, cụ gật gật đầu…Trong khi đầu tôi quay quả một ngày nào đấy ông cụ tôi nằm xuống thi…Thì tôi có nên để xe tang chạy tới đường Cook, qua con ngõ không tên, để cụ nhìn lại căn nhà của hai ông bà khuất nẻ đằng cuối con dốc…
Và tôi lay lắt tới mảng chữ trong bài lai cảo Ngồi ở nhà quàn…
“…Ra khỏi ngõ, đô tuỳ nhà đám hạ quan tái vừa chạm đất là nhấc lên ngay, tất cả ba lần. Mỗi lần vậy, họ hàng tang gia mặc áo tang luơm nhươm, không may vá mà chỉ có mấy cái dải nứa buộc lại, đầu tóc để rối không chải. Họ quỳ đập đầu xuống đất vái ba lạy. Cụ giảng giải quan tài nhấc lên hạ xuống là người chết chào từ biệt gia đình về với ông bà tổ tiên. Ra đến cổng làng, linh cửu phải quay đầu lại để người chết được nhìn cái cổng làng lần cuối…”
Lái xe về nhà, tôi không ngoái đầu nhìn căn town house của hai ông bà nằm trong con ngõ nhỏ giữa thánh phố Houston. Trong tôi lại lau lách cách đây 21 năm, xe tang nhà tôi chạy trên đường Boon, qua đường Stroud để nhà tôi nhìn lại căn nhà nhỏ có một mảnh vườn.
Ở đấy có cây mận lá màu nâu đỏ không còn nữa. (xem tr 5)
***
Bước qua năm thứ hai, vào tháng ba…
Một buổi sáng như mọi buổi sáng, thức dậy để viết bài. Bước từng bước thật chậm dọc theo hành lang. Ra tới phòng ngoài, ngước nhìn lên trần nhà mầu trắng nhạt thếch. Chợt nhớ lại chuyện một thằng bạn, ngày bà cụ nó mất, nó không thấy thấm. Phải đợi đến khi ông cụ nó đi, nó mới có cảm nhận: Căn nhà nó đã mất nóc.
Nhà tôi cũng sắp mất nóc, tôi chẳng còn chỗ nào để dọ dẫm qua một hình bóng. Tôi chợt cảm hoài mấy năm trước về quê nhà, con đường làng phủ đầy quá khứ của ông cụ tôi, rải rác những chiếc lá bàng, mỗi cái lá như một viên gạch, như những gịot thời gian. Đứng trước cây bàng mà tôi hình tượng là bóng hình của ông cụ tôi. Cây bàng hiu hắt giữa đất trời, và cái quán nước bên đường không còn nữa. Tôi thầm nhủ tất cả đã thuộc về quá vãng. Tôi đi tìm thời gian đã mất bằng vào với hà tất thành sầu…đối cỏ cây, một ngày nào đó tôi mò mẫm ra hột bàng, thể nào cũng ươm ở vườn nhà.
Trở lại phòng ngủ, tôi giật thót người vì cụ đang lậu bậu nói chuyện với ai đấy.
Ngôi bên cạnh giường, tôi vừa nắm tay cụ vừa lắng nghe. Và tôi choáng người vì ông cụ đang độc thoại với ai đó chuyện làng nước ở quê nhà cả mấy chục năm trước. Ông cụ hết hỏi thăm người này, nhắc người kia chuyện làng trên xóm dưới. Điều tôi ngạc nhiên là giọng cụ tỉnh táo, giống như cụ đang ở quê nhà với chuyện dây cà ra dây muống. Nhưng…
Nhưng tôi lạnh người vì những tên tuổi mà ông cụ tôi đang nói chuyện, đều là những người đã khuất núi từ năm nảo năm nào. Hay nói khác đi ông cụ tôi đang nói chuyện với những người đã…chết. Và tôi có linh tính, ngày cụ về với những người đã khuất không còn bao xa nữa…Khi không hình ảnh chập chờn: “…tới cổng vườn nhà ai đấy, trên cành cây ngoài vuờn buộc miếng vải hay tờ giấy bản trắng để cây cối cũng nhớ thương tiễn nguời đi…” như ẩn hiện đâu đây qua bài viết mới đây của tôi (bài Hà tất thành sầu đối cỏ cây này, tôi viết lại năm 2020).
Chưa hết, tôi dàng dênh tới thằng cháu rể ở Paris…
Cứ như vợ thằng cháu kể nhưng tôi không tin mấy. Lần sau tôi hỏi thằng cháu qua điện thọai, bởi thằng cháu “ít chữ nghĩa”, chất phác nên tôi tin. Vừa nghe tôi vừa ghi ra giấy để mai này viết thành truyện. Chuyện của nó dài lắm, ngắn gọn có tối nó nằm mơ nói chuyện với một người đã khuất trong họ nó. Ít lâu sau nó bị đột quỵ đưa vào nhà thương thì nó…chết.
Nó gặp lại người đã khuất trên. Ông ta đưa nó về làng xa xưa ở ngòai Bắc với lễ mở cửa mả. Nó thầy con gà sống thiến còn…sống. Con gà được thầy cúng buộc giây vào chân, dắt quanh mả rải gạo cho gà mổ, tay vung vẩy bó nhang, tay bắt quyết. Sau đó nhà đám đi về, bỏ mặc gà mặc sức muốn đi đâu thì đi. Sau đấy người đã khuất đưa nó về nhà xác bệnh viện, chỉ cái “tag” buộc ở chân nó…lộn tên với ông người Việt nằm bên. Nên nó…sống nhăn. Chuyện nó có nhiều chi tiết lạ lẫm tôi không kể ra đây. Ngòai ra những chuyện xa lắc xa lơ làm sao nó biết. Đến già khú đế như tôi, viết về đám tang phải tra cứu sách vở nát người huống chi nó, thằng cháu… “ít chữ nghĩa”. Nhưng ly kỳ nhất nó hỏi người đã khuất khi nào nó…chết thật. Ông cho nó hay ngày, tháng, năm. Đến tao đọan này, cầm cái điện thọai vào cầu tiêu, nó thì thào với tôi đừng cho vợ nó biết. Sau này vợ chồng nó qua thăm tôi là ngày nó sắp…đi.
Tôi dài dòng chuyện người chết đi sống lại trên, vi cho đến nay chưa ai giải thích được. Ấy là chưa kể nói chuyện với những người thế giới bên kia, như có điềm báo trước không mấy vui. Bỗng ấm nước ngoài bếp reo lên “tu…tu…“. Tôi giật mình trở lại với một ngày như mọi bữa…bước ra ngoài bếp pha cà phê. Vừa đứng loay hoay với những thói quen mỗi sáng…Bỗng không tôi điếng người vì tháng này là tháng ba, tháng mà bà cụ tôi và nhà tôi mất. Tôi tự trách mình lơ đễnh, nhờ ông cụ nằm mớ nói chuyện với những người đã quá vãng…Tôi mới chợt nhớ ra: Ngày mai là giỗ bà cụ tôi. Vì vậy lát nữa đợi tiện nội dậy, tôi sẽ nói ra trại gà Liễu gia trang mua con gà có đầu để cúng cụ và nhà tôi. Cũng để tôi cầu xin cụ phù hộ cụ ông. Ấy đấy, với con gà có đầu, các cụ ta bao giờ cũng trọn vẹn, đầy đặn thế đấy
Gõ chữ một chặp, trời đất lấp lửng sáng, tôi lọ mọ ra cửa sổ, nhìn thấy cây phong già nua vật vờ trước sân cỏ. Tôi lại liên tưởng đến truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng. Chuyện về một cô bé bị bệnh nan y chẳng thể qua khỏi. Cô tuyệt vọng nằm trong phòng bệnh viện nhìn qua cửa sổ. Cô bé đếm từng chiếc lá còn sót lại và thủ thỉ với người y tá: Cô đợi chiếc lá cuối cùng rời cành cũng là ngày cô bé sẽ từ giã cõi đời. Thế nhưng chiếc lá cuối cùng cứ gắn chặt với cành cây theo sáng, trưa, chiều, tối. Và như có phép mầu, cô bé qua khỏi căn bệnh ngặt nghèo…Vì để nuôi niềm hy vọng cho cô: Người y tá đã dùng keo gắn chiếc là dính vào cành cây.
Với cây cối, có chuyện này chưa một lần tôi kể ai nghe vì tôi tin ở số: Cách đây hơn hai chục năm, vườn nhà trồng một cây mà tôi không biết tên. Cây không lớn, không hoa quả. Tôi mua cây này vì thân cây màu nâu tím, lá màu đỏ nâu sậm như trái mận nên tôi gọi là cây mận. Bỗng một ngày cây mận trồi lên một cây con màu xanh. Nhà tôi sinh cháu bé. Cây mẹ thân vẫn màu nâu tím, cây con vẫn xanh tươi. Một ngày cây mẹ chết. Ít lâu sau nhà tôi đi vào cõi tĩnh mịch. Bởi lẽ đó, tôi tin mỗi cây nào đó có mỗi dòng sinh mệnh với ai đấy.
Bởi hà tất thành sầu đối cỏ cây, nên tôi hay nhìn cây phong trước cửa nhà là vậy.
Tôi ngắm cây phong trước cửa nhà và nhìn kỹ hơn. Nhập nhòa nửa tối, nửa sáng qua đất trời một màu xám chì ảm đạm. Nhưng vẫn có một chút nắng nhợt nhạt bám vào thân cây sù sì như những cây tầm gửi èo uột. Sắp tới năm Canh Dần, năm tuổi của ông cụ tôi. Sáng nay, tôi đứng trước cửa nhà, lặng lờ theo khói thuốc nhìn từng chiếc lá còn lại…Mỗi năm lá chuyển mùa từ xanh qua tím, rôi tím đỏ, đổi qua vàng úa rôi đến nâu khô và chỉ một cơn gió thoảng là lá rơi rụng dần. Tôi đứng ngây ra lặng ngắm và đếm từng cái là vàng nâu úa khô.
Nhưng chẳng còn cái lá nào nữa.
Vi đất trời đang cuối đông…
Trúc gia trang
(tháng 3-2010)
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
(sửa lại 2020, 2024)
*Ông cụ tôi mất ngày 25 tháng 7 năm 2010.
