Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 295)

Từ điển văn học bộ mới

Phát hành đầu năm 2005, là tái bản của Từ Điển cùng tên, ra đời trước đây 20 năm và có nhiều thay đổi cái nhìn mới, và cái mới nghiêm túc. Như những tác gỉa trước kia bị loại trừ, nay xuất hiện. Các tác gỉa dính líu đến vụ án Nhân Văn Giai Phẩm hầu hết đều có mặt, nhưng không có Thụy An, Phùng Cung.

Về những tác giả được khôi phục phải kể Phan Khôi được giới thiệu đầy đủ, súc tích, ngay cả giai đoạn Nhân Văn Giai phẩm : ” chủ nhiệm báo Nhân Văn, rồi các bài viết (…), vẫn với ngòi bút sắc sảo, rắn rỏi sẵn có nhưng ông đi ngược dòng đường lối văn nghệ của Đảng Lao Động Việt Nam lúc ấy, nên đã bị báo chí đương thời phê phán cùng với sự phê phán nhóm Nhân Văn Giai Phẩm nói chung “.

Người chấp bút danh mục này là Văn Tâm (1933-2004) cùng đã bị liên lụy trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm và bị treo bút trong nhiều năm.

(Đặng Tiến – Chimviet.free.fr)

Cửa thiền

Cửa thiền: nhà chùa.

Thiền là yên lặng. Nhà Phật lấy thanh tịnh làm gốc nên mọi sự về Phật đều gọi là thiền.

Chúng  ta mất hết cả rồi sao?

Một trong 12 bài di cảo của Vũ Hoàng Chương đã được bà Đinh Thị Thục Oanh (vợ VHC) đính chính vào ngày 17 tháng 7 năm 1999. Chữ in nghiêng là đúng nguyên tác của  tác giả.

Sáng chưa sáng hẳn tối chưa đành

Gà lợn om sòm cảbức tranh

Rằng vách có tai thơ có họa

Biết lòng ai đỏ mắt ai xanh

.

Dấu hỏi xoay quanh trọn kiếp người

Sên bò nát óc máu thắm rơi

Chiều nay một dấu than buông dứt

Đanh đóng vào xăng tiếng trả lời

.

Chúng ta mất hết cả rồi sao?

Cả đến âm thanh một thuở nào!

Da trống tơ đàn ôi trúc phách

Đều khổ như khúc hát gầy hao

.

Đàn mang tiếng đáy mà không đáy

Mất hết rồi sao sợi nhớ thương

Tay phách từ lâu nay  lạc phách

Không còn đựng mãi bến Tầm Dương.

(Thế Phong – Chiêu niệm bốn nhà văn Sài Gòn)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Cho chừa mèo mả gà đồng
Tau đá một phát lòi tròng nghe con

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Bước chân ra đi, nó khóc mãi…khóc mãi…

Ý tại ngôn ngoại

Còn có ý ở ngoài lời nói, khiến cho người tự hiểu lấy.

Lời nói bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa.

Tục chen

Tục lệ nầy được tổ chức tại làng Nga Hoàng, huyện Võ Giàng tình Bắc Ninh. Hàng năm tục nầy được tổ chức tế hai vị Thành hoàng rất long trọng; sau đó thì tiến hành lễ rước hai vị thần từ miếu thờ đi chung quanh làng và sau cùng đưa về đình làng để hội tế. Sau khi tế lễ và ăn uống xong thì hội “chen” bắt đầu. Vị tiên chỉ trong làng là người điều hành hội chen. Những người tham dự theo từng cặp, đa số là nam nữ thanh tân; nhưng những ông già, bà cả cũng có thể tham dự buổi lễ chen nầy. Trong khi chen thì bên nam bắt đầu tấn công trước, từng đôi một chen nhau ôm lấy nhau và sờ soạng nhau, bất chấp cả lễ nghi, tôn giáo. Họ có thể làm bất cứ hành động gì mà không sợ phải bị vạ.

Đến ngày thứ nhì thì bên nữ tấn công trước và những hành động của họ cũng không hề e dè. Họ đưa nhau ra tận ngoài những cánh đồng hoang để chen nhau cho đến khi mệt nhừ thì cùng nhau trò chuyện, tâm tình.

Vì quan niệm hội chen là hành động tôn giáo cho nên ai nấy đều tham dự. Trong buổi lễ cuối cùng thì hội chen tổ chức ngay tại sân đình làng. Sau khi hoàn tất buổi lễ, thì đèn được đều được tắt hết và cuộc chen nhau bắt đầu với những thái độ sỗ sàng, táo bạo do từ hai bên, trước sự chứng kiến của cha mẹ họ khuyến khích thêm. Vì cho rằng những năm không tổ chức hội chen, dân làng nghèo đói, khốn khổ cho nên ngày trước hội chen tổ chức rất chu đáo và những đôi nam nữ tham dự được chuẩn bị từ trước; sau đó họ thường đi đến hôn nhân.

(Hội tết làng Xưa – Khuyết danh)

Đượn

Đượn: dài thẳng tuột

(lưng đượn đượn)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Giai thoại làng văn

Số phận của bản thân Thanh Tịnh buồn thật buồn nên ông hay nói chuyện vui, nói đùa. Có lẽ chính vì đời buồn quá nên ông phải cố cười cho quên đi. Ngồi với ông hôm ấy ở 4 Lý Nam Đế, ông kể tôi nghe nhiều chuyện vui. Tôi còn nhớ hai chuyện như sau:

Trong tập Những người thích đùa có một truyện không được dịch: “Có một anh muốn tự tử, dùng nhiều cách mà không chết được, vì mua phải toàn đồ rởm: dao rởm, thuốc độc rởm, giây thừng thắt cổ rởm. Có người mách cho một cách chết ngay, chết chắc chắn:

– Đọc báo Nhân dân liền ba ngày.”

Chuyện khác:

Ở khu phố ông người ta bắt được thằng chuyên ăn cắp xe đạp.

Họ bắt nó biểu diễn mở các thứ khoá. Các loại khoá ngoại tốt nhất nó đều mở được hết.

Họ hỏi nó:

“Khoá nào mày thấy khó mở nhất, không mở được?

Nó nói:

“Khoá Việt Nam. Vì xe khoá rồi vẫn đứng nhìn. Mà chính chủ nó cũng không mở được. Phải dỗ mạnh xe mấy cái mới mở được”.

(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)

Ngọng ngẹo trong ngôn ngữ

Chúng ta gặp nhiều nhà thơ với chứng thác loạn ngôn ngữ, như thất điều ngữ pháp (dysgrammatisme) hay loạn phối hợp từ (dysphasie) như Bùi Giáng trong bài Hán hương u hương :

Âm u ô úc ôn tù niệm

Yếm ố ư uyên uyển tội từ

Thất điều ngữ pháp là dùng chữ vô nghĩa, những cặp chữ nói lái, bố trí từ hỗn loạn, không liên quan đến ngữ nghĩa, bất tuân cú pháp, bất chấp ngữ phạm.

(Trần Văn Tích – báo Sài Gòn Nhỏ)

Chữ Nho

Chữ “Nho” do chữ “nhân” (người) ghép với chữ “nhu” (cần dùng) có nghĩa là loại người cần dùng cho xã hội.

Chữ nhu còn có nghĩa là chờ đợi (người giỏi chờ lúc ra giúp đời)

(Trần Bích San – Văn Khảo)

Buôn tảo bán tần

Tảo, tần là tên hai loại rau mọc ở dưới nước, ven bờ khe suối. Trong bài thơ “Thái tần” có câu:
Vu dĩ Thái Tần,
Nam gián chi tân
Vu bỉ Thái Tảo
Vu bỉ hàng lạo

Nghĩa là: Đi hái rau Tần, bên bờ khe phía nam, đi hái rau Tảo, bên lạch nước kia. Theo cách chú giải thì câu thơ trên ca ngợi người vợ hiền dâu thảo, chăm hái rau Tần, rau Tảo về làm cỗ cúng tổ tiên. Trong văn hóa Trung Quốc, Tảo, Tần tượng trưng cho đức tính siêng năng, chịu khó, hay làm của người phụ nữ. Thành ngữ “buôn tảo bán tần” đã có trong Kinh Thi.

Ở Việt Nam, ý biểu trưng của tảo, tần cũng được xử dụng nhiều trong văn học cổ. Chẳng hạn:
Sớm khuya chăm việc tảo tần
Thờ cha kính mẹ đôi lần chẳng sai
(Phạm Tải – Ngọc Hoa)

Sau này, “Buôn tảo bán tần” được hiểu với nghĩa rộng hơn chỉ đức tính đảm đang việc nhà của người phụ nữ:
Cô Hai buôn tảo bán tần
Cô Ba đòi nợ chỗ gần chỗ xa
(Ca dao)

Chữ và nghĩa

“Cường điệu”, từ dùng sau 1975, cả ở trong nước lẫn ngoài nước. Để dịch từ “hyperbole” trong tiếng Anh.

Nó đồng nghĩa với “phóng đại”, “thậm xưng”. Biện pháp tu từ “phóng đại”, vì thế, còn được gọi là “cường điệu”, và “ngoa dụ”. Ngoài ra, nó còn được gọi là “nói quá” (“overstatement“), ngược lại với biện pháp “nói giảm” (understatement) ở trên.

(Bùi Vĩnh Phú – Trên những đường bay của chữ)

Đụt

Đụt : trú ngụ

(đụt mựa đụt nắng, đụt vào: núp vào

hui đụt vào ma nương nhờ)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Ngôn sử

Khi vừa tốt nghiệp cử nhân văn khoa thì miền Nam thay đổi chế độ, hắn mở một quán cà phê nhỏ để sống qua ngày. Thì giờ rảnh rỗi hắn nghiên cứu về một môn học mà hắn gọi là môn “ngôn sử”.

Hắn nói ngôn sử tiếng Pháp philologie, tôi chẳng hiểu gì cả. Hắn giải thích đó là môn học nghiên cứu lịch sử, cấu trúc và cách tạo thành của ngôn ngữ. Tôi vẫn mù tịt. Hắn bảo tôi :

– Bôn ba không qua thời vận. Mày xông xáo như thế mà cuối cùng lại chẳng ra gì so với tao. Chính mầy hơi bị nhỏ đấy. Chúng nó ăn hối lộ và buôn lậu, nhiều tiền bẩn quá phải mua nhà đất để tẩy, sau khi được tiền lùi vài trăm cây.

-Tiền lùi ?
– Đó cũng là một từ mới nữa. “Lùi” có nghĩa là tiền mà kẻ được lịch sự bớt cho, còn gọi là tiền lại quả, cũng một tiếng thời thượng mới. Nó được năm trăm cây nhưng lùi cho một trăm cây.

(Lượm lặt của thiên hạ – Web: bacdau.wordpress.com)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Hút thuốc không phải là ngầu
Hút thuốc là để đi…cầu đỡ hôi.

Đơm

Đơm: dâng cúng

(đơm ma tế quỷ – đơm ông bà ông vải

Đơm quải: cúng tổ, cúng quỷ đơm ma)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Giai thọai làng văn xóm chữ

Cho hay công nợ âu là thế.

Mà vẫn phong lưu suốt cả đời.

Tiền bạc phó cho con mụ kiếm…

Trong bài thơ Tự cười mình, Tú Xương đã “tự thú” về mình như thế. Con mụ ở đây là người vợ tảo tần của Tú Xương. Ông bà Tú sinh hạ được 5 người con. Trước một bà vợ đảm lược, gia – đình ở phố Hàng Nâu ấy, bà còn nâng giấc chăm sóc ông Tú với tấm tình chan chứa đức hy sinh nên ông đã viết hẳn một bài thơ:

Thương vợ:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

©T.Vấn 2024



Bài Mới Nhất
Search