Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 256)

Giai thoại về một bài thơ

Đầu làng Ngang có một chỗ lội
Có đền ông Cuội cao vòi vọi
Đàn bà đến đấy vén quần lên
Chỗ thì đến háng chỗ đến gối
Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười
Cái gì trăng trắng như con cúi
Đàn bà khép nép đứng liền thưa
Con trót hớ hênh ông xá tội …

1 – Bài thơ “Chỗ lội làng ngang” của cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến. Tuy nhiên vì tam sao thất bản nên một hai bài viết ở đâu đó còn thiếu mấy câu sau :

”Không, không, mi chẳng tội tình gì

Chỉ làm ông cứng con buội

Về bảo đàn bà khắp làng mày

Ra đây ông cho giống ông Cuội”

Từ đấy làng Ngang đẻ ra người

Đẻ ra rặt những thằng nói dối

2 – Nhà văn miền Bắc Lê Lựu, triển khai bài thơ trên ra tiểu thuyết Chuyện Làng Cuội. Từ địa danh của bài thơ, Lê Lựu dàn dựng truyện tình xung quanh cái đầm làng Cuội. Hội thi nói khoác cũng xẩy ra ở tại miếu ông Cuội nên bị Hội Nhà Văn ở Hà Nội áp chế như Nguyễn Ngọc Tư bị Hội Nhà Văn Cà Mâu chế tài với Cánh Đồng Bất Tận.

(Trần Đăng Khoa – Chân dung và đối thoại)

Chữ nghĩa làng…nhậu

Tửu lạc vong bần:

“Vong” là “quên”. Câu này nghĩa là uống rượu quên nghèo, như câu “Lạc đạo vong bần” nghĩa là vui đạo quên nghèo.

Người Tầu cũng có câu tương tự của Lý Bạch: “Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu – Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu”.

Ca dao có từ bao giờ?

Theo Thiền sư Lê Mạnh Thát: Văn học nước ta có ba bài phú đầu tiên bằng chữ Nôm xuất hiện vào đời Trần của Vua Trần Nhân Tông, Thiền sư Huyền Quang và Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi.

Cả ba tác phẩm này cùng ra đời vào thế kỷ XIII, xen kẽ có những bài thơ thể lục bát. Như vậy thơ lục bát đã thành hình vào thế kỷ XIII và ca dao lục bát ra đời. Và thể song thất lục bát xuất hiện sau đấy vào thế kỷ XV, ca dao song thất cũng ra đời sau đó.

Năm 1433, Phan Phu Tiên và Chu Xa sưu tập thơ của vua quan nhà Trần, nhà Lê thành cuốn Việt âm thi tập, bài tựa có câu:

Đời Đường, Ngu vua tôi xướng họa thời Liệt quốc dân ca, ca dao. Tuy bàn việc khác nhau nhưng nhưng cùng là để bày tỏ nỗi lòng”.

Vào thế kỷ XVII, dưới thời chúa Trịnh có một nhà nho đề xướng dân ca là những bài ca nhân gian.

(Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao dân ca)

La đà

La đà: ngà ngà say, rủ thấp

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Giai thoại làng văn

Một cuộc sống mới hình thành: tôi không muốn làm báo chửi bới nữa. Đọc sách báo Pháp mãi chán, tôi tìm đọc thơ của Lưu Trọng Lư, Hồ Dzếnh. Lúc này, tôi thường sang tán láo ở nhà Lưu Trọng Lư ở chung với Nguyễn Tuân đường Nguyễn Trãi. Mỗi khi đọc một truyện gì hay, chúng tôi lại thuật lại cho nhau nghe: Lư lúc ấy mê André Gide, còn Nguyễn Tuân và tôi thì ưa Dostoievsky.

Lúc ấy, Lư cộng tác với mấy tờ báo văn chương, rồi cùng Lê Tràng Kiều tổ chức tờ “Tân Thiếu Niên” của Trần Tấn Thọ, nhưng ra được vài số thì báo bị tịch thu và đóng cửa. Cái “chất” của Lư không phải là để làm báo hàng ngày: anh ốm yếu luôn, lại thêm lúc nào cũng lơ mơ như ở trên mặt trăng rớt xuống, có nhiều khi anh em ngồi đông đủ nói chuyện, mà tâm hồn để tận đâu đâu, sịch một cái, anh chạy ra vơ lấy quản bút và mảnh giấy ghi lại một câu thơ mà anh vừa nghĩ được. Lưu Trọng Lư làm thơ như một ký giả lão thành viết báo; báo thiếu một đoạn, thợ in đòi một bài ngắn để đắp vào, kẻo để trắng trông không được, thì Lư làm “Hà Nội báo”, “Tiểu thuyết thứ năm” cũng vậy. Lê Tràng Kiều phàn nàn thiếu bài, Lư nằm phủ phục xuống cái chiếu trải trên gạch viết luôn một bài thơ. Thú thực, lúc đó, tôi không bao giờ đọc thơ của Lư, vì yên trí là thơ nhăng nhít; mãi về sau này, có nhiều thời giờ nhàn rỗi, tôi mới bắt đầu thưởng thức thơ của Lưu Trọng Lư và do đó cũng yêu anh hơn, chớ thực ra lúc đầu thì tôi gần như không chịu được nhà thi sĩ đó, chậm chạp, lười biếng, trốn chui trốn lủi như con cù lần.

Tiếp xúc lâu hơn, tôi mới thấy Lưu Trọng Lư là một người có học, ham đọc và mâu thuẫn nhất là làm thơ như thế, anh lại thích đọc các sách chánh trị, và tìm hiểu các hiến pháp, các tổ chức, các đảng phái của Pháp lúc bấy giờ; vì thế sau này anh theo kháng chiến không về, tôi không lấy làm lạ, mà chỉ lạ sao trong anh em, có tin người này chết, người kia chết mà không lúc nào tôi nghe thấy tin anh chết trong khi anh mang bao thứ bịnh và bao nhiêu trác táng trong thớ thịt và huyết quản.

(Vũ Bằng – Bốn mươi năm nói láo)

Tiếng Việt rắc rối

Hỏi: Trong Quốc văn giáo khoa thư. Bài 31 tựa đề “Chăn trâu”. Phần bài tập có mục “Học tiếng” chữ “nón mê”. Vậy chứ nón mê là nón chi. Ai biết xin giải đạp cám ơn nha.

Đáp: Nón mê là nón cũ, nón rách.

Hỏi: Nghe kỳ! Sao không gọi là nón rách, nón cũ, mà lại gọi là…nón mê.

Đáp: Sao Nam Kỳ kêu cái mũ là…cái nón.

(Trau giồi tiếng Việt – ĐatViet.com)

Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền

Mẹ cô dâu không đưa dâu

Ngày xưa, hôn nhân cưỡng ép, thường là cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Thực ra, trong nhiều gia đình, người cha quyết định mọi việc, người mẹ chỉ tuân theo. Vì thế đã xảy ra một số trường hợp oái oăm: Ngày con gái vu quy đáng lẽ là ngày vui nhất trong đời nhưng người thì khóc lóc buồn tủi vì bị ép buộc, người thì lo sợ cảnh làm dâu, làm vợ, từ tấm bé chưa rời mẹ, nay tự nhiên mẹ con xa nhau, mẹ thương con cũng mủi lòng sụt sùi khóc.

Thế là, trong khi hai họ đang vui mừng yến ẩm ở nhà ngoài thì hai mẹ con lủi thủi, cắp nón ra về. Tan tiệc, nhà trai chẳng tìm thấy cô dâu đâu nữa. Qua vài đám đại loại như vậy người ta rút kinh nghiệm không nên để mẹ cô dâu đi đưa dâu, dần dần bắt chước nhau, trở thành tục lệ.

Chữ nghĩa làng…nhậu: Rượu Ta

Tửu sử ngoại truyện (1)

Ít ai biết nước ta nấu rượu, cất rượu vào thời nào, chỉ biết rằng:

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đặt pháp hiệu của mình là Cồ Thành, đóng đô ở Hoa Lư, xưng tôn hiệu Đại Thắng Minh Hoàng Đế. Sang năm sau, lần dầu tiênsứ thần Trung Hoa sang giao hảo viết trong An Nam ký truyện sứ: “Vua Đại Việt vừa múa hát vừa…uống rượu”.

(Nguồn: “Đại Cồ Việt-nước Việt-Phật giáo”, tạp chí Hán Nôm)

Ai là tác giả ca dao?

Từ khi có chữ Hán, nước ta có thêm lớp nho học. Những hàn nho dạy các nho sinh làm thơ và ngâm thơ. Những bài thơ ấy nói đến cuộc sống bình dị ở xóm làng. Già làng cảm xúc, thấm thía nên học thuộc lòng rồi đem dạy cho con cháu. Thơ trở thành ca dao. Trong việc đồng áng họ hát thẳng ca dao như đồng dao để quên nỗi nhọc mệt. (5,6%)

Đến khi muốn dò ý nhau, họ hát những bài ca dao tình tự. Lối hát trữ tình này làm cho trai có vợ, gái có chồng sau này trở thành dân ca. (47,1%)

(Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao dân ca)

Chữ nghĩa làng văn

Khi chúng ta viết, dù thơ hay văn (nhưng đặc biệt là thơ), sự chọn lựa, kết hợp các từ ngữ cũng chính là một hành động rất vũ đoán, một cách vô tình hay hữu ý, sử dụng những biện pháp chuyển nghĩa (trope) như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, nhân hoá, v.v. 

Khi một người Việt Nam nào đó, trong xa xưa, đã sáng tạo ra câu Lòng em như quán bán hàng / Còn anh là khách qua đàng trú chân, hay câu  Em như cái giếng giữa đàng / Người khôn rửa mặt, kẻ phàm rửa chân, thì quả là người đó đã rất vũ đoán để đem so sánh tâm hồn hay thân phận của một con người (đặc biệt lại là một người con gái) với một túp hàng quán, hay như một cái giếng. Thế nhưng, chính cái vũ đoán đó đã để lại cho chúng ta những câu ca dao tuyệt vời như thế cho đến bây giờ.  Nó làm cho những hình ảnh ấy sống mãi.

Cũng thế, trong vở chèo Thị Kính, tác giả đã cho Thị Mầu “chào hàng”/”nhá hàng” với anh Nô bằng một câu chòng ghẹo táo bạo, Gió xuân đánh tốc dải yếm đào / Anh trông thấy oản sao không vào thắp hương. Tác giả của câu chèo tinh quái và kinh khủng này đã đặt vào miệng Thị Mầu một ẩn dụ thật …trẻ không tha, già không thương vì “oản” là để cúng Phật, và câu hát bóng gió đầy tính…trêu hoa ghẹo nguyệt kia, “gọi mời thắp hương” kia, lại được thốt ra trong khung cảnh nghiêm trang nơi cửa thiền. Mà chính là vì ả Thị Mầu đang ve vẩy ở nơi đấy nên mới có cớ giục mời người ta vào thắp hương như thế!). 

Một sự nhìn ngắm, liên kết để rồi so sánh đến vậy, không gì khác, chính là một sự vũ đoán, ập vào nhau những hình ảnh, những khái niệm đáng lẽ là rất xa nhau. Nó làm bật ra những tia lửa của sự sáng tạo. Đúng là có những cái vũ đoán chết người, nhưng chúng đã khắc nét vào văn chương như thế.

(Bùi Vĩnh Phú – Viết, đọc và thẩm thức văn chương)

Tiếng Việt trên net

thui = thôi
trơi= chơi, ví dụ: “đi trơi”

Sự phát triển của tiếng Việt (III)

Sấm Truyền Ca (1670)

“Trần Hớn Xuyên (1854-1940) là người đã sưu tầm tập Sấm Truyền Ca kể lại trường hợp ông khám phá ra bản hiện nay vào năm 1910: “Trải qua cơn bắt đạo dữ dằn đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðừc, việc giữ đạo ở miền Nam phải âm thầm, sách vở ảnh tượng đều được chôn giấu.

Ðến năm 1870 có người đào được tại Cái Nhum (Chợ Lách, Vĩnh Long) một hầm vô chủ, có nhiều sách vở về đạo thánh, trong đó có Sấm Truyền Ca, giấy đã mục nhiều. Các linh mục Pháp thời đó không nhìn nhận là đúng với Kinh Thánh của bổn đạo, nên cấm bổn đạo vì sách dị đoan. Vì đó Sấm Truyền Ca bị mai một (…)

Sấm Truyền Ca là sự dung hòa giữa nền văn hóa Ðông phương và Tây phương. Tôi không nhận xét về mặt hợp hay không hợp Kinh Thánh, tôi mến phục lối thơ lục bát của người xưa và cách dùng chữ An Nam hồi đó, đã lột được ý nghĩa của Kinh Thánh cho người An Nam dùng cách dễ dàng (…).

(Nguyễn Vy Khanh – Tiếng Việt một số tác phẩm mới phát hiện)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Đi cầu: Là đi vô toilet chứ không phải lái xe chạy qua cầu.

(Nguồn: từ sổ tay của một người Mỹ học tiếng Việt)

Sách giáo khoa

Theo tinh thần Đổi Mới. Lúc đó tôi quan niệm rằng chương trình cũ cũng như cả nền văn học trước 1975 chủ yếu nhằm phục vụ đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh. Yêu cầu hàng đầu là phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu. Văn học lúc đó vì thế phải theo sát từng nhiệm vụ chính trị: kháng chiến chống Pháp, cải cách ruộng đất… Khi đất nước bị chia cắt thì chuyển sang phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược: Đấu tranh thống nhất đất nước, và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Văn học cứ phục vụ sát từng bước một. Khi Mỹ đánh ra miền Bắc thì văn học cùng với chương trình văn học lại phải tập trung cổ vũ cao trào cả nước chống Mỹ. Tất cả mọi ngành đều như vậy, văn học và giáo dục cũng như vậy. Do phải phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu, nên tiêu chuẩn chính trị trong văn học đặt lên hàng đầu, tiêu chuẩn nghệ thuật đặt ở hàng thứ hai hay thứ ba gì đấy. Do ưu tiên hàng đầu là phải phục vụ chính trị, cho nên có nhiều tác phẩm không có giá trị nghệ thuật gì, nhưng cũng được chọn vào chương trình.

(Nguyễn Đăng Mạnh – Dạy văn thì phải đúng là dạy văn)

Triết lý củ khoai

Lúc bé, tưởng yêu là tất cả, là mọi thứ, lớn rồi mới biết sau yêu còn có chia tay.

Giai thoại làng văn xóm chữ

Năm 1971 Hồ Hữu Tường in ” 41 năm làm báo”.

Theo nhận định của nhiều người tập hồi ký ” 41 năm làm báo” chứa nhiều dữ kiện lịch sử, về báo chí mà những thế hệ sau muốn tìm hiểu phải đọc. Trong kỹ thuật kể chuyện ông đã hài hước hóa nhiều câu chuyện và người đọc thấy được sự phóng túng và luôn luôn muốn vượt khỏi những câu thúc thường ngày.

Trong cuộc đời làm báo của ông, ông đã gặp các nhân vật lịch sử như Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm…Ông phác họa những chân dung độc đáo của những người mang trong người những lý tưởng cao đẹp và coi thường những bi thảm của cuộc sống. Họ là những người trong hoàn cảnh thời cuộc chuyển mình đã làm hoạt động của họ trở thành công việc đội đá vá trời. Có lúc bi thảm nhưng cũng có lúc khôi hài, có lúc cương quyết nhưng cũng có lúc lãng mạn, những chân dung và những sự kiện đã trở thành những truyện sống động của những tư liệu lịch sử.

Viết hồi ký” 41 năm lám báo”, ông cốt ý muốn dựng lại một thời kỳ lịch sử với những nhân vật có thực với những câu chuyện đầy chất lịch sử như nguồn gốc cái tên Nguyễn Ái Quốc hoặc câu chuyện nhà cách mạng Nguyễn An Ninh đi bán dầu cù là rong để vừa hoạt động vừa là một cách dấn thân cho sinh kế…

(Nguyễn Mạnh Trinh – Những hồi ký làm báo)

Chữ nghĩa làng văn

–  Truyện ngắn của chị có nhiều chữ lạ như ngõi, ngẫn ngẫn, to hó, nhảo, nhuôm nhuôm, chỉn chu. Như thế, có cần một chú thích cho các độc giả miền Nam và hải ngoại?

–  Không có từ nào thật lạ, thật sáng tạo của riêng tôi trong số những từ chị vừa dẫn. Những ngõi, nhảo, nhuôm nhuôm, tôi học từ các bà các chị ở quê tôi. To hó, từ này tôi mượn của ông Tô Hoài từ trước năm 45. Ngẫn ngẫn tôi học được từ mấy anh chị đi từ miền Nam. Chỉn chu thì có trong tự điển. Và nói chung, nhiều chữ tôi dùng hiện vẫn được sử dụng hàng ngày ở VN, chỉ không thông dụng ở hải ngoại. Vậy thì đâu có cần chú thích. Chúng ta phải tự làm giàu có vốn từ cho mình bằng cách đọc và học.

(Lê Quỳnh – Phỏng vấn nhà văn Lê Minh Hà)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

©T.Vấn 2023

Bài Mới Nhất
Search