T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: Biển Xanh Sông Gấm Nối Liền Một Vòng Tử Sinh

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Đường đi không đến – Tranh: Thanh Châu

       Một ngày cuối tuần, ông anh vợ ghé nhà chơi như mọi lần, chẳng qua ông này đồng canh đồng tuế với người viết nên rất gần gũi nhau trong những lúc trà dư tửu hậu. Bình thường ông giống những ông chú, ông bác bên nội của người viết vào cái thời buổi 54 mới di cư vào Nam, trong những dịp giỗ tết, hay bù khú chuyện vật đổi sao rời rồi thở ra với thế sự du du hề một thoáng bạch câu. Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật, cái tật của ông này cũng vậy, gặp người viết cứ lẵng nhẵng chuyện thế sự thăng trầm quân mạc vấn thế này thế kia.

      Thế nhưng hôm đó gặp ngày nắng trở trời hay sao ấy, ông anh vợ tên Phú trên cứ lan man về những chuyện cây đa bến cũ con đò xưa như chợ Viềng ở Nam Định. Hết năm 54, mấy cậu cháu lên Hà Nội để bị…chó đuổi. Vào đến trong Nam, loanh quanh với căn nhà ở cầu Băng Ky làm người viết nghe đến sốt ruột. Rồi đủng đoảng thế nào, ông đảo qua một chút vê ông cậu hiện đang ở Nha Trang, đang ngồi không chẳng làm ăn gì cả.

       Sau một tuần trà, ông rút trong túi ra một cái thư…            

       Người viết đành vuốt bụng đoán thầm, ông này đúng là Bắc kỳ kỹ, bấy giờ chớm hiểu ra từ nãy đến giờ ông ráo đầu cho có chuyện thế thôi. Chém chết đâu đó cũng không ngoài cái nợ đời là lại sắp phải đóng góp để sơn phết lại mồ mả gia tiên hay lợp mái sửa nhà. Và người viết đành tặc lưỡi mở ra đọc cho xong, dẫu gì ông cũng là ông anh vợ và đang ngồi đồng hút thuốc lá vặt trước mặt như để…chờ thời.

        Lững lờ liếc qua ngày tháng:

Nha Trang ngày 17 tháng 11 năm 2004”.

        Nhưng nói cho ngay, lời lẽ chẳng giống như bất cái thư…kể khổ nào, mà rặt toàn chuyện làng nước cùng ruộng vườn qua kẻ Bắc người Nam với “Quê ta xa mãi bên kia biển – Chỉ thấy tơi bời mây trắng vương” dài lê thê lướt thướt như đoạn đường chiến binh buồn nản đến chán ngấy. Mãi đến khúc ông cậu tả…”con lợn” chạy lăng quăng giữa trận chiến mù trời dậy đất mới sống động được một chút. Nghĩ dại chứ, vi người viết chẳng hiểu ông cậu này bộ hết chuyện hay sao mà mang con lợn vào thư nhà để làm cảnh chi đây. Ngước mặt lên định hỏi ông anh vợ cho ra nhẽ, bắt gặp qua khuôn mặt ông nguyên…”một mùa thu chết” nên thôi, thấy hơi lạ nên cúi đầu đọc tiếp. Đến giữa thư, sau năm 75, ông cậu vào đến Nha Trang, qua ngày tháng phần đầu của cái thư ở trên, người viết ngờ ngợ như có gì không ổn và tự thầm hỏi cớ sự gì đến bây giờ là năm 2004, sau 29 năm ông cậu mới cất công viết thư cho ông cháu. Lại ngước mặt lên định hỏi…Lại thấy mặt ông vẫn u ám với…”mùa thu không trở lại”. Nghĩ cũng lạ thật và chẳng biết làm gì hơn là mầy mò đọc hết bức thư…

       Tiễn ông anh vợ về rồi, ngồi lại một mình nhìn mây bay gió thổi, bầu trời thấp nặng một mầu chì xám sịt. Nhìn ra góc vườn đằng xa, hàng cây nghiêng ngả u ẩn chiêù tiễn biệt  trong  một cõi đi về…Bỗng thấy lòng dạ nao nao, nào có khác gì ông anh vợ, bỗng dưng người viết cũng thấy trong ngõ ngách của tâm trí đầy rẫy những…”anh ra đi mùa thu” với thu rơi, thu rụng. Nhấp một ngụm trà tầu thấy đắng ở đầu lưỡi, làm một hơi thuốc lá thấy nhạt nhẽo ở đầu môi. Cùng những cảm xúc bồi hồi, người viết thầm nhủ từ cái dung dị của cái thư đang cầm trong tay này, nếu thêm bớt một chút, gò lại với những dấu phẩy, dấu chấm cũng có thể thành truyện được.

       Và người viết lững thững vào nhà, ngày trời tháng Bụt, ngồi xuống bàn gõ như gõ mõ, bật cái máy nghe nhạc như một thói quen với một ngày như mọi ngày….Trong những giây phút bất chợt lắng đọng của yên sĩ phi lý thuần, để rồi bài viết cũng như tựa đề được cảm tác và vay mượn qua âm hưởng từ dòng nhạc họ Trịnh: “Từ quê nghèo lên phố lớn, bàn tay ta nắm, biển xanh sông gấm, nối liền một vòng tử sinh…”

                                                                 ***

       Thân gửi cháu Phú,

       Qua bác Cả cậu biết được địa chỉ của cháu từ lâu, thư này cậu cũng đã viết từ lâu lắm rồi và để đó, vì cứ đắn đo chần chừ mãi. Ba mươi năm giữ kín để gậm nhắm với cậu cũng quá đủ, không lẽ sống để dạ chết mang theo, để rồi cậu không biết làm sao hơn vì lúc này cậu cũng đã có tuổi, nay ốm mai đau, không biết ngày nào gặp lại tổ tiên, ông bà và họ hàng, nên mượn dịp này để gửi thư đến cháu. Cũng nhân dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền Ất Dậu sắp tới, lời đầu tiên bao nhiêu năm xa cách, cậu thành tâm chúc thầy cháu và gia quyến cháu an khang, thành đạt trên mọi lĩnh vực.

       Thế mà đã hơn năm mươi năm qua, nhưng trong cậu hình ảnh của cái ngày ấy, tất cả chúng ta quây quần dưới căn nhà ngói cây mít năm gian hai chái ở một làng quê ven biển trù phú và êm ả với cái tên thật thân thương là Ân Phú. Cũng vì vậy ông ngọai đã lấy tên làng đặt cho hai anh em cháu, ân là ơn trên ban cho, phú là giầu có thịnh vượng. Ở nơi chốn ấy, ra khỏi cổng nhà mình là con đường làng khá rộng lát bằng gạch vồ, chạy dọc theo con đường là con sông nước chẩy lững lờ. Năm đó, thầy mẹ cháu dựng ngôi nhà gạch, ngói đều tăm tắp ở cuối ngõ, nằm núp bóng dưới cây nhãn và vườn chuối. Buổi trưa yên ắng, chả ai chịu ngủ nghê, lũ con bác Cả thì leo lên hái ổi, hái nhãn để chơi đồ hàng. Cậu và cháu rủ nhau trốn ra bờ sông câu cáy, bắt rạm hay nặn gà, nặn chó suốt cho tới chiều, khi tiếng những tiếng chuông nhà thờ xứ vang lên báo hiệu buổi chầu cuối ngày, cả bọn mới kéo về cái sân gạch đã khuất nắng để chơi trò kéo xe.

       Xe là cái tàu lá cau khô, cháu ngồi lên cái bẹ, cậu túm lấy lá cau xăng sái kéo. Còn thằng Ân có những trò nghịch tinh như khâu đít chuột, như đến giờ xua con lợn về chuồng. Chả hiểu nó học mót của ai, nó xoay mặt con lợn vào cửa chuồng rồi nắm lấy đuôi nó làm như kéo về hướng bờ sông. Con lợn không biết mình bị đánh lừa, vùng vằng cắm đầu chạy vội vào chuồng. Bà ngoại vẫn hóng hớt thằng Ân là cái thằng lạ nhẩy, đúng là rồ, anh em trong nhà thì không chơi lại đi chơi với lợn. Cậu nghĩ cũng lạ thật, vì nó không phải tuổi hợi mà cứ tủn mủn tẩn mẩn với cái giống cám hấp này để ông bà ghét bỏ, chả được nuông chiều như cậu cháu mình.

        Trở về với làng quê ta, bên kia con sông là tổ đình, bên cạnh là bãi đất trống là chợ Viềng xưa cũ. Tên Viềng có nghĩa một ngày trong một năm, cứ mùng Tám tháng Giêng chợ nhóm họp để mọi người cùng mua thịt bò, thịt trâu và bán chữ, mua câu đối. Ngày ấy cậu háo hức làm sao, ngóng đợi đêm ngày để đến cái khỏanh khắc đó…Mấy cậu cháu được theo bà ngọai và mẹ cháu dạo chơi phiên chợ, nhưng vì cả hai cậu cháu mình bé út ít nhất trong nhà, nên mỗi đứa được mua một con tò he bằng đất nung, được tô phết với phẩm mầu, đuôi là một cái lông gà nhuộm mầu xanh đỏ, có gắn một cái còi lưỡi gà bằng ống sậy, khi thổi vang lên những tiếng tò he, tò he…Riêng thằng Ân anh cháu lớn hơn cậu hai tuổi, vậy mà chỉ được chấm mút ba cái kẹo bột, kẹo vừng đến sún cả răng, mòn cả lợi. Có lúc cậu nghĩ cũng có thể vì quen thổi tò he từ những ngày còn bé nên sau này cậu là văn công thổi kèn chăng? Nói cho ngay cậu cũng chả biết nữa, ngay cả với cháu, cháu cũng giống cậu cái máu nghệ sĩ, lớn lên cháu cũng thích đánh đàn “ghi-ta”vậy. Nhưng cậu chẳng quên được cái thú vị nhỏ nhoi và đơn sơ của cái tò he, của cái tuổi thơ bé tí hồi đó.

       Cậu nhắc đến câu cáy, bắt rạm, cậu muốn nhắc đến con sông ngay trước cổng nhà cháu như vừa viết ở trên. Những ngày nước lên, cậu là thằng đầu têu, cậu rủ rê cháu đi đặt lờ, chỉ mấy cái lờ không thôi, hai đứa bắt được cả yến rạm, rồi mang về đưa bà ngọai lấy thưởng. Vì con rạm nhỉnh hơn con cua đồng một tí, nhưng con nào con nấy to bằng một phần mười con cua đinh, bà gạn mấy con cái đem rang giòn, ăn rất bùi, rất ngậy. Những con đực thì bà xé ra làm chả, giã nhỏ nấu canh khế, canh me. Mấy ngày sau nước sông rút xuống, cháu lại mè nheo cậu xoay ra câu cáy. Như cháu biết đấy, cáy nhỏ hơn rạm, thân dầy, mu mầu nâu và hai cái càng đỏ chót như hai quả ớt chín. Cậu và cháu lấy cành tre, cột giây, đầu buộc mồi là cái kèn tằm hay con sâu khoai nước, thấy con cáy thập thò ngòai cửa hang là nhử nhử, cáy ham mồi dơ càng kẹp là không muốn nhả, thế được cả giỏ. Về bà ngọai giã ra, trộn muối, bột giã, thính và riềng, rồi hạ thổ lấy khí âm, khí dương, ít tuần sau có món mắm cáy. Đến như ông K trưởng của cậu, mỗi lần cậu về phép mang quà nhà quê trở ra đơn vị làm quà. Ông ta cứ tấm tắc khen là: “Tớ chỉ khoái ăn mắm tép của bà ngoại cậu thôi”.

       Nhớ nhất là những ngày Tết, cậu lại nhớ đến cái năm cuối cùng ở dưới quê. Khỏang 27, 28 là bà ngọai và mẹ cháu cùng mấy nhà chung quanh xóm đánh đụng một chú lợn ỉ, nặng hàng tạ, thịt chắc, ngọt và thơm để làm giò, gói bánh chưng, kho tầu và dùng làm món độn nấu cỗ cho ba ngày Tết. Lợn cả bầy lúc nhúc, chả hiểu sao bà ngoại nhè con lợn của thằng Ân chăm bón mà xẻ thịt nên nó…”nhè” cho cả ba ngày tết. Số là đi học về là nó lăn vào bếp, cứ ngỡ nó mò củ khoai, củ sắn nướng hóa ra nó tìm mẹ cháu để phụ sắn rau, sắt bèo hay nấu cám cho lợn của nó ăn. Ấy là chưa kể, ngày nghỉ nó còn tắm cho lợn nữa chứ mới rầy rà. Cứ theo bà ngoại thì gà, lợn không thích tắm táp, chúng chỉ thích dầm mình vào trấu hay bùn cho bẩn thêm thôi. Vì vậy các cụ ta dậy bẩn như lợn quả tình chẳng sai chạy là mấy. Bà lẵng nhẵng là gặp nước, gà bị dù, lợn bị chột vậy mà nó mù tịt, thế nào cũng có ngày cứ trắng mắt ra mà xem. Nó chả được tích sự gì sất, chả được như cái thằng em hay thằng cậu nó, đúng là cái thằng ngu như lợn. Ngu đâu chẳng hay, ấy vậy mà con lợn nó dành nuôi từ lúc còn là con lợn sữa, cũng đẻ dược dăm lứa thành con nái, con sề thì bị bà ngả ra làm thịt cho mấy ngày tết. Cũng nhờ đó mà cậu cháu mình mới biết thế nào là thổi bong bóng lợn để làm quả bóng đá lạch bạch, lịch bịch quanh sân.

       Chiều 30 đón gia tiên, ông ngọai nghiêm trang vái một vái, rồi từ từ hạ chiếc nậm sứ nhỏ men rạn, rót ra chiếc chén bạch định mắt trâu, sau đó là ông ngọai lúy túy với bữa rượu lòng lợn tiết canh của thằng Ân, trong khi thằng cháu cứ khóc i ỉ như lợn ấy. Tối 30, bà ngọai lúi húi với ngọn lửa lom rom, tí tách, bà chưng rươi với cái niêu đất tròn như trái bưởi đào, để làm thêm đồ nhắm cho ông tiếp bạn trong những ngày đầu xuân, còn lại cả nhà ngồi bên bếp lửa canh nồi bánh chưng đợi Giao Thừa. Sáng mùng một là mâm cỗ lớn, có đủ giò, chả, ninh, bóng, mọc. Nhưng nói gì thì nói, cậu chỉ mong đến mồng bốn, ngày tiễn ông Táo, rồi hóa vàng, để ngong ngóng món khóai củ tỉ của cậu là món bún thang. Còn thằng anh cháu, sang đến ngày này là quên tuốt con lợn bị làm thịt, bị mẹ cháu củng vào đầu, tướng tá như trâu lăn, như muốn dành ăn với cậu cháu mình, khoắng một cái là nhẵn hai bát, cái bụng phưỡn ra như ông thần đất.

        Thế rồi khói lửa chiến tranh cũng ập tới làng quê bé nhỏ ấy, thầy mẹ cháu và bà ngọai về Nam Định ở số nhà 70 Phố Khách. Còn ông ngọai, hai bác Cả ở lại Ân Phú cùng chú tá điền tên Tuất để trông coi vườn tược ruộng nương. Cậu sẽ kể chuyện về chú ấy cho cháu ở cuối thư, vì chú Tuất sau này gíup đỡ ông bà ngọai và gia đình cậu rất nhiều trong lúc cậu bị sa cơ lỡ vận. Thời gian ở tỉnh Nam với phố phường gì cũng lạ, cuối tuần thầy mẹ cháu dẫn cả nhà đi ăn bánh cuốn ở phố Vải Màn, nghe đâu gốc gác ở làng Kênh, nổi tiếng về nghề làm bánh cuốn. Nghe nói, bánh cuốn làng Kênh ăn đứt bánh cuốn Thanh Trì về độ mỏng, mịn và trắng, vì vậy mới có câu “chổi Vĩnh Trường, bánh cuốn Kênh, tương Tức Mặc, rau muống Thượng Lồi”. Hoặc như bún chả Nam Thành của bà Lý Tư trước cửa nhà Thờ, thường mười một giờ mới có. Chỉ mười xu một gắp chả quạt ướp với trứng, cuốn trong lá chuối xanh, với đầy đủ bún, rau muống chẻ, húng dũi, lại có cả đu đủ xanh ngâm dấm. Ăn xong thầy mẹ cháu thả cả ba xuống rạp ciné Văn Hoa ở đường Pôn-Be, và phát tiền đưa cậu làm đầu tầu. Hết chầu ciné, cậu dẫn hai đứa đi ăn lục tầu xá ở gần chợ Rồng, còn thừa thì giờ ghé phố Hàng Mã xem mấy ông tiến sĩ giấy và con giống xanh đỏ. Trên đường về nhà, với sự chỉ đạo của cháu, thế nào cũng ghé Bến Ngự sông Vị Hòang gần đền Triều Châu, để xem bơi thuyền và dân tình câu cá. Cháu thì bao giờ cũng vậy, lúc nào cũng chỉ thích cá, tôm, rạm, cáy này kia…

       Lúc này mặt trận ở vùng quê đã nặng, đêm đêm ở tỉnh nghe tiếng cà nông ì ầm xa xa vọng về, đồng bào bắt đầu rậm rịch sơ tán. Đến cuối 53,  bác Cả trai và cậu theo gia đình cháu chuyển lên Hà Nội để thăm dò và cậu nhớ mãi đó là căn gác nhỏ ở trong ngõ của phố Yết Kiêu, hình như trước kia tên Tây là phố Bô-Ve. Còn ông ngọai và gia đình bác Cả gái cũng dọn lên với bà ở Phố Khách để trông coi nhà cửa và đợi tình hình biến chuyển. Những ngày ở đây tuy ngắn nhưng thật thú vị, có những chiều cả nhà kéo lên Hồ Tây ăn bánh tôm trên đường Cổ Ngư, sao hồi đó cậu khóai uống nước sô đa của hãng con Hổ đến thế. Vào hè, cả ba cậu cháu thường ra hồ Ha-Le chơi hoặc bát phố đây đó. Một lần ba chàng ngự lâm pháo thủ tay cầm kiếm gỗ, đi về hướng phố Trần Hưng Đạo để ra ga Hàng Cỏ. Đang ngó nghiêng ngả thì có một anh chó “bẹc-dê” to bự sự từ trong nhà xổ ra nhe răng trắng nhởn. Hai cậu cháu mình ù té chạy, may có chàng ngự lâm Ân ở lại làm Lê Lai cứu chúa, nó cầm thanh gươm gỗ cản đường, cũng may con chó bị xích không thì cũng tiêu đời nhà ma.

       Hà Nội lúc đó nhộn nhịp lắm, vì có nhiều gia đình đang kháo nhau sửa sọan ri cư, láo nháo bán nhà bán cửa, nên bác Cả bàn với thầy mẹ cháu để về lại Nam Định đón cả nhà lên Hà Nội rồi vào Nam. Chuyến về thật gian nan, phải đi ngả Hà Đông, rồi qua Vân Đình, xuống đò dọc sông Đáy rồi ghé Hà Nam, ra thị xã Phủ Lý, đi xích lô về Nam Định. Lúc này, quân đội Pháp đã rút khỏi thị xã, dọc đường và trên các hè phố, những chiếc “tăng-xê” trú ẩn hình tròn được đào vội vã để tránh bom tránh đạn. Hàng ngày tiếng è è của máy bay trinh sát bà già quần trên đầu, tiếng ào ào của những chiếc B26 quần đảo phía bên kia sông Đào và phía ngòai biển. Đêm xuống không có điện nhưng vẫn sinh họat tấp nập, những tốp lính trẻ đi hướng dẫn thiếu nhi học hát, học múa sạp. Dọc đường Trần Hưng Đạo, nhất là khúc nhà thờ, người ta mang quần áo, đồ đạc ra bán chợ trời như chợ phiên, và quà vặt thì đầy ắp, nào là lạc rang, nào là ngô nướng…

       Bác Cả gặp lại ông bà ngọai, cả nhà họp hành, bàn bạc dưới ánh sáng đỏ kệch của đèn dầu Hoa Kỳ, rồi ông bà ngọai dứt khóat không đi vì căn nhà, vì mồ mả tổ tiên. Nghỉ ngơi ít lâu, bác Cả trai gửi cậu theo người quen lên Hà Nội thì gia đình cháu đã xuống Hải Phòng được mấy hôm. Cậu khóc sướt mướt cả ngày hôm ấy, thực tình mà nói, cậu cũng chẳng biết Sài Gòn ở đâu, mà chỉ nhớ hai cháu, như mất mát một cái gì. Cậu nhớ cháu vì hai cậu cháu mình hay chơi với nhau. Cậu thương thằng Ân vì hay bị ông bà ngoại hất hủi. Tướng tá nó như anh Vọi ấy, ông ngoại vẫn thường nhiếc là sau này làm anh lực điền là hết đất, trong khi cậu èo uột và hay ốm vặt. Vì vậy nó hay bao che cho cậu và cháu trong những ngày cả ba đi học. Cậu nhắc đến chuyện con chó “bẹc dê” ở Hà Nội là một thí dụ. Ấy là chưa kể những lúc hai cậu cháu mình nghịch dại, bị ông bà ngọai nọc lên phản với cái roi mây, thì nó đứng ra nhận tội và chịu đòn thay.

       Sẩy đàn tan nghé, cuối cùng cậu không biết làm sao hơn là lần mò một mình về lại Nam Định. Sau 54, cả gia đình mình xuống dốc không “phanh”, từ ông bà ngọai đến hai bác Cả, để thêm thu nhập, ông ngọai tối tối rị mọ làm đèn xếp, đèn quả, đưa cho cậu đi bỏ mối. Trăm dâu đổ đầu tằm, cậu lêu bêu sáng đi học, chiều về lo đi chợ và lấy nước sinh họat cho cả nhà, phải gánh lên tầng hai, nhưng ngại nhất là phải xếp hàng chờ ở máy nước đầu phố Hàng Sũ, hay máy nước ở đình Hội Quản, lúc này cậu đã thấy thấm câu các cụ thường nói là giầu con út, khó con út. Nhưng may khéo là may, trong chương trình cải cách ruộng đất, chú Tuất tá điền nhà ta, hình như có chức phận gì đó, nên giữ được một ít đất đai vườn tược cho ông bà ngọai. Đầu năm 59, cá đuối đắm vì con nên ông bà ngọai quyết định bán phần đất hương hỏa ấy đi, dành dụm tiền để cậu lên Hà Nội học nghề. Cái khó nó bó cái khôn, đến giữa năm thì ông ngọai mất và ông được an táng ở nghĩa trang Cánh Phượng, ngọai thành Nam Định.

       Còn cậu cuối năm 1964 tốt nghiệp và được phân công về khu mỏ Hòn Gai. Được mấy năm, cậu xin đi du học ngọai quốc, nhưng bị đình lại vì Trung Quốc đang có đại cách mạng văn hóa, nên không quá cảnh được, cậu đâm chán nản và đâm ra ngang chướng. Lúc này chiến sự cực kỳ ác liệt, thế là tình hình đẩy cậu vào bộ đội. Đăng ký xong, cậu vội cọc cạch đạp xe đạp từ Mỏ về nơi sơ tán của bà và hai bác Cả, ở được vài hôm rồi phải đi ngay. Cậu nhớ mãi buổi chiều hôm đó, bà đưa cậu ra tận đầu xóm, bà chả nói gì, chỉ đứng khóc lặng lẽ với ai suôi vạn lý. Nhưng bà đầu có biết, vì nhờ hồi nhỏ thổi tò he nên sau này cậu làm văn công thổi kèn ở mấy trại lính ở tỉnh. Mặc dù có xa nhà thật đấy, nhưng nói chung thì sau này cũng yên phận cùng những đổi thay của đất nước và con người.

       Sau ba tháng quân trường, cậu được nhập vào sư đòan 316 và thế là lên đường, lẽ ra vào tận Bình Dương. Lúc đó cậu có nghĩ đến gia đình cháu, nhớ đến con anh Đòan Chuẩn với chiêu hồi, chiêu hướng gì ấy, rồi lại nghĩ tới bà ngọai, lòng cậu lại rối như tơ vò, chả biết tính sao cho phải nhẽ. Nhưng trên đường di chuyển qua trung Lào thì bị B52 chà xát, sư đòan cậu bị tổn thất khá nặng nên được rút về Nghệ An để dưỡng quân, căn bản là phòng thủ vùng bên này sông Bến Hải. Lại thêm nữa, vì có chút ít văn hóa, chỉ làm thơ suông, làm báo cùi, để có chút gạo, đường để cải thiện nên cậu chả phải đánh đấm gì sốt cả. Nói dối phải tội chứ ngay cả lên cơ bẩm, kéo cái cần “quy lát” của khẩu AK 47 nặng như cái búa tạ cậu cũng lính quýnh nữa là. Rồi thì đến khoảng cuối năm 74, một bộ phận sư đòan cậu được lệnh điều động qua phía tây Thừa Thiên, giáp Huế để làm công tác dân vận, giúp đỡ đồng bào trong vùng vừa được giải phóng. Nghe tin trong lòng cậu cũng mừng vì yên chí như vậy thì chiến tranh có khả năng sắp chấm dứt, gia đình mình sẽ đòan tụ một ngày không xa.

       Vừa đến nơi thì được lệnh vào cánh rừng Đồng Lâm ẩn nấp để chờ lệnh mới, gặp mùa mưa dầm dề cả ngày cả đêm, ngập đường ngập đất, ngập cả hầm giao thông hào với hầm trú ẩn. Gạo và củi bị ẩm ướt, ẩm mốc không nấu nướng gì được sốt cả, phải nhai sống từng ôm rau môn, rau tai voi với lương khô gần một tuần lễ nên ai nấy đói meo. Mới đây cậu lại bị bệnh tê thấp, ngâm người dưới nước suốt mấy ngày liền, nên mắt trắng môi thâm như bị sốt rét. Sang đến xế chiều ngày thứ sáu thì có lệnh rút về bên kia Bến Hải, vừa kéo quân ra đến bìa rừng thì thấy một đám lính trong này đi ngang qua, họ thả bộ không đội ngũ, súng vác vai, hồn nhiên vui vẻ.

       Gã chính trị viên và cậu dùng ống nhòm dòm kỹ toán quân này để điều nghiên thấy họ vừa đi vừa nói chuyện inh ỏi vừa ca hát vang trời vì có người vác cả “cál đài” trên vai. Lạ hơn nữa có người lại nắm giây thừng kéo cả con lợn theo. Sau này về lại Nghệ An để dưỡng thương, học tập rút tỉa ưu khuyết điểm của trận đánh với cấp trên, nhờ điều nghiên nên cậu mới biết đó là trung đội 2 thuộc liên đội địa phương quân mà trước kia thời Tây ngoài Bắc mình gọi là lính “pạc-ti-dăng” nhưng cơ bản tổ chức như bộ binh. Cũng nhờ đó cậu mới biết họ đang bỏ đồn bót rút về tỉnh vì thời thế lúc ấy không thuận lợi cho họ giữ cầu gác chợ nữa. Ấy là chưa kể bên phía cậu còn sưu tra biết cả tên tuổi, khả năng chỉ huy chiến trường của những cấp chỉ huy của họ nữa kìa. Nhưng ấy là chuyện mãi tận sau này khi chiến trận hai bên đã ngã ngũ.

       Gã chính trị viên vỗ vai cậu chỉ con lợn và gật gật cái đầu. Cậu hiểu ý gã muốn nói là đã đến lúc túng thì phải tính, hãy xua quân ra quần thảo một trận để bắt…con lợn làm thịt nuôi quân. Cậu lắc đầu thì thầm với gã là trước sau cũng sắp về đến hậu phương để bồi dưỡng, nay vì cái bao tử, vì con lợn mà đánh nhau, thể nào cũng mất dăm mạng lính chẳng bõ. Không trả lời cậu, chẳng nói chẳng rằng gã vẫy tay gọi K trưởng và hai anh nuôi quân nhỏ to gì ấy cậu chẳng biết nữa. Bất thình lình K trưởng của cậu vung tay ra hiệu lệnh cho lính bung ra. Thế là lính của tụi cậu cứ như từ dưới đất chui lên, từ trên trời nhẩy xuống, bổ nhào vào đánh giáp la cà, như hổ đói mồi, la hét vang trời “hàng sống chống chết” và bắn nhau xối xả, cả bìa rừng náo lọan như bị nhồi vào giữa cơn lốc.

       Lúc đầu, tụi cậu bị mất chủ động vì chưa quen đánh bộ, lính thì phần nhiều là lính mới, ngơ ngáo lần đầu ra trận như cậu, nhưng một lúc lâu sau thì phía cậu trấn áp phía bên kia thấy rõ vì đông quân số hơn. Mặc dầu họ bị bất ngờ nên nháo nhào, nhưng cũng phải công nhận họ phản ứng nhanh và khá thành thạo. Chẳng may mới nhập trận, K trưởng của cậu đã bị tử thương, tuy nhiên nhưng đến xế chiều thì họ gần như bị tiêu diệt tòan bộ, số nhỏ còn lại buông súng đầu hàng.

       Sau trận đánh chớp nhóang đến không ngờ, gã chính trị viên và cậu, người đầy bùn và đất vàng khé, đầu không mũ, chân tập tễnh đang tổng tra trận địa, sặc mùi thuốc súng, mùi nhựa cây hăng hắc. Trong khi ấy con lợn cũng đang kêu la eng éc như muốn trốn chạy, hai chiến sĩ nuôi quân quên cả thu vén súng mấy cái tượng gạo, mấy cái bình tông, nhào tới nhanh như chớp để bắt nó. Bỗng dưng có một anh thương binh áo đẫm máu, tay này cầm giây thừng buộc cổ lợn, tay kia cầm súng nhỏm dậy kêu chói lói: “Con heo của tao” rồi nhắm ngay hai anh chiến sĩ nuôi quân lia một tràng. Hai anh này vừa chộp được con lợn ôm khít khìn khịt, một anh hét lên: “Không! Con…nợn của tụi tao” thì cả hai bật ra như cái cây bị đốn ngã vật xuống chết tươi. Cậu vừa bàng hoàng những gì xẩy ra nhanh như điện giật trước mắt. Vừa chưa kịp hiểu con heo, con lợn khác nhau chỗ nào thì gã chính trị viên đang đứng gần đấy nổi cơn điên, gã sốt tiết ra lệnh tiêu diệt hết đám tù binh và thương binh còn lại. Tiếng súng nổ đì đạch rời rạc trong khoảng không, tiếng lưỡi lê đâm từng nhát vào da thịt người, tiếng rên la thảm thiết, vang dội cả một góc rừng. Một lát sau thì khỏang đất trống trở lại ắng lặng và đầy thê lương, chỉ có tiếng rì rào của những cánh cỏ may và theo cậu biết thì không một ai sống sót. Tuyệt không còn một ai.

       Chiến trường đã im tiếng súng, tiếng hò hét, cậu lẩn thẩn đến gần xác anh lính có con lợn. Nhìn kỹ hơn anh ta thì cậu thấy anh ta chẳng đeo lon lá gì, mặt anh tương đối trẻ và sáng sủa. Tay anh không còn nắm cái giây thừng nữa và thõng xuống mặt đất. Ánh sáng ban mai chiếu vào cái mặt kính đồng hồ đến nhức mắt. Chẳng hiểu nghĩ thế nào, cậu cúi xuống tháo ra. Nhưng trước khi kín đáo bỏ vào túi, cậu nhìn thấy cái cửa sổ vuông của cái đồng hồ và cậu nhớ mồn một hôm ấy là ngày 17.

        Chóng mặt và mệt lả, cậu ôm đầu lủi ra phía sau ngồi nghỉ thì mới biết mình bị thương nhẹ. Nghĩ đi nghĩ lại thì đây là lần đầu tiên cậu đụng trận mới biết thế nào là giết nhau, mới thấy tận mắt máu me và chết chóc, cậu không thể hình dung chiến tranh khốc liệt và nhẫn tâm đến như vậy. Cậu về lại Nghệ An, sau mấy tuần an dưỡng, xuất viện thì được phục viên.

                                                               ***

       Trở lại ngày 30 tháng Tư đất nước thống nhất, cậu mừng vui trong háo hức là sẽ gặp lại những người thân sau bao năm xa cách, háo hức như con đứng ngóng ở đầu ngõ đợi quà của mẹ đi chợ về, để rồi cậu thao thức, mong đợi đếm từng ngày từng tháng. Tháng 11-1975 cậu mò vào Nam tìm gia đình cháu, chuyến đi thật vất vả, trong túi chẳng có bao nhiêu tiền, nên hai bác Cả dấm dúi cho cậu một tay nải gạo, ký đường cát, chồng bát sành để làm quà cho thầy mẹ cháu. Chỉ có điều độ rày cậu không được khỏe, bệnh tật nhiều như huyết áp cao, sỏi thận, bướu cổ, lại mới bị thương, nên có nơi cậu phải nằm lại một, hai ngày để lấy sức. Trên đường cậu thấy nhiều cán binh đi B nay ngược về Bắc với nước da sốt rét bợt bạt, áo quần bèo nhèo, trên người, trên ba lô, khung xe đạp vắt vẻo lỉnh kỉnh búp bê tóc vàng tóc nâu, tay còn tay mất, chỉ có thế, những thứ quá nghèo nàn, trông vừa thương vừa tội. Nhưng ngay chính trong thâm tâm cậu, cậu cũng muốn có dăm thứ như vậy, nhưng ước gì lành lặn hơn, để làm quà cho đám con của cháu, cho mấy đứa con của thằng Ân.

       Lập cập mãi rồi cũng vào tới Nha Trang, cậu bị đuối sức vì cái chân bị thương hồi trước nó hành, tính nghỉ ngơi dăm bữa rồi suôi Nam. Bất ngờ gặp chú Tuất, là tá điền nhà ta hồi trước mà cậu đã kể cho cháu ở đầu thư, nay chú ấy là cán bộ nhà nước cũng vừa từ Sài Gòn ra đây công tác. Nghe chú Tuất thông tin hoàn cảnh của cháu, của thằng Ân, cậu buồn quá nên lòng dạ chẳng thiết tha gì đến chuyện vào trong Sài Gòn nữa. Chồng bát đĩa và bịch đường với những xót xa vẫn còn nằm lăn lóc ở đấy, tâm trạng của cậu là cái tâm trạng đường đi không đến vậy thôi. Cậu cũng dặn dò chú ấy đừng cho ai trong gia đình mình biết, xem như không gặp cậu ở đây. Không nói cháu cũng biết, chú Tuất là người thuần hậu ít thấy, trong thời buổi kinh tế, đại gia đình ta gượng dậy được là cũng qua tay chú ấy. Rồi hòan cảnh đẩy đưa, cậu gặp mợ và lập gia đình, cũng nhờ chú Tuất sắp xếp và lo liệu. Cậu cũng vừa nghỉ hưu năm rồi nên rảnh rỗi là cậu đi chùa, được hòa thượng chủ trì ban cho hai chữ Tâm Không.

       Năm 1988, chú Tuất điện báo tin mẹ cháu đang hấp hối, cậu vội vàng vào Sài Gòn ngay ngày hôm sau. Cậu có nhiều chuyến đi vội vã đầy rối rắm, với nhiều lo âu canh cánh bên lòng, nhưng chưa lần nào bồn chồn như lần này. Đến nơi thì chẳng còn kịp nữa, với những ưu tư ngổn ngang trăm bề, mà bấy lâu nay chẳng dám thổ lộ với ai. Cậu cứ chịu trận ngồi yên một chỗ, khật khờ nửa muốn nửa không, để rồi cậu không có can đảm, không dám vào nhà để vái ba lạy, để gặp chị mình lần cuối…

      Sau đó cậu nhờ chú Tuất chạy đi mua ít hoa quả nhang đèn, từ trong quán nước đối diện nhà cháu, nhìn qua bên kia đường, cậu cố gắng nhưng vẫn không thấy rõ khung hình mẹ cháu, đặt trên cỗ áo quan ngay giữa cửa ra vào. Mà chỉ thấy thầy cháu và cháu đi đi lại lại tiếp khách. Và cậu cứ tư duy mãi, vật đổi sao rời, đã có người mất người còn. Người mất như mẹ cháu thì như cái phúc, cái phần, người còn lại cũng đã có nhiều thay đổi về hình hài, nhưng con người thầy cháu vẫn vậy.

      Nhưng với cháu thì thực tình cậu nhận không ra, ba mươi tư năm rồi chứ ít ỏi gì, mới ngày nào lũn chũn, củ mỉ cù mì, bây giờ tóc thưa, mang gọng kính đồi mồi, khuôn mặt khắc khổ như một thầy giáo nghiêm khắc, như công chức nhà nước mẫn tiệp, nhìn kỹ, cháu có nét khó khăn của ông ngọai hồi còn trẻ. Và cậu cũng bắt gặp mấy thằng con cháu đeo khăn vàng, mặt mày ngơ ngác, hình như cũng trạc tuổi với mấy cậu cháu mình ngày nào ở Ân Phú. Cậu lại bồi hồi đến sự tần tảo và thương yêu chăm sóc của mẹ cháu, cậu cũng không quên chính sự dữ đòn của mẹ cháu với cậu hồi nhỏ, như lười học để bị ăn thước kẻ vào lòng bàn tay, mà nay cậu đã nên người. Với mẹ cháu, ngay cả cho đến lúc ấy, ngồi ở quán nước bên kia đường, trong đục vơi đầy với âm dương cách trở, lúc nào cậu cũng là thằng em bé bỏng và nhút nhát của chị mình…

       Đến quá chiều chú Tuất dẫn cậu đi ăn gần đấy rồi đến tối cậu trở lại ngồi chỗ cũ. Bên kia đường, văng vẳng iếng tụng kinh gõ mõ từ cái máy hát vọng qua bên này, lòng cậu chùng xuống, có một khỏanh khắc, cậu muốn bước qua bên kia đường. Nhưng ngay sau đó, tiếng phường bát âm, tiếng kèn Tầu như cản cậu lại, cậu nghe rõ ràng như tiếng con tò he thổi nghe rền rĩ, đứt quãng, mà mẹ cháu mua cho cậu ở chợ Viềng trong những ngày giáp Tết. Khuya cậu về nhà chú Tuất ngủ qua đêm, sáng hôm sau ngồi nấp sau xe Honda của chú ấy để đưa mẹ cháu ra nghĩa trang. Một mình đứng dưới gốc cây tự đằng xa, cậu vẩn vơ ước mơ một ngày nào đó, mặc dù cậu tự biết chẳng bao giờ thành tựu. Lúc cậu cháu mình có tuổi, cả hai sẽ đưa mẹ cháu về nghĩa trang Cánh Phượng để gần ông bà và cậu cháu mình sẽ sống lại những ngày tháng xa cũ ở Nam Định.

        Cứ lẩn thẩn vậy mãi, cho đến lúc mọi người về hết. Cậu nhờ chú Tuất đi tìm mộ thằng Ân, thằng anh cháu đang nằm gần đấy. Trong khi đợi chú Tuất, cậu nhìn cái đồng hồ Seiko đang đeo ở cổ tay mà cậu đã lấy được từ anh lính dắt con lợn bằng cái giây thừng. Cậu chẳng biết lúc ấy là mấy giờ vì cái đồng hồ chết tự dạo đó. Ánh sáng ban mai lấp lánh của năm nào chênh chếch qua mặt kính cái đồng hồ thêm một lần làm cậu hoa cả mắt.

       Đến đây cháu đã đóan ra một phần nào câu chuyện qua cái thư này:

        Vì cậu đã gặp lại thằng Ân một lần.

       Một lần duy nhất ở cánh rừng Đồng Lâm, ngày 17 tháng 11 năm 1974.

       Cậu,

       (ký tên)

                                                           ***

       Rồi bài viết cũng xong, cái thư của ông cậu vẫn còn đấy, dòng nhạc “Tôi Sẽ Đi Thăm” của Trịnh Công Sơn vẫn văng vẳng còn kia…Thêm một lần, người viết đành vay mượn những âm hưởng một thời, một thưở để thay cho phần kết luận với truyện ngắn này: “Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, tôi sẽ đi thăm, tôi sẽ đi thăm bạn bè dăm đứa còn xanh nấm mồ…Khi đất nước tôi không còn giết nhau, trẻ con đi hát đồng dao ngòai đường…Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi không ngừng, Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam, tôi đi chung cuộc mừng và mong sẽ quên chuyện non nước mình…”

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

©T.Vấn 2022