Ảnh (Nguồn: phanbook.vn/)
KHÚC THỤY DU – BẢN TRƯỜNG CA CỦA TÌNH YÊU VÀ NỖI CÔ ĐƠN TRONG VỰC SÂU HIỆN HỮU
Trong cõi mênh mang của đời sống, nơi thời gian lặng lẽ cuộn mình trong những lớp trầm tích sâu hun hút, Du Tử Lê mở ra trong thi phẩm “Khúc Thụy Du” một cuộc hành trình tinh thần trần trụi mà huyền nhiệm. Bài thơ không khởi đầu bằng một lời tuyên ngôn hay khẳng định nào rõ rệt.Mà nhẹ như một hơi thở bảng lảng, dìu dắt người đọc bước vào miền mất mát, khắc khoải và nỗi hoài công đi tìm ý nghĩa cho kiếp người.
Chỉ mấy câu đầu thôi, ông đã dựng lên một khung cảnh buồn bã và ám ảnh:
“như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời”
Hình ảnh “con chim bói cá” ở đây không còn là một loài chim trên đồng nước.Nó trở thành biểu tượng cho thân phận con người giữa cuộc đời đục trong,thực và ảo. Cái “cọc nhọn trăm năm” gợi lên cảm giác chênh vênh, cô độc. Một dấu mốc nghiệt ngã của thời gian, mà trên đó con người đứng lại, ngơ ngác tìm kiếm lại chính mình. Còn “vụng nước cuộc đời” nghe sao mà thấm thía. Chữ nghĩa mộc mạc mà mở ra cả một cảm giác lênh đênh, hụt hẫng, rất gần với tâm thức của những phận người trôi nổi ở phương Nam. Ở đó, đi tìm cũng đồng nghĩa với đánh mất, và người ta càng cố níu giữ thì càng vuột khỏi tầm tay.
Từ điểm nhìn ấy, bài thơ dẫn người đọc vào những cảnh tượng tàn nhẫn của hiện thực:
“bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được”
Chỉ vài câu thơ mà cả một thế giới dữ dội hiện ra. Động từ “rỉa” sắc lạnh, tàn nhẫn.Còn cụm từ “của tươi đời nhượng lại” thật chua chát, xót xa. Như thể những gì con người giữ gìn cuối cùng cũng chỉ là chút tàn dư để lại cho đời. Câu hỏi “bữa ăn nào ngon hơn” không còn nói về miếng ăn, mà gợi đến những chọn lựa nghiệt ngã giữa sống và chết, giữa cái còn lại và cái đã mất. Đọc đến đây, tôi có cảm giác Du Tử Lê không chỉ nhìn chiến tranh hay hiện thực bằng đôi mắt, mà bằng một trái timđau tới mức, mọi hình ảnh đều mang theo vị mặn của thân phận.
Rồi bài thơ quay trở về với nội tâm, cái tôi cô độc tiếp tụclặn sâu vào bùn đời để tìm cho ra ý nghĩa tồn tại:
“tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình”
Những câu thơ ngắn, nhịp điệu dồn dập, nặng trĩu. “Lặn tìm”là hành động của con “chim bói cá”, lại là hành trình tinh thần của con người. “Tôi” trong thơ lặn xuống đáy bùn, đối diện với những gì tối tăm nhất của đời sống để tìm “vuông đời mình”. “Tôi” đi tìm một khoảng không riêng biệt, một phần bản thể chưa bị xô lệch.
Từ đó, bài thơ mở ra một suy tư xót xa về thời gian và thân phận:
“đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi
tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi?”
So sánh đời sống với “thân nấm” giản dị mà đắt giá. Cây nấm mọc lên rồi teo lại, nhỏ dần theo từng ngày, cũng như con người bị thời gian bào mòn đến cạn kiệt. “Tâm hồn ta cọc lại” gợi hình ảnh một thân cây khô cứng, không còn sức bật, chỉ còn trơ ra với gió nắng cuộc đời. Câu hỏi cuối cùng như lời tự vấn, như tiếng kêu cô độc vọng ra từ đáy lòng. Khiến người đọc bất giác soi lại mình: Phải chăng ai rồi cũng có lúc sống thu nhỏ dần đi mà không hay biết.
Sang phần hai, bài thơ chuyển sang không gian của tình yêu, nhưng đó là một tình yêu đi cùng cái chết:
“mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay”
Du Tử Lê đặt “nỗi chết” cạnh chữ “mịn màng”, khiến cái chết hiện ra không ghê rợn mà dịu nhẹ. Như một làn sương phủ lên đời sống. Còn “hoang đường như tuổi thơ” gợi về những điều đẹp đẽ nhưng không sao nắm bắt được. Tình yêu trong thơ ông vì vậy gần gũi mà xa xăm, nồng nàn xác thịt lại bảng lảng như một giấc mơ.
Cảm xúc lên đến cao trào khi thân xác tan rã mà khát vọng yêu thương thì vẫn còn nguyên vẹn:
“tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom”
Những câu thơ này gây ám ảnh dữ dội. Trong cảnh tượng thân thể bị phân mảnh bởi chiến tranh, con người vẫn quờ quạng tìm lại trái tim mình. Hình ảnh ấy đau đớn và thiêng liêng.Bởi dù thân xác có tan nát, tình yêu vẫn là phần cuối cùng con người muốn giữ lấy. Chiến tranh ở đây không chỉ hủy hoại thể xác, mà còn xé nát tâm hồn.Nhưng chính trong đổ vỡ ấy, khát vọng yêu thương lại hiện lên như một sức mạnh cứu rỗi.
Và rồi bài thơ khép lại bằng những câu thơ lắng sâu như một lời mặc khải:
“không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể
anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển”
Sau tất cả những hoang tàn và vô nghĩa, chỉ còn tình yêu mới là điều đáng tin cậy. “Ướt đầm thân thể” như gợi sự hòa quyện của xác thân, lại tạo cảm giác tình yêu đã thấm vào tận cùng của sự sống. Còn “một giờ linh hiển” là khoảnh khắc con người chạm đến điều vượt lên trên đau đớn và mất mát.Chỗ tình yêu trở thành ánh sáng soi rọi cõi người.
Khúc Thụy Du không chỉ là một bài thơ tình. Đó là bản trường ca về nỗi đau chiến tranh, của cuộc kiếm tìm bản ngã giữa bùn nhơ và đổ nát. Mỗi câu thơ như một nốt nhạc trầm, đọc thấy thấm, càng lắng nghe thì thấy phía sau chữ nghĩa là một linh hồn cô độc, không ngừng kiếm tìm ý nghĩa của đời mình. Với tôi, bài thơ này giống như tiếng gọi vọng lên từ tận đáy sâu thân phận.Để nhắc rằng giữa bao nhiêu hoang tàn của kiếp người, điều cuối cùng còn đủ sức cứu rỗi chúng ta vẫn chỉ là tình yêu.
Nhìn từ phương diện nghệ thuật, Khúc Thụy Du cho thấy rất rõ bút pháp đặc trưng của Du Tử Lê: tự do mà không buông lỏng, dữ dội mà vẫn giữ được một nhạc tính ngầm, chảy suốt từ đầu đến cuối bài thơ. Ông không câu nệ niêm luật, cũng không tìm cách trang sức câu chữ theo lối cầu kỳ.Nhữnghình ảnh, nhịp ngắt, từng chữ được đặt xuống đều như được chưng cất từ cảm xúc và suy tưởng. Thơ ông có cái lạ là càng đọc càng thấy rối bời.Nhưng khilòng lắng lại thì nhận ra bên dưới lớp chữ nghĩa,tưởng chừng như tản mạn ấy,chứa một cấu trúc nội tâm rất chặt chẽ.
Du Tử Lê đặc biệt thành công trong việc sử dụng biểu tượng. “Con chim bói cá”, “cọc nhọn trăm năm”, “vụng nước cuộc đời”, “thân nấm”, “ma không đầu”, “giờ linh hiển”, mỗi hình ảnh đều mang đời sống riêng, vừa gợi cảm giác cụ thể, vừa mở ra những tầng nghĩa rộng và sâu. Ông không giải thích, không dẫn dụ, chỉ lặng lẽ đặt hình ảnh vào câu thơ, để chúng tự va đập vào tâm trí người đọc,từ đó ngân lên những cộng hưởng bất ngờ. Chính lối viết ấy tạo cho thơ ông một vẻ đẹp nửa thực nửa mộng, gần gũi mà siêu thực. Giống như mọi sự vật đều đang hiện hữu trong cõi đời này, đồng thời cũng đang trôi về một cõi khác.
Một nét đáng quý khác trong thơ Du Tử Lê là khả năng hòa quyện giữa thân xác và tâm linh. Ông viết về tình yêu rất gần với da thịt, hơi thở, với những rung động nóng lạnh của cơ thể. Nhưng chưa bao giờ dừng lại ở cảm giác thuần túy. Xác thân trong thơ ông luôn là chiếc cầu để con người đi vào những câu hỏi lớn hơn về cô đơn, cái chết, về ý nghĩa tồn tại. Bởi vậy, đọc Khúc Thụy Du, người ta có cảm giác, tình yêu không chỉ là nơi trú ẩn cho tâm hồn, mà còn là con đường cuối cùng dẫn con người tới một dạng mặc khải.
Ẩn dưới toàn bộ bài thơ là một suy tư mang màu sắc hiện sinh rất rõ. Con người hiện ra trong trạng thái lạc loài, mất phương hướng, bị ném vào một thế giới đầy đổ vỡ. Mọi giá trị tưởng chừng có thể tan biến bất cứ lúc nào. Nhưng giữa sự vô nghĩa ấy, Du Tử Lê không rơi vào tuyệt vọng hoàn toàn. Ông vẫn giữ lại một niềm tin thầm lặng rằng, tình yêu dù mong manh và đau đớn, vẫn là điều cuối cùng giúp con người vượt qua bóng tối. Nếu phải tóm gọn triết lý của bài thơ trong một ý, có thể đó là: khi mọi thứ đều rã tan, tình yêu vẫn còn là chứng tích cuối cùng cho thấy con người đã từng sống thật.
Riêng tôi, mỗi lần đọc “Khúc Thụy Du”, tôi có cảm giác như đang nghe một tiếng hát vọng lên từ đáy sông khuya. Tiếng hát ấy không cố an ủi ai, cũng không hứa hẹn điều gì.Nhưng càng nghe càng thấy lòng mình dịu xuống. Và đến cuối cùng, điều còn đọng lại không phải là nỗi buồn.Mà là một thứ ánh sáng rất nhỏ, xa xăm.Song cũng đủ để người ta tin rằng giữa cuộc đời nhiều đổ nát, con người vẫn có thể cứu lấy nhau bằng một tình yêu.
Nguyễn Đông A
…
KHÚC THỤY DU
1.
như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời
như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được
như con chim bói cá
tôi lặn sâu trong bùn
hoài công tìm ý nghĩa
cho cảnh tình hôm nay
trên xác người chưa rữa
trên thịt người chưa tan
trên cánh tay chó gặm
trên chiếc đầu lợn tha
tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình
trên mặt đất nhiên lặng
không tăm nào sủi lên
đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi
tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi?
2.
mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng không khép
bàn tay nàng không thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài
ngực tôi đầy nắng lửa
hãy nói về cuộc đời
tôi còn gì để sống
hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thuỵ ơi và thuỵ ơi
tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thuỵ ơi và thuỵ ơi
đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em
hãy cho anh được thở
bằng ngực em rũ buồn
hãy cho anh được ôm
em, ngang bằng sự chết
tình yêu như ngọn dao
anh đâm mình, lút cán
thuỵ ơi và thuỵ ơi
không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể
anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển
(03-68)
Du Tử Lê
