Trương Văn Dân: Tập Thơ BÀI CA THẾ KỶ 21 – Lời Ngỏ (Về thảm họa và các cuộc Chiến tranh)

Canzoniere del xxi° secolo. Nxb Pace (Bản tiếng Ý  – 10.2025) Bài ca thế kỷ 21 nxb Thuận Hóa 1.2026

Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”,  tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.

         Cũng trong năm đó, sự kiện Tết Mậu Thân (1968) thì thơ có thêm chủ đề thân phận và nỗi đau của con người trước cuộc chiến. Chừng vài chục bài thơ lẫn lộn được chép cẩn thận trong một tập giấy pelure nhiều màu.. cho đến cuối năm 1971 nó cũng theo tôi qua Ý du học và hơn 40 sau, năm 2008 lại cùng tôi quay về Việt Nam.

           Tất nhiên đó là những bài thơ xoàng, chỉ dành cho một vài bạn thân đọc chứ chưa bao giờ công bố.

           Năm 1973, bài thơ “Vết thương hồng trên cánh chim câu” được hội sinh viên sáng tác ở Paris đưa vào tuyển tập, tiếc là sau đó bị thất lạc. Rồi  khi làm trưởng ban báo chí của Hội sinh viên Việt Nam tại Milano, tôi viết văn xuôi, chỉ thỉnh thoảng mới lạc vào vườn thơ. Có lẽ đến năm 1987 tôi có viết bài thơ cuối cùng rồi vì công việc mưu sinh nên hoàn toàn bỏ bút.

Mãi đến 1994 được đọc truyện ngắn “Những ngày đánh mất” của Dino Buzzati tôi hiểu được ý nghĩa sâu sắc về thời gian, xưa nay cũng là nỗi ám ảnh thường trực của tôi. Xúc động, tôi  liền dịch ra tiếng việt rồi gửi  cho tạp chí Thế Giới Văn ở Mỹ. Bài được đăng và còn được chủ bút khích lệ nên từ đó tôi mới dịch rồi viết, và bắt đầu cầm bút trở lại. Nhưng chỉ viết văn xuôi.

           Tiếng thơ như đã ngủ im  từ những ngày thơ ấu bỗng một hôm thức dậy.

 Thức dậy vì cuộc chiến  Nga – Ukraine!

          Tôi viết về cuộc chiến này nhưng cũng là viết cho quê hương tôi, cho tất cả những cuộc chiến tranh từ trước đến nay ở bất cứ nơi đâu mà tôi đều cảm thấy vô nghĩa.

Tâm hồn tôi đau đớn khi nhận thấy bao nhiêu người đã chết trong cuộc chiến tranh này, với biết bao kẻ bị tàn tật và bao nhiêu gia đình mất nhà cửa. Tự dưng, như đất bằng dậy sóng, hàng vạn con người bị ném vào lò lửa chiến tranh, nhiều người trong số họ sẽ không bao giờ trở về nhà vì đã biến thành tro bụi. Nhiều người bị tàn tật và hóa điên vì những gì đã chứng kiến.

Hình ảnh hằng ngày trên TV… cùng những bài nhận định về nguy cơ chiến tranh thế giới thứ ba có thể nổ ra… đã bật trong lòng tôi những câu chữ. Nó giống như con sò đã nuốt nhầm hạt cát làm mình đau phải tự vệ bằng cách đem máu thịt của mình phủ lên và hóa thành các vần điệu “có thể gọi là thơ”. Nó cần thiết như một trị liệu pháp.

 Thơ hay không thơ, mới hay cũ, cách tân hay không… tôi chẳng quan tâm..  và kết quả là bài thơ  “Thế chiến 12 đoản khúc” ra đời.

 Bạn Trần Ngọc Châu gọi đó là “Tiếng lòng không thể không viết.”

Sau đó thì những bài “thơ” khác được tiếp tục viết. Nó mở đầu cho những suy tưởng về thân phận con người  trong cõi sống vào đầu thế kỷ 21.

                                              &

 Tôi không viết cho Ukraine hay Nga mà viết cho quê hương tôi, cho các các dân tộc khác đã bị  bằm nát trong thế kỷ này, từ Trung Đông cho đến Châu Á và lan sang cả Đông Âu. Như Iraq, Libya, Afghanistan, Syria, Crimea…  Màu máu đỏ của nhân loại có khác gì máu đã  mấy ngàn năm từng nhuộm đỏ đất nước tôi?

Nhìn những đoàn người tị nạn với hành trang ít ỏi, áo quần không đủ ấm dưới nắng cháy da hay mưa tuyết…,  tôi không thể không nghĩ đến những thảm kịch tương tự mà người dân nước tôi đã từng gánh chịu.

Nạn nhân đó cũng chính là tôi và  tất cả những người từng bất lực chứng kiến những khổ đau, mất mát… Ukraine chỉ là chất xúc tác để những cảm xúc buồn đau trong tôi lan rộng, nên viết về họ cũng là viết cho tất cả những cuộc chiến đã và đang xảy ra. 

Bởi những hình ảnh chết chóc ở bất cứ nơi nào cũng giống nhau.

Những cái xác bị thiêu cháy thì da đen da vàng da trắng cũng chỉ là một khối thịt hóa thành than. Một sự bình đẳng đến nghẹn ngào và đau đớn!

                                                *

          Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ quên hình ảnh những đoàn người gồng gánh, địu con chạy nháo nhào khỏi các vùng chiến sự ở quê tôi. Có cụ già héo quắt, đôi mắt hoảng loạn, ôm cái xác trên tay. Có đứa bé thơ day vú mẹ cạn sữa dần, khóc đến khản giọng mà không hề hay biết người mẹ đã chết thảm bên đường di tản.

Trên Tivi sáng nay tôi thấy một người cha đang vuốt ve khuôn mặt  đứa bé gái và nức nở bảo mọi người hãy nhìn xem cháu xinh đẹp biết bao. Cháu như đang ngủ nếu không có tấm vải liệm màu trắng. Trên một góc phố khác có cậu bé đang vật lộn trong mưa dầm mình trên con đường ngập lụt, cõng trên vai thi thể cứng đờ của một đứa em đã chết mà cậu chưa sẵn sàng xa nên không chịu bỏ lại phía sau.

Bỗng dưng tôi thấy trên khuôn mặt đờ đẫn của những đứa trẻ này khuôn mặt của chính tôi, của cả loài người đang quằn quại trong tuyệt vọng

Với lương tâm con người, những gì đang xảy ra ở Ukraine là không thể chịu đựng.  Để duy trì quyền lực, bán buôn vũ khí… người ta sẵn sàng chà đạp lên hàng ngàn xác chết của người già, phụ nữ và trẻ em vì tội lỗi của họ “là người Ukraine”. Cái hố sâu thù hận giữa Nga và họ đột nhiên biến thành một vực thẳm không thấy đáy và có thể sẽ tồn tại trong nhiều thập kỷ, nhiều thế hệ.

Tôi đã khóc. Dù biết tiếng khóc ấy không làm ai no, không xoa dịu được những vết thương. Không an ủi được người đau khổ.  

 Bỗng dưng tôi nhớ đến những cái tên lạ lùng của những đứa trẻ ở quê tôi.  Cha mẹ đặt tên con là gạo, là cơm, là nhà, là xóm, là làng…  với mong ước  lớn lên chúng sẽ có miếng ăn, có nhà để ở, có quê hương nguồn cội.  Các sư cô hay các “ma soeur” còn đặt tên các bé ở các trại mồ côi  là mẹ, là cha, anh, chị … để nó quên đi thân phận mồ côi, bị bỏ rơi hay được nhặt trước cổng chùa. Rồi đến tên các thôn xóm là An Lạc, Phú Hòa, Thạnh Mỹ.. với ước vọng bình an, giàu có, hiền hòa, … bởi chiến tranh đã tàn phá mọi thứ, chỉ còn lại một đống tro tàn.   

           Hơn 50 năm qua, từ khi còn là một thiếu niên mới lớn, đến giờ đã trở thành một người qua tuổi 70 nhưng nỗi đau xưa trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ như một căn bệnh không thể chữa lành.

          Khi một người bị giết người ta luôn tìm hiểu nguyên nhân và truy lùng thủ phạm. Thế nhưng khi có hàng triệu người bị giết thì mọi người lại dửng dưng! Chẳng lẽ không ai là  kẻ sát nhân? Hay tất cả chúng ta đều là đồng phạm vì đã câm miệng, thờ ơ?            

                                                   *

Các bài thơ của tôi viết trong tập thơ Bài ca thế kỷ 21 -Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh với ước mong là thế giới không còn chiến tranh, khẩn thiết kêu gọi mọi người cùng tưới mầm hòa bình, hóa giải mầm mống bạo lực, tham lam và sợ hãi. Vì chỉ do sợ hãi và nóng giận chúng ta mới chế ra bom hạt nhân, vì tham lam và mê muội nên chúng ta sản xuất vũ khí để kích động xung đột. Chiến tranh chỉ đến từ tâm trí chúng ta, nó đến từ sợ hãi, giận dữ và nghi ngờ rồi tự làm khổ mình và gây đau thương cho người khác.

Chúng ta đang sống trong một thế giới chia cắt và hận thù. Đã có nhiều người đánh mất niềm tin nên trong mùa Giáng Sinh đã đem đặt Chúa Hài Đồng giữa đống đổ nát của một trận bom.

Nhưng xin đừng bi quan mà  hãy lan tỏa tình yêu vì  đau thương và thống khổ đã có quá nhiều trên trái đất này.

Có thể câu chữ vụng về của tôi giống như tiếng gào trên sa mạc, nhưng tôi thiết tha kêu gọi những người có quyền lực và lợi ích hãy chấm dứt ngay những cuộc chiến tranh.

Tôi ước mơ được làm người, để sống với nhau, sống cùng nhau và sống cho nhau.

 Bởi chiến tranh nào giải quyết được gì?  Hơn 2500 năm trước đức Phật đã  dạy:

                      “Chiến thắng gây hận thù,

Thất bại chuốc khổ đau,

Ai từ bỏ thắng bại,

An tịnh liền theo sau”. (Tương Ưng Bộ kinh, Samyutta Nikàya I-102)

 Và những ai muốn sống an lạc tránh sợ hãi và khổ đau, hãy từ bỏ sát sanh:

“Hận thù tiêu diệt hận thù

Ðời này không thể có,

Từ bi diệt hận thù,

Là định luật nghìn thu”. (Pháp Cú, Dhammapada, 5)

                                        *

Có lẽ khi đến một tuổi nào đó, chừng 70/ 80 lòng ta đã lạnh, tim ta đã khô, chuyện gia đình xã hội, cơm áo gạo tiền sau bao năm tháng đã  không còn đè nặng trên vai, thơ như lối thoát, như cái phao giúp ta khỏi chết chìm trong biển đời trước khi bay về miền mây trắng?

          Cuối cùng, tôi muốn gửi đôi lời tới những người đã đọc tập thơ này… Xin các bạn đừng quên, dù sao trái đất này cũng là thế giới tươi đẹp của chúng ta, nó xứng đáng được chúng ta đấu tranh để bảo vệ. Thờ ơ trước cái ác và đóng cửa lương tri liệu có phải là một điều không kém phần tàn ác?     

Đời sống là một thiên đường khi chúng ta biết sống với nhau. Được sống trong một thế giới văn minh, trong một nền văn hóa có tình người rực rỡ. Bất kỳ  nguồn gốc chúng ta ở nơi đâu trên trái đất, không phân biệt màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, thói quen hay truyền thống… Chúng ta hãy nắm tay để đi cùng nhau chống lại chiến tranh để không còn ai bị hành hạ hay bắn giết chỉ vì tham vọng của một nhóm người  và tôi tin chắc không có điều gì không làm được khi mọi người đều chung tay hành động 

Cần phải chứng minh là chúng ta đang có phương tiện tinh thần để chống lại sự tiêu diệt nền văn minh.

Chiến tranh chỉ là sự hủy diệt! Xưa nay chưa ai thấy có cuộc chiến nào nhằm khôi phục lại nhân quyền, tự do hay công bằng xã hội mà chỉ là sự tranh giành quyền lực, kẻ chiến thắng là ông chủ mới, chưa chắc tốt hơn ông chủ cũ mà nó vừa đạp đổ.

Cho dù bạn ủng hộ bên nào, bạn vẫn có thể yêu cầu ngừng bắn, thả con tin và ngừng giết chóc cũng như tiếp cận viện trợ không hạn chế.

Trong mọi quan hệ luôn có điều đúng điều sai nhưng tôi nghĩ không có lý do nào có thể biện minh cho bạo lực và chém giết. Sự hung hãn chỉ để phô bày tính yếu đuối của con người, nó chỉ đập phá chứ  không bao giờ  xây dựng được điều gì tốt đẹp. 

Tôi luôn mơ xây một bức tường in các tranh vẽ, bài thơ hay và có chủ đề chống chiến tranh ở khắp nơi trên thế giới. Đặt bên những bức tượng  ở nơi trang trọng nhất thành phố: Nó nhắc nhở mọi người đừng bao giờ quên những tội ác và đau khổ,  để chúng ta không trở thành nạn nhân trong tương lai.

Chúng ta không thể quên vì sự lãng quên ấy tạo điều kiện cho cái mầm ác trỗi dậy rồi tiếp tục chiến tranh nhân danh những điều tốt đẹp.

Tôi mong các bạn không lùi bước trước cái ác và cùng đứng lên, bên nhau và vì nhau cho đến chừng nào chúng ta còn sống. Nếu bạn còn chần chừ thì xin hãy tưởng tượng  là bạn đang sống bình yên ở một nơi nào đó rồi bỗng nhiên có một quả phi tiễn từ xa bay tới làm căn nhà đổ sập và người thân của bạn đang nằm dưới gạch đá hoang tàn . Bạn không thể chờ được nữa! Hãy cùng chúng tôi góp phần phản đối để ngăn chận chiến tranh trước khi quá muộn

Bạn ơi, nên nhớ rằng chúng ta luôn thuộc về số đông, chúng ta là một sức mạnh to lớn có thể làm thay đổi mọi thứ. “Chúng ta có thể loại bỏ chiến tranh. Chúng ta có thể nấu thép xe tăng, tàu chiến thành tàu du lịch hay gom hết vũ khí trên trái đất đúc thành những chiếc chuông nhỏ và phân phát cho tất cả mọi người, mời tham gia vào một cuộc đại diễu hành vòng quanh thế giới để kêu gọi hòa bình.

 Đồng loạt, đồng loạt những tiếng thơ trong Bài ca thế kỷ 21 – Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh cũng là những tiếng chuông cùng lúc gióng lên, ngân vang trong không gian, truyền đến mọi quốc gia trên quả địa cầu để tỉnh thức tâm thiện của loài người.

Trương Văn Dân

Milano 12.2022               

PHỤ LỤC:

Giuseppe Deiana

                                     Về  tập thơ   BÀI CA THẾ KỶ 21  

                                         của Trương Văn Dân (Paceedizione 10.2025)

Ngày càng thấy rõ rằng sự khởi đầu của thế kỷ mới trên toàn thế giới đang được định hình như một kỷ nguyên của sức mạnh quân sự, của sự thay đổi chế độ với khủng hoảng của các nền dân chủ và sự trỗi dậy của các chế độ độc tài,  đã làm suy yếu luật pháp quốc tế và vai trò của Liên Hợp Quốc, đồng thời cho phép tình trạng vô pháp luật lan rộng, thậm chí đến mức phải dùng đến chiến tranh với tinh thần chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến và chủ nghĩa bá quyền thực dân. Trong đó các chính sách của Trump, Puntin và Netanyahu nổi bật hơn cả, và số lượng những kẻ bắt chước họ càng ngày càng đông.  

Những thời khắc đau buồn mà nhân loại đang trải qua hiện nay đã thôi thúc tôi khuyên mọi người nên tìm đọc và suy ngẫm cuốn sách tuyển tập thơ Bài ca thế kỷ 21: Về thảm họa và các cuộc chiến tranh” của tác giả Trương Văn Dân, được nhà xuất bản  Pace Edizioni phát hành vào cuối năm 2025 tại Ý.

Tác phẩm này kết hợp thơ và văn xuôi để mạnh mẽ lên án những thảm họa do chiến tranh gây ra. “Các bài thơ của tôi viết ra với ước mong là thế giới không còn chiến tranh, khẩn thiết kêu gọi mọi người cùng tưới mầm hòa bình, hóa giải mầm mống bạo lực, tham lam và sợ hãi. Vì chỉ do sợ hãi và nóng giận chúng ta mới chế ra bom hạt nhân, vì tham lam và mê muội nên chúng ta sản xuất vũ khí để kích động xung đột. Chiến tranh chỉ đến từ tâm trí chúng ta, nó đến từ sợ hãi, giận dữ và nghi ngờ rồi tự làm khổ mình và gây đau thương cho người khác. […]. Nhưng xin đừng bi quan mà  hãy lan tỏa tình yêu vì  đau thương và thống khổ đã có quá nhiều trên trái đất này.  Có thể câu chữ vụng về của tôi giống như tiếng gào trên sa mạc, nhưng tôi thiết tha kêu gọi những người có quyền lực và lợi ích hãy chấm dứt ngay những cuộc chiến tranh.” (trang 7-8).

Dù không cố ý hay nói rõ, nhưng những câu thơ của Trương Văn Dân là một tuyên ngôn hòa bình đáng được xem xét nghiêm túc và cần được cụ thể hóa, tùy theo khả năng của mỗi người.                                    “… Chỉ xin nhắc các người

                                     Chiến thắng đích thực là gìn giữ hòa bình

                                     Đem cơm no áo ấm đến mọi người

                                     Ai làm được chính là người BẤT TỬ! (trang 52).

               Ý thức hay vô thức, đây là nội dung cốt lõi của thông điệp trong Tin Mừng: “Ta đói, các ngươi cho ta ăn; ta khát, các ngươi cho ta uống; ta là người xa lạ, các ngươi tiếp đón ta; ta trần truồng, các ngươi cho ta mặc; ta đau ốm, các ngươi đến thăm ta; ta ở tù, các ngươi đến thăm ta” (Ma-thi-ơ 25:31-46).

Trong  tinh thần chủ nghĩa thế tục chung, đây là điều mà Albert Einstein luôn viết và ủng hộ, nhắc lại những thông điệp của Khổng Tử, của đức Phật, Chúa Giêsu và Gandhi về những gì họ đã làm cho nhân loại. Tấm gương vĩ đại của Gandhi là cần phải “vượt qua, thông qua sự thức tỉnh sức mạnh của đạo đức, nguy cơ tự hủy diệt mà nhân loại đang phải đối mặt do sự bùng nổ và phát triển công nghệ. Mối đe dọa này được đặc trưng bởi các từ ngữ phi nhân hóa, kỷ luật hóa và chiến tranh tổng lực, trong khi sự cứu rỗi được đặc trưng bởi các biểu hiện trách nhiệm cá nhân, kết hợp với bất bạo động và phục vụ con người theo nghĩa của Gandhi” (Andrea Cattania, Ánh sáng, Thời gian, Hòa bình. Thiên nhiên và Con người trong Tầm nhìn của Albert Einstein, Milan 2025, tr. 334).

 Do đó, tập thơ Bài ca thế kỷ 21 của Trương Văn Dân có thể được coi là một bản tuyên ngôn  hòa bình nhỏ, cần được tất cả công dân trên Trái đất ký kết, cũng như các quốc gia văn minh, trong đó việc bác bỏ chiến tranh (Hiến pháp Ý, điều 11) phải trở thành một lựa chọn chính trị tự nhiên, một lựa chọn đạo đức chung, được thúc đẩy bởi nhu cầu tránh leo thang, trong nhận thức rằng chiến tranh không giải quyết được vấn đề mà chỉ làm trầm trọng thêm, và rằng không có cuộc chiến tranh nào là chính nghĩa bởi vì luôn có yếu tố trách nhiệm ở cả hai bên.

Vì vậy, không còn ý nghĩa gì khi lập luận rằng nếu muốn hòa bình, hãy chuẩn bị cho chiến tranh (“si vis pacem para bellum”), mà đơn giản hơn là nếu muốn hòa bình, hãy chuẩn bị cho hòa bình (“si vis pacem para pacem”).

Tác giả  Trương Văn Dân đã diễn đạt điều đó một cách thi vị, giản dị nhưng sâu sắc.

“… Tôi là người cầm bút thơ ngây

Mơ những điều không tưởng

Mơ thế giới hòa bình

Người với người hòa thuận an vui.

Chợt bất bình

 thấy sinh mạng bị đem  ra buôn bán!

 Thay vì nâng cao giá trị làm người?…”

Do đó, sự cam kết của mỗi người đối với việc bảo vệ nhân quyền, quyền xã hội và lợi ích chung là điều thiết yếu, đạt được bằng cách thúc đẩy các thể chế quản trị toàn cầu mới (ví dụ, chuyển đổi Liên Hợp Quốc thành Nghị viện Thế giới) và các thể chế bảo đảm toàn cầu (an ninh toàn cầu, y tế, dinh dưỡng, giáo dục, môi trường, phúc lợi xã hội, v.v.), đó là những gì bản dự thảo Hiến pháp Thế giới được hiệp hội Costituente Terra ủng hộ đề xuất, bắt đầu bằng lệnh cấm vũ khí hạt nhân (Điều 53).

Trương Văn Dân viết: “Chiến tranh là cơ hội tốt nhất để  những con quỷ giận dữ, bạo dâm, hung bạo, tàn ác nấp kín trong lòng người trổi dậy...” (trang 77). Chúng ta cần phải thúc đẩy những giá trị đối lập của bình đẳng, bác ái, công lý và hòa bình trong tinh thần hy vọng. Đây là nền tảng để xây dựng các thể chế quốc tế mới trong khuôn khổ dự án Liên đoàn Trái đất, như một triển vọng khả thi để giải quyết các vấn đề khẩn cấp toàn cầu và định hình lại thế kỷ 21, mà Bài ca thế kỷ 21  của Trương Văn Dân đã viết tặng.

Milano 6.1.2026

Giuseppe Deiana

          Vài hàng về tác giả

                                                                      Nxb PaceEdizione  10.2025   

Giuseppe Deiana sinh năm 1947 và giảng dạy Lịch sử và Triết học tại các trường trung học.

Hiện ông là chủ tịch Hiệp hội Trung tâm Cộng đồng Puecher tại Milan.

Các tác phẩm của ông bao gồm: (cùng với Alessandro Cavalli), Giáo dục vì Quyền công dân Dân chủ (Rome 1999); Giảng dạy Đạo đức Công cộng.

Giáo dục Văn hóa và Quyền công dân: Một Thách thức cho Trường học (Trento 2003); Giáo dục chỉ mang tính hướng dẫn chứ không mang tính giáo dục. Giáo dục Đạo đức và Sư phạm Công dân để Hình thành những Công dân Năng lực, Chủ động và Có trách nhiệm (Cosenza 2011); Câu chuyện này đã Thay đổi Cuộc đời Tôi.

Ký ức về Phong trào Kháng chiến và Thế hệ Trẻ (Milan 2013); Nhân danh Con trai. Gia đình Puecher trong Phong trào Kháng chiến (Milan 2013); Người Sardinia và Phong trào Kháng chiến.

Sự đóng góp của lực lượng du kích Ardauli vào cuộc đấu tranh giải phóng (Ghilarza-Or 2014).

Nguyên tác tiếng Ý:

Per CANZONIERE DEL XXI° SECOLO: SUI DISASTRI E SULLE GUERRE

 di Van Dan Truong

        È sempre più drammaticamente evidente che l’inizio del nuovo secolo si caratterizza nel mondo come era della forza militare, dei cambiamenti di regime con la crisi delle democrazie e l’affermazione delle autocrazie, che svuotano il diritto internazionale e il ruolo delle nazioni Unite, e fanno prendere il sopravvento all’illegalità diffusa fino al ricorso alla guerra nello spirito del nazionalismo aggressivo e del suprematismo coloniale. Spiccano su tutte le politiche di Trump, di Puntin e di Netanyau, con un numero sempre più crescete di imitatori.

            I tempi tristi che l’umanità vive oggi mi spingono a consigliare la lettura e la meditazione sui contenuti del libro di Van Dan Truong, Canzoniere del XXI° secolo. Sui disastri e sulle guerre, Pace Edizioni 2025. Si tratta di un testo che unisce poesia e prosa per denunciare fortemente i disastri prodotti dalle guerre. “Le mie poesie sono scritte con l’augurio che nel mondo non ci sia più la guerra, invitando tutti con urgenza a seminare la pace, a neutralizzare i semi della violenza, dell’avidità e della paura. Perché è solo per paura e rabbia che creiamo bombe nucleari, è solo per avidità e ignoranza che produciamo armi per fomentare conflitti. La guerra nasce solo dalla nostra mente, nasce dalla paura, dalla rabbia e dal dubbio, con i quali facciamo del male a noi stessi e causiamo dolore agli altri […]. Per favore non siate pessimisti, diffondere amore perché c’è troppo dolore e sofferenza su questa terra. Le mie semplici parole potrebbero suonare come un grido nel deserto, ma rivolgo un sentito appello a coloro che hanno potere e interessi affinchè pongano fine alle guerre immediatamente” (pp. 7-8).

               Senza volerlo e dirlo esplicitamente, quello di Van Dan è un vero e proprio manifesto pacifista meritevole di prenderlo sul serio e tentare di renderlo concreto, ognuno secondo le proprie possibilità. “Vorrei solo ricordarvi che /

La vera vittoria è preservare la pace /

            Portare cibo e vestiti a tutti /

            Chiunque riesce a farlo è IMMORTALE” (p. 52).

Consapevolmente o inconsapevolmente, si tratta dell’assunzione sostanziale del messaggio evangelico: “Ho avuto fame e mi avete dato da mangiare, ho avuto sete e mi avete dato da bere, ero straniero e mi avete accolto, nudo e mi avete vestito, malato e mi avete visitato, ero in carcere e siete venuti a trovarmi” (Matteo, 25, 31-46).

                 Nello spirito di una laicità condivisa, è quanto ha sempre scritto e sostenuto Albert Einstein richiamando i messaggi di Confucio, Buddha, Gesù e Gandhi per quello che hanno fatto per l’umanità. Il grande esempio di Gandhi, per il quale è necessario “superare, con un risveglio della forza morale, il rischio dell’autodistruzione che corre l’umanità, come risultato dell’esplosivo sviluppo tecnologico. Questa minaccia è caratterizzata dalle parole spersonalizzazione, irreggimentazione, guerra totale, mentre la salvezza è caratterizzata dalle espressioni responsabilità personale, in congiunzione con la nonviolenza e al servizio degli esseri umani nel senso di Gandhi” (Andrea Cattania, La luce, il tempo, la pace. La natura e l’uomo nella visione di Albert Einstein, Milano 2025, p. 334).

                Dunque, quello di Van Dan è ascrivibile a un piccolo manifesto per la pace, da far sottoscrivere da tutti i cittadini della Terra, ma anche dalle nazioni civilizzate, in cui il ripudio della guerra (Costituzione italiana, art. 11) deve diventare una scelta politica naturale, una scelta etica condivisa, motivata dalla necessità di evitare l’escalation, nella consapevolezza che la guerra non risolve i problemi, anzi li aggrava, e che non esistono le guerre giuste perché c’è sempre una componente di responsabilità da entrambe le parti. Perciò, non ha più senso sostenere che se vuoi la pace prepara la guerra (“si vis pacem para bellum”, ma molto più semplicemente che se vuoi la pace prepara la pace (“si vis pacem para pacem”).

                 L’autore lo dice poeticamente con grande semplicità, ma molta incisività.

“Sono uno scrittore ingenuo /

Che sogna cose inimmaginabili /

 Che sogna la pace in un mondo /

 Dove la gente possa vivere in armonia e felicità. /

Mi sono improvvisamente indignato /

Nel vedere le vite messe in vendita! /

 Perché non migliorare i valori umani?”

               Quindi, è l’impegno di tutti per la salvaguardia dei diritti umani, i diritti sociali e i beni comuni, che si ottiene promuovendo nuove istituzioni globali di governo (trasformano ed esempio l’ONU in Parlamento mondiale) e istituzioni globali di garanzia (sicurezza globale, salute, alimentazione, istruzione, ambiente, prestazioni sociali, ecc.), che è quanto propone il progetto di Costituzione mondiale sostenuto dall’associazione Costituente Terra, a cominciare dalla messa al bando delle armi nucleari (art. 53).

               Scrive Van Dan Truong: “La guerra è l’occasione migliore per far emergere i demoni della rabbia, del sadismo, della violenza e della crudeltà nascosti nel cuore delle persone” (p. 77). Sta a noi promuovere i valori opposti dell’uguaglianza, della fraternità, della giustizia e della pace nel segno della speranza. È questo il terreno su cui costruire nuove istituzioni internazionali nel quadro del progetto di Federazione della Terra come prospettiva credibile per risolvere le emergenze globali e dare una nuova impronta al XXI secolo, a cui è dedicato il Canzoniere di Van Dan Truong. 

             Giuseppe Deiana

Bài Mới Nhất
Search