06/19/2015
Hoài Nam : NHỮNG CA KHÚC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT(41)- KILLING ME SOFTLY WITH HIS SONG (Nỗi Đau Dịu Dàng – Xin giết em bằng tiếng hát êm đềm), Charles Fox & Norman Gimbel

 

clip_image001

Sau loạt bài viết về một số ca khúc điển hình trong “Cuộc xâm lăng” của Anh quốc được đặt lời Việt, kỳ này chúng tôi mời độc giả trở lại với nền nhạc phổ thông ở Hoa Kỳ vào những năm đầu thập niên 1970. Trong số các ca khúc đứng No.1 trong khoảng thời gian này, được ưa chuộng nhất, phổ biến nhất phải là bản Killing Me Softly with His Song, ngày ấy được Lê Hựu Hà đặt lời Việt dưới tựa Nỗi Đau Dịu Dàng, Vũ Xuân Hùng dưới tựa Xin giết em bằng tiếng hát êm đềm.

Killing Me Softly with His Song, thường được gọi ngắn gọn là Killing Me Softly, là một ca khúc thuộc thể loại “soul jazz”, cho nên cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi người thu đĩa thành công nhất là một nữ ca sĩ Mỹ gốc Phi châu: Roberta Flack.

Trong số các nữ ca sĩ Mỹ gốc Phi châu nổi tiếng, Billie Holiday (1915 – 1959), biệt hiệu “Lady Day”, được xem là người đầu tiên hát jazz và pop theo một phong cách mới, chú trọng tới cách diễn tả nhiều hơn là nhịp điệu.

Ella Fitzgerald (1917 – 1996), biệt hiệu “Lady Ella”, thì được xem là nữ ca sĩ hát nhạc jazz hay nhất xưa nay, được phong tặng danh hiệu “First Lady of Song”, “Queen of Jazz”.

Và nếu Ella Fitzgerald là “Queen of Jazz” thì Aretha Franklin (sinh năm 1942) là “Queen of Soul”. Với 18 giải Grammy (tính cho tới nay), với vinh dự là nữ nghệ sĩ trình diễn (female performer) đầu tiên được ghi tên vào Danh dự sảnh Rock and Roll (Rock and Roll Hall of Fame) của Hoa Kỳ, được tạp chí ca nhạc Rolling Stone xếp hạng 9 trong danh sách 100 Nghệ sĩ lớn nhất của mọi thời đại (100 Greatest Artists of All Time), và hạng nhất trong danh sách 100 Ca sĩ hay nhất từ trước tới nay (100 Greatest Singers of All Time).

Video:

Aretha Franklin – I say a little prayer ( Official song ) HQ version , Photos / Photoshoots

Tuy nhiên, nếu chỉ tính những năm đầu thập niên 1970, Roberta Flack phải được xem là nữ ca sĩ Mỹ gốc Phi châu nổi tiếng nhất, thành công nhất, với hai ca khúc được xếp hạng nhất và hạng nhì (của cả năm) trong hai năm 1972, 1973.

clip_image002

Roberta Cleopatra Flack ra chào đời ngày 10 tháng 2 năm 1937 tại Black Mountain, North Carolina, và lớn lên ở Arlington, Virginia (có tài liệu ghi Roberta sinh năm 1939, tuy nhiên phối kiểm với các mốc điểm thời gian trong bước đầu sự nghiệp của Roberta, chúng tôi cho rằng năm 1937 ra vẻ hợp lý hơn). Sẵn có dòng máu âm nhạc trong huyết quản (bà mẹ Irene Flack là người đàn organ trong nhà thờ Tin Lành), năm lên 9 tuổi, Roberta Flack bắt đầu đàn dương cầm, chuyên về nhạc cổ điển. Năm 15 tuổi, Roberta được học bổng âm nhạc của Howard University, trở thành một trong những sinh viên trẻ nhất xưa nay tại đại học này.

[Howard University ở Washington, D.C., lúc đầu là một trường đại học dành cho người Mỹ da đen, nhưng càng về sau càng có nhiều người Mỹ da trắng theo học. Howard University rất nổi tiếng với các hoạt động nghiên cứu]

Một thời gian ngắn sau khi vào Howard University, Roberta Flack bỏ dương cầm để chuyển sang thanh nhạc (voice), và trở thành phụ tá ca đoàn trưởng của trường. Trong thời gian này, Roberta phụ trách sản xuất và đạo diễn vở opera “Aida” nổi tiếng của Giuseppe Verdi (1813-1901) cho sinh viên của trường và đã được hoan hô nhiệt liệt (standing ovation).

Năm 19 tuổi, sau khi tốt nghiệp đại học, Roberta Flack dự định sẽ nghiên cứu về âm nhạc để lấy bằng Cao học hoặc Tiến sĩ, nhưng đã phải bỏ mộng vì thân phụ bất thần qua đời. Để kiếm sống, trước tiên Roberta Flack tới dạy âm nhạc và Anh ngữ tại vùng Farmville, North Carolina. Sau đó, cô về Washington, D.C., dạy nhạc tại hai trường trung học Browne Junior High và Rabaut Junior High, đồng thời dạy dương cầm tại tư gia.

Ngoài công việc dạy nhạc, Roberta Flack còn đệm dương cầm cho các ca sĩ opera trong các buổi trình diễn của họ ở Tivoli Club. Trong những giờ giải lao, Roberta thường vừa đàn vừa hát những ca khúc blues, pop và dân ca trong hậu trường. Nhờ đó, cô được một số người biết tới và được mời đàn hát tại 1520 Club với tư cách “tài tử”. Dần dần, Roberta Flack đã tự tạo cho mình một phong cách trình diễn độc đáo, phong phú và mới lạ, đưa tới việc cô được mời trình diễn thường xuyên với tư cách nghệ sĩ chuyên nghiệp tại Mr. Henry’s Restaurant trên Capitol Hill vào năm 1968.

Thời gian này, Roberta Flack vẫn thiên về nhạc cổ điển, đàn dương cầm là chính, hát chỉ là phụ.

Một buổi tối nọ, trong số khách thưởng thức có Les McCann, một nhạc sĩ dương cầm gốc Phi châu nổi tiếng trong làng nhạc jazz, nhưng ông không mấy quan tâm tới tiếng đàn mà chỉ say mê giọng hát, cách hát của Roberta Flack. Sau này, trong lời giới thiệu album đầu tay của Roberta Flack, First Take, Les McCann đã viết “Trong đời tôi chưa bao giờ trải qua những xúc động như khi được nghe Roberta Flack hát!”

Ngay sau đó, Les McCann giới thiệu Roberta Flack với hãng đĩa Atlantic Records. Đầu năm 1969, album đầu tay của Roberta Flack, First Take, được phát hành nhưng không đạt thành công đáng kể, rất có thể vì cô là một tên tuổi mới lạ; bản duy nhất trong album này được lọt vào danh sách Billboard Hot 100 là “ca khúc chủ lực của album” Will You Love Me Tomorrow, đứng hạng 76.

Will You Love Me Tomorrow là một sáng tác của cặp vợ chồng ca nhạc sĩ nổi tiếng Gerry Goffin Carole King, viết năm 1960, hiện nay đang được tạp chí ca nhạc Rolling Stone xếp hạng 126 trong Danh sách 500 ca khúc hay nhất của mọi thời đại. Được thu đĩa lần đầu tiên vào năm 1960 qua nghệ thuật trình bày của ban hợp ca nữ Mỹ gốc Phi châu The Shirelles, qua năm 1961 Will You Love Me Tomorrow đã lên tới No.1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.

Video:

The Shirelles Will you still love me tomorrow (Top Quality + Lyrics)

Như vậy, với thứ hạng 76, Will You Love Me Tomorrow do Roberta Flack thu đĩa năm 1969 phải được xem là một thất bại. Nhưng hơn 2 năm sau, Roberta Flack bỗng vụt nổi tiếng – và nổi như cồn, với một ca khúc khác cũng trong album First Take, đó là bản The First Time Ever I Saw Your Face.

Nguyên vào năm 1971, nam diễn viên Clint Eastwood – người được mệnh danh là ông vua “phim cao-bồi Ý” (Spaghetti Western) – chuyển hướng, thực hiện một cuốn phim tình cảm tâm lý nghẹt thở, tựa đề Play Misty for Me, do chàng thủ vai chính và đạo diễn, trong đó có sử dụng ca khúc The First Time Ever I Saw Your Face do Roberta Flack thu đĩa, với lệ phí tác quyền rất “tượng trưng” là 2000 Mỹ kim.

Kết quả, cả cuốn phim lẫn ca khúc đều trở thành hiện tượng: Play Misty for Me, thực hiện với số vốn rất khiêm nhượng, đã trở thành một trong những cuốn phim ăn khách nhất trong năm 1972, và ca khúc The First Time Ever I Saw Your Face trở thành ca khúc số 1 của cả năm.

The First Time Ever I Saw Your Face không phải là một sáng tác mới, mà được chính khách kiêm ca sĩ kiêm nhà soạn nhạc Anh Ewan MacColl viết vào năm 1957 để tặng nhân tình là nữ ca sĩ Mỹ Peggy Seeger, người sau này trở thành đời vợ thứ hai của ông. Mặc dù lúc đó Ewan MacColl còn đang chung sống với đời vợ thứ nhất, cặp tình nhân thường song ca bài hát này trong các câu lạc bộ.

Tới năm 1962, The First Time Ever I Saw Your Face được ban tam ca The Kingston Trio thu đĩa, và tiếp theo là một số ban dân ca nổi tiếng khác, như Peter, Paul and Mary, The Brothers Four, Chad Mitchell Trio…, nhưng không được mấy người ưa chuộng, riêng tác giả Ewan MacColl thì chê thậm tệ!

Cho tới khi The First Time Ever I Saw Your Face do Roberta Flack thu đĩa được Clint Eastwood đưa vào cuốn phim Play Misty for Me!

Thực ra, chưa hẳn Clint Eastwood đã có đôi tai thưởng nhạc hơn người, mà chàng chọn phiên bản The First Time Ever I Saw Your Face do Roberta Flack thu đĩa rất có thể chỉ vì nàng hát bản này rất chậm – chậm gần gấp hai lần đĩa nguyên thủy của Peggy Seeger – cho nên thích hợp với màn ân ái trong phim. Và, như mọi người đều đồng ý, chính vì hát chậm, Roberta Flack đã thu hồn người với giọng hát và cách hát pha lẫn thánh ca (gospel), với “soul jazz” (lột tả) của mình.

The first time ever I saw your face

The first time ever I saw your face
I thought the sun rose in your eyes
And the moon and the stars were the gifts you gave
To the dark and the empty skies
The first time ever I kissed your mouth
I felt the earth move in my hands
Like the trembling heart of a captive bird
That was there at my command my love
The first time ever I lay with you
I felt your heart so close to mine
And I knew our joy would fill the Earth
And last, and last, and last till the end of time
The first time ever I saw your face
Your face
Your face

Phụ lục (1): The First Time Ever I Saw Your Face, Roberta Flack

Video:

Roberta Flack – First Time Ever I Saw Your Face 1972

Sau khi cuốn phim Play Misty for Me được trình chiếu, The First Time Ever I Saw Your Face do Roberta Flack thu đĩa đã trở thành ca khúc No.1 của cả năm 1972, với sáu tuần lễ liên tiếp đứng No.1 trong cả bảng xếp hạng Billboard Hot 100 lẫn Easy Listening.

Chính nhờ bản The First Time Ever I Saw Your Face, cô gái da đen “vô danh” Roberta Flack 35 tuổi đã một sớm một chiều nổi tiếng, được xưng tụng là nữ ca sĩ hát nhạc soul và nhạc jazz được ái mộ nhất trong những năm đầu thập niên 1970.

Tại giải âm nhạc Grammy năm 1972, đĩa hát The First Time Ever I Saw Your Face của Roberta Flack đã đoạt giải “Record of the Year”, đồng thời album First Take (trong đó có ca khúc này) đã bán được 1.9 triệu đĩa, đem lại “album vàng” đầu tiên cho cô.

Sau khi trở thành một hiện tượng qua tiếng hát của Roberta Flack, The First Time Ever I Saw Your Face đã được trên dưới 100 ca sĩ quốc tế thu đĩa, đem lại “đĩa vàng” cho Nana Mouskouri (Hy-lạp) và Céline Dion (Gia-nã-đại).

Phụ lục (2): The First Time Ever I Saw Your Face, Nana Mouskouri

Phụ lục (3): The First Time Ever I Saw Your Face, Céline Dion

Qua đầu năm 1973, khi dư âm thành công của The First Time Ever I Saw Your Face chưa kịp lắng xuống, Roberta Flack đã lại làm mưa gió với một ca khúc bất hủ khác: Killing Me Softly with His Song. Tương tự trường hợp The First Time Ever I Saw Your Face, Killing Me Softly cũng không phải là một ca khúc được viết cho Roberta Flack, và cô cũng không phải nữ ca sĩ đầu tiên thu đĩa ca khúc này, mà là nữ ca sĩ da trắng mắt xanh tóc vàng Lori Lieberman.

Giai thoại về trường hợp ra đời của Killing Me Softly còn ly kỳ hấp dẫn hơn The First Time Ever I Saw Your Face. Ly kỳ hấp dẫn bởi cả người sáng tác lẫn người trình bày đều kể lại khác nhau.

Killing Me Softly do Charles Fox viết nhạc, Norman Gimbel đặt lời.

clip_image003

Charles Fox Norman Gimbel

Charles Fox, sinh năm 1940, xuất thân là một tay đàn nhạc jazz, về sau trở thành nhà soạn nhạc cho phim ảnh và truyền hình.

Norman Gimbel, sinh năm 1927, là một nhà đặt lời hát nổi tiếng, ngoài việc đặt lời Anh cho các ca khúc ngoại quốc được ưa chuộng, như The girl from Ipanema, Summer Samba, Sway with Me…, ông còn viết lời hát cho nhạc phim, từng đoạt giải thưởng điện ảnh Oscar với ca khúc It Goes Like It Goes trong phim Norma Rea. Ông được ghi tên vào Danh dự sảnh của các nhà viết ca khúc (Songwriters Hall of Fame) năm 1984.

Lori Lieberman, sinh năm 1951, là một ca nhạc sĩ kiêm nhà sáng tác ca khúc, thường vừa hát vừa tự đệm tây ban cầm hoặc dương cầm, bắt đầu nổi tiếng từ năm 1970.

clip_image004

Theo lời kể lại của cô, trong một lần được xem và nghe nam ca sĩ Don McLean đàn hát bản Empty Chairs do chính anh sáng tác, cô đã xúc động mạnh, cảm tác một bài thơ. Bài thơ này được cô trao cho Norman Gimbel, ông lấy ý trong đó viết thành lời hát rồi đưa cho Charles Fox phổ nhạc thành ca khúc Killing Me Softly with His Song, và được cô thu đĩa cuối năm 1971.

[Don McLean, sinh năm 1945, là một ca nhạc sĩ tài hoa (và điển trai), ngoài những sáng tác nổi tiếng như American Pie, Vincent, And I Love You So, Crying…, anh còn được ái mộ qua những buổi trình diễn “live”, một mình ôm cây đàn thùng trên sân khấu. Riêng ca khúc Vincent, còn có tựa là Starry Starry Nights, Don McLean viết để tưởng nhớ danh họa người Áo Vincent van Gogh (1853-1890), vốn bị một số người cho là “điên”]

Video:

don mclean – vincent

Nhưng thì Norman Bimbel và Charles Fox kể khác.

Theo Norman Bimbel, vào thời gian mới tới kinh đô điện ảnh lập nghiệp, sống lận đận long đong, một ngày nọ, ngồi trong một quán uống rượu giải sầu, ông được nghe một tay đàn dương cầm chơi nhạc blues. Tiếng đàn như nói lên tâm trạng chán đời của chính ông, ông có cảm tưởng một người khác đang nói thay cho mình. Tiếng đàn như đang giết hồn ông. Ý tưởng “Killing Me Softly with his Song” nảy sinh từ đó.

Về phần Charles Fox thì kể lại:

“Sau khi chúng tôi sáng tác ca khúc này, nghe xong Lori Lieberman nói rằng nó khiến cô nhớ lại cảm xúc của cô khi nghe Don McLean hát”.

Tuy nhiên, tới đầu năm 1973, nhiều tài liệu cũ được khám phá cho thấy sự thật nghiêng về phía Lori Lieberman. Cuối cùng, trong một bài báo trên tờ Daily News, số ra ngày 5 tháng Tư, 1973, Norman Gimbel đã xác nhận:

“Lori Lieberman kể cho chúng tôi về cảm xúc mạnh mẽ của cô ấy khi nghe Don McLean hát. Tôi cho rằng việc này (cảm xúc của Lori) có thể trở thành một ca khúc hay, và ba người chúng tôi cùng nhau thảo luận về ca khúc sẽ viết, cũng giống như chúng đã làm khi sáng tác các ca khúc khác (cho Lori Lieberman hát)”.

Như vậy, cho dù ngày ấy Lori Lieberman không cảm tác bài thơ rồi trao cho Norman Gimbel, nguyên nhân đưa tới sự ra đời của ca khúc Killing Me Softly with His Song vẫn là cảm xúc mạnh mẽ của Lori Lieberman khi nghe Don McLean hát.

Killing Me Softly with His Song

Strumming my pain with his fingers,
Singing my life with his words,
Killing me softly with his song,
Killing me softly with his song,
Telling my whole life with his words,
Killing me softly with his song

I heard he sang a good song, I heard he had a style.
And so I came to see him to listen for a while.
And there he was this young boy, a stranger to my eyes.

Strumming my pain with his fingers,
Singing my life with his words,
Killing me softly with his song,
Killing me softly with his song,
Telling my whole life with his words,
Killing me softly with his song

I felt all flushed with fever, embarrassed by the crowd,
I felt he found my letters and read each one out loud.
I prayed that he would finish but he just kept right on.
Strumming my pain with his fingers,

Singing my life with his words,
Killing me softly with his song,
Killing me softly with his song,
Telling my whole life with his words,
Killing me softly with his song

He sang as if he knew me in all my dark despair
And then he looked right through me as if I wasn’t there.
But he just came to singing, singing clear and strong.

Strumming my pain with his fingers,
Singing my life with his words,
Killing me softly with his song,
Killing me softly with his song,
Telling my whole life with his words,
Killing me softly with his song


Video:

Lori Lieberman sings “Killing Me Softly” on Mike Douglas Show, 1973

Lori Lieberman thu đĩa Killing Me Softly vào cuối năm 1971 và phát hành trong Becoming – album đầu tay của mình vào đầu năm 1972. Ca khúc này được Lori đàn hát theo thể dân ca, cho nên đối tượng thưởng thức vì thế cũng bị giới hạn.

Ít lâu sau đó, trên một chuyến bay từ Los Angeles đi Nữu ước, Roberta Flack nghe được Killing Me Softly qua headphones từ chương trình nhạc dành cho hành khách lựa chọn (in-flight audio program).

Roberta hồi tưởng:

“Sau khi dò tìm trên danh sách ca khúc, tựa đề ca khúc ấy đã như một cái tát vào mặt tôi. Lập tức tôi lấy ra mấy tờ giấy, kẻ dòng nhạc, rồi nghe đi nghe lại 9, 10 lần, ghi lại giai điệu của ca khúc. Phi cơ vừa đáp, tôi liên lạc ngay với Quincy (nhạc trưởng da đen Quincy Jones) hỏi ông cách liên lạc với tác giả Charles Fox. Hai ngày sau, tôi đã có ca khúc này trong tay”.

Killing Me Softly được Roberta Flack trình diễn lần đầu tiên trước khán giả vào tháng 7/1972 trong một lần hát mở đầu chương trình cho buổi trình diễn của Marvin Gaye tại hí viện lộ thiên “Greek Theatre” ở Los Angeles.

[Marvin Gaye (1939-1984) là một ca nhạc sĩ da đen hàng đầu kiêm nhà viết ca khúc nổi tiếng. Ông cũng là người khởi xướng việc thành lập hãng đĩa Motown của giới nghệ sĩ da đen. Năm 1984, ông bị người cha bắn chết tại nhà vì đã bênh mẹ trong một cuộc “đại chiến” giữa hai người lớn. Trong số những ca khúc bất hủ của Marvin Gaye có I Heard It Through The Grapewine, Sexual Healing…]

Sau khi Roberta Flack hát xong những ca khúc ghi trong danh sách, Marvin Gaye yêu cầu cô hát thêm một bản nữa, cô nói “Tôi có một ca khúc còn đang tập dợt với ban nhạc có tựa là “Killing Me Softly…”, Marvin đáp “Hát đi, hát đi”.

Roberta Flack hát, và được khán giả hoan hô cuồng nhiệt. Khi cô hát xong, Marvin Gaye tiến tới đặt hai tay lên eo cô và nói “Này cưng, không được hát bản này một lần nào nữa cho tới khi cưng thu đĩa nhé!”

Killing Me Softly do Roberta Flack thu đĩa được tung ra vào tháng 1/1973 và đứng No.1 trong 5 tuần lễ trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, và trở thành ca khúc No.2 của cả năm 1973.

Tại giải Grammy năm 1973, Killing Me Softly của Roberta Flack đoạt giải “Record of the Year”, khiến cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất đoạt giải này trong 2 năm liên tục (về sau có thêm ban U2 của Anh quốc); và hai tác giả Norman Gimbel, Charles Fox đoạt giải Grammy “Song of the Year” (Ca khúc hay nhất trong năm).

Nhận xét một cách chung chung, nếu vào năm trước đó, Roberta Flack đạt thành công rực rỡ với The First Time Ever I Saw Your Face vì cô hát bản này chậm hơn, thì nay với Killing Me Softly, cô lại thành công nhờ hát nhanh hơn.

Không chỉ hát nhanh hơn mà còn chế biến. Roberta Flack hồi tưởng:

“Nhờ căn bản nhạc cổ điển mà tôi có khả năng chế biến trong khuôn khổ của dòng nhạc. Tôi đã thay đổi cấu trúc nhịp điệu và kết thúc với âm giai trưởng, trong khi bản nhạc nguyên thủy viết khác”.

Cũng nên biết, như với đa số ca khúc khác của Roberta Flack, tiếng dương cầm trong Killing Me Softly là của chính cô.

Phụ lục (4): Killing Me Softly with His Song, Roberta Flack

Video:

 Roberta Flack – Killing me softly (video/audio audio edited & remastered) HQ

Một điều đáng nói là trong khi vào năm 1973, Killing Me Softly do Roberta Flack thu đĩa chỉ đứng No.1 tại Hoa Kỳ và Gia-nã-đại, thì 23 năm sau (1996), khi được “remix” (thêm thắt âm thanh điện tử), nó không chỉ đứng No.1 tại Hoa Kỳ mà còn ở trên 20 quốc gia khác trên thế giới!

Tới năm 1999, Killing Me Softly đã được đưa vào Danh dự sảnh của giải Grammy (Grammy Hall of Fame), được tạp chí ca nhạc Rolling Stone xếp hạng 360 trong danh sách 500 ca khúc hay nhất mọi thời đại, còn tạp chí Billboard xếp hạng 82.

Killing Me Softly cũng là một trong những ca khúc hiện đại được chuyển ngữ nhiều nhất, được nhiều ca sĩ thu đĩa nhất. Tính đến nay, đã có gần một ngàn phiên bản được thu đĩa bằng trên 30 ngôn ngữ khác nhau.

Trong số những ca sĩ ngoại quốc nổi tiếng hát bằng tiếng Anh và đạt thành công rực rỡ có Đặng Lệ Quân (Teresa Teng) của Đài-loan, thu đĩa năm 1976.

Về lời hát bằng tiếng Pháp, ngay trong năm 1973 đã được Eddy Marnay đặt với tựa “Elle chantait ma vie en musique”, và được Gilbert Montagné thu đĩa. Eddy Marnay (1920-2003) là một nhà viết lời hát nổi tiếng của Pháp, trong số những ca khúc Anh, Mỹ do ông chuyển ngữ có Both Sides Now / Je n’ai rien appris và Woman in love / Une femme amoureuse.

Killing Me Softly cũng là ca khúc được rất nhiều thí sinh chọn để dự thi trong các cuộc tuyển lựa tài năng như Idol, The Voice… ở nhiều quốc gia.

Video:

 Killing Me Softly – Kim Sanders | The Voice | The Live Shows Cover

Trước năm 1975, Killing Me Softly do Roberta Flack thu đĩa đã chinh phục thính giả yêu nhạc ngoại quốc ở Sài Gòn ngay sau khi lên Top ở Hoa Kỳ. Killing Me Softly được đón nhận một cách nồng nhiệt, một phần vì ngày ấy trình độ Anh ngữ của giới trẻ miền Nam đã khá cao, một phần vì tính cách mới lạ, độc đáo, nghệ thuật trong giọng hát, cách hát của Roberta Flack cũng như phần nhạc đệm.

Killing Me Softly đã được Vũ Xuân Hùng và Lê Hựu Hà đặt lời Việt, với tựa Xin giết em bằng tiếng hát êm đềm và Nỗi đau dịu dàng, và cùng được thu băng vào đầu năm 1974.

Xin giết em bằng tiếng hát êm đềm của Vũ Xuân Hùng được ban tam ca nữ Ba Trái Táo (Apple Three) với giọng hát chính của Vy Vân, trình bày song ngữ trong băng nhạc Tình Ca Nhạc Trẻ 1. Còn Nỗi đau dịu dàng của Lê Hựu Hà thì được nhóm Thúy – Hà – Tú, với Khánh Hà hát giọng chính, trình bày cũng dưới hình thức song ngữ trong băng nhạc Nhạc Trẻ 4.

Video:

 Ban Ba Trái Táo-Apple Three Hát Killing Me Softly

Tùy cảm quan riêng, mỗi người trong chúng ta có thể thích Xin giết em bằng tiếng hát êm đềm hơn Nỗi đau dịu dàng, hoặc ngược lại. Ở đây chúng tôi chỉ xin “nói lại cho đúng” trước tình trạng lẫn lộn tác giả và tác phẩm, hầu người bạn vắn số Lê Hựu Hà (1946-2003) có thể… mỉm cười nơi chín suối!

le huu haNhạc sĩ Lê Hựu Hà

 Tình trạng ấy là từ giữa thập niên 1980, sau khi ca nhạc trong nước được “cởi trói” phần nào, và nhạc ngoại quốc lời Việt được “hồi sinh” tại hải ngoại, không ít người đã viết, nói rằng tác giả Nỗi đau dịu dàng là Vũ Xuân Hùng. Điều đáng tiếc nhất là cách đây ít lâu, nhân kỷ niệm 40 năm phát hành Killing Me Softly của Roberta Flack, một tác giả Việt Nam đã viết một bài phê bình rất công phu, rất chuyên nghiệp về ca khúc này, nhưng trong phần viết về phiên bản lời Việt, đã vấp phải sai lầm nói trên, và không hề nhắc nhở tới Lê Hựu Hà. Chúng tôi không dám nói đây là một việc đáng trách, nhưng rõ ràng thật đáng tiếc!

Càng đáng tiếc hơn nữa khi phiên bản lời Việt Nỗi đau dịu dàng ngày càng được ưa chuộng. Trong nước, Thanh Lam, một trong những giọng ca hàng đầu, đã thành công rực rỡ; tại hải ngoại, Khánh Hà, Nhật Hạ, Kiều Nga, Ngọc Hương, Lâm Thúy Vân, Thanh Hà … đều gây được tiếng vang với “ca khúc ghi sai, hoặc không hề ghi tên tác giả lời Việt” ấy.

thanh lamCa sĩ Thanh Lam

Nỗi đau dịu dàng (Lê Hựu Hà)
Bóp nát sức sống em bằng tiếng ca
Bóp nát sức sống em qua điệu nhạc
Bằng lời dịu dàng anh giết em, giết chết trái tim em
Bằng tiếng ca ru em trong u mê, và xót xa nhắm mắt với nỗi đau
Ngọt lịm dạ….
Ngồi nghe anh hát thiên tình ca
Ngỡ như đất trời giao hòa
Và tai nghe thấy một rừng âm vang khúc hát dâng đời ta
Cỏ cây muôn loại điều hân hoan
Nhưng riêng em tưởng như anh…
Bóp nát sức sống em bằng tiếng ca
Bóp nát sức sống em qua điệu nhạc
Bằng lời dịu dàng anh giết em, giết chết trái tim em
Bằng tiếng ca ru em trong u mê, và xót xa nhắm mắt với nỗi đau
Ngọt lịm dạ….
Rồi khi cơn sốt đun tình tôi
Bỗng theo cõi nhạc xa vời
Và anh lên tiếng gọi hồn em đang khóc bên con vực sâu
Hãy mau lên đường về về uyên uyến
Khi nghe thân xác nài van …..
Giờ đây ai hát thiên tình ca
Khiến tôi thêm nhiều xa lạ
Lời ca âu yếm vỗ về em nhưng vẫn thấy xa thật xa
Thiếu anh khúc nhạc thành vô duyên
Tim em vẫn còn nghe…..

Phụ lục (5): Nỗi đau dịu dàng, Nhật Hạ

Phụ lục (6): Nỗi đau dịu dàng, Ngọc Hương

Phụ lục (7): Nỗi đau dịu dàng, Thanh Lam

Phụ lục (8): Nỗi đau dịu dàng, Kiều Nga (lời Việt + Pháp)

Hoài Nam

©T.Vấn 2015