Giờ tý canh ba (II)
Xưa thật là xưa cái đồng hồ của các cụ ta là…con gà trống. Ngày không chia thành 24 mà là 12 giờ tương ứng với 12 con giáp:
Giờ tý: từ 23 giờ đêm hôm trước đến 1 giờ sáng hôm sau.
Giờ sửu: từ 1 giờ đến 3 giờ.
Giờ dần: từ 3 giờ đến 5 giờ.
Giờ mẹo: từ 5 giờ đến 7 giờ.
Giờ thìn: từ 7 giờ đến 9 giờ.
Giờ tỵ: từ 9 giờ đến 11 giờ.
Giờ ngọ: từ 11 giờ đến 13 giờ.
Giờ mùi: từ 13 giờ đến 15 giờ.
Giờ thân: từ 15 giờ đến 17 giờ.
Giờ dậu: từ 17 giờ đến 19 giờ.
Giờ tuất: từ 19 giờ đến 21 giờ.
Giờ hợi: từ 21 giờ đến 23 giờ.
Đi vặn mình xà, mặt xa chữ nải
Chữ nải: Chữ Hán Việt, cách viết có hình dáng méo mó.
Chỉ người đi đứng vặn vẹo, lại có khuôn mặt méo mó khó coi.
(Việt Chương – Thành ngữ, tục ngữ, ca dao VN)
Phụ nữ và văn chương (2)
Tuy nhiên, cùng với thời gian, người ta ghi nhận hiện tượng là càng ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào sinh hoạt văn học. Sau năm 1945, ở miền Bắc, số lượng các cây bút nữ tăng lên khá nhiều. Trong cả thảy hơn 750 hội viên chính thức của Hội Nhà Văn Việt Nam từ năm 1957 cho đến năm 1997, có hơn 70 tác giả nữ, chiếm tỉ lệ chưa tới 10% nhưng dù sao đã cao hơn trước.
Tương tự như vậy, ở miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1975, theo nhà văn Võ Phiến trong cuốn Văn học miền Nam, tổng quan, trong số khoảng 60 tác giả tương đối có tiếng tăm, các cây bút nữ chiếm tỉ lệ 17%. Mới đây, trong ba tập Văn học Miền Nam, Truyện 1, Truyện 2 và Truyện 3 do nhà Văn Nghệ xuất bản, trong số 40 tác giả được nhà văn Võ Phiến tuyển và bình, có đến 9 tác giả nữ, tỉ lệ 22%. Tỉ lệ này thật ra chưa có gì đáng kể nhưng cũng đủ làm cho dư luận miền Nam trước năm 1975 ồn ào về cái điều mà họ gọi là “âm thịnh dương suy”. Trong cuốn Văn học miền Nam, tổng quan, chính nhà văn Võ Phiến đã nhận định: “về phương diện phái tính, văn học miền Nam thời kỳ 1954-75 càng ngày càng nghiêng về nữ phái. Thời gian ủng hộ hồng quần. Thoạt đầu văn đàn nghe tiếng ồm ồm, cuối cùng nghe ra eo éo”.
(Khuyết danh)
Chữ nghĩa làng…nhậu
Đốt than nướng cá cho vàng,
Lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi.
có người còn “rộng lòng” hơn:
Khuyên anh cờ bạc thời chừa,
Rượu chè, trai gái say sưa mặc lòng.
Chữ và nghĩa 2
Tôi có hai người bạn, một không thích dùng chữ Hán-Việt, một lại rất thích thú và giỏi chữ Hán-Việt. Tôi gọi người không thích là “Anti-HV”, còn người kia là “Pro-HV”.
Pro-HV vốn là dân Đại học Văn khoa Sài Gòn trước 1975 với cử nhân Việt Hán hẳn hoi. Chính vì rành chữ Hán hơn người bình thường nên Pro-HV cứ phom phom viết những chữ Hán-Việt lạ hoắc như “thống hợp”, “ố kỵ”, “xung tranh”,… rồi tưởng ai đọc cũng hiểu như mình..
Nói của đáng tội, có được người bạn biết chữ Tàu là may cho tôi, ví như có cuốn tự điển Hán Nôm biết nói, lại biết tra cứu giùm mình, thật tiện lợi trăm bề. Chả hạn những cái tên Trung Hoa, Pro-HV có thể phiên âm chớp nhoáng. Gì chứ tôi không thể nghe vô mấy chữ phiên âm tiếng Tàu (pinyin). Nghĩ mà xem, khi trong bài viết có một đống tên Tàu mà nếu cứ để y sì chữ pinyin thì đọc lên sẽ ra thế nào? Thay vì Lưu Hiểu Ba thì là Liu Xiaobo, Mao Trạch Đông thì là Mao Tse-tung (hay Mao Zedong) , còn Lý Bạch sẽ ra Li Po (hay Li Bai), v.v. Vậy là thay vào những âm thanh mềm mại dễ thương của tiếng Hán Việt sẽ là một mớ tiếng động loảng xoảng chát chúa “tchùng, tchéng, tchỏng”, “xằng, xáo, xẻng”, “pạch, pỉn, páo”… Ôi thôi, nghe điếc cái lỗ tai!
(Ngũ Phuơng – Tản mạn chuyện chữ Hán-Việt)
3 Phố Hiến xuất hiện lúc nào?
Qua khảo cứu Les comptoirs hollandais de Pho Hien ou Pho Khach près de Hung Yen (Tonkin) au 17e sièclecông bố năm 1895, nhà địa lý học lịch sử người Pháp là Georges Dumoutier cho rằng Phố Hiến ra đời lúc doanh nhân Hà Lan đặt thương điếm tại Hưng Yên vào niên điểm 1637.

Lập luận ấy cần xét lại, bởi bia chùa Thiên Ứng tức chùa Hiếnkhắc rõ: “Phố Hiến nổi tiếng là nơi đô hội Tiểu Trường An của bốn phương”. Bia được dựng vào niên hiệu Vĩnh Tộ VII, năm 1625.
Nhiều thư tịch cổ – như Khâm định Việt sử thông giám cương mục và Đại Nam nhất thống chí đều do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn đã ghi: địa danh Phố Hiến khởi phát bởi Hiến Doanh hay Hiến Nam, cơ quan hành chính của trấn Sơn Nam.
(Nguồn: Phanxipăng)
Lụn
Lụn : hết, dùng hết
(lụn năm, lụn tháng – đèn lụn, lụn mạt)
(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)
Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền
Cơ niên:
Để tang một năm.
Từ niên cơ trở xuống dùng khăn tròn, vải trắng, không gậy.
Cháu nội để tang ông bà nội.
Con riêng của vợ để tang bố dượng nếu bố dượng có công nuôi và ở cùng, nếu không ở cùng thì không tang; trước có ở cùng sau thôi thì để tang 3 tháng.
Con để tang mẹ đẻ ra mình nhưng bị bố rẫy (xuất mẫu), hoặc cha chết, mẹ lấy chồng khác (giá mẫu).
Chồng để tang vợ cả có gậy, nếu cha mẹ còn sống thì không gậy.
Cháu để tang bác trai bác gái, chú, thím và cô ruột.
Anh chị em ruột để tang cho nhau (cùng cha khác mẹ cũng tang một năm, cùng mẹ khác cha thì tang 5 tháng).
Cha mẹ để tang con trai, con gái và con dâu cả, kể cả con đi làm con nuôi nhà người.
Chú, bác, thím cô ruột để tang cho cháu (con anh em ruột).
Ông bà nội để tang cho cháu trưởng (đích tôn).
Đích mẫu, kế mẫu, từ mẫu tang các con chồng, thứ mẫu tang con mình và con chồng như nhau đều một năm. Tang con dâu cả cũng một năm.
Con dâu để tang dì ghẻ của chồng (tức vợ lẽ cha chồng).
Rể để tang cha mẹ vợ (vợ chết đã láy vợ khác cũng vậy).
Nàng hầu để tang cha mẹ chồng, vợ cả của chồng, các con chồng cũng như con mình (các họ hàng bàng thân bên nhà chồng đều không tang).
Chữ nghĩa làng văn
Những từ có vần “ut” thường diễn tả “sự chuyển động từ không gian này đến không gian khác”. Thí dụ: Ðút, Rút, Hút, Mút, Sút, Trút, Tụt, Vút, Cút, v,v…
Nếu chúng ta chịu khó quan sát, tìm hiểu, chúng ta sẽ phát hiện những chữ tuy rất quen thuộc chúng ta sử dụng hàng ngày lại ẩn giấu những quy luật bí ẩn lạ lùng nhưng không kém phần thú vị!
(Nguyễn Hưng Quốc – Tiếng Việt dễ mà khó)
Rượu cần (2)
Miền Trung
Tại cao nguyên Trung phần, người Thượng nấu rượu cần bằng lúa, bo bo, khoai mì, đậu. Riêng người Rhade nấu rượu bằng cơm trộ với men đặc biệt Kuach Eya.

(Nguồn: Mường Giang)
Giai thoại làng văn
Một chuyện nữa giữa anh (Bùi Giáng) và tôi. Một hôm, vừa chạng vạng, trời mưa lâm râm, anh đến tìm tôi nơi nhà anh Lê Đình Duyên nơi tôi trọ đọc mấy câu thơ của Nguyên Sa:
Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ bảo là mây
Ngày mai hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng baỵ
Rồi anh hỏi tôi: “Mầy thấy hay không?”. Tôi đáp: “Kể ra thơ tình tuổi sinh viên, học sinh, như thế cũng có thể xem là hay”. Anh hỏi tiếp: “Thế, theo mầy, Truyện Kiều có hay không?”. Tôi bảo: “Hay là cái cẳng rồi”. Anh bỗng nỗi sùng, mắng tôi: “Khả năng như mầy mà dám bảo Truyện Kiều hay? Mầy phải nói “Truyện Kiều dở như …C… Truyện Kiều đáng đem chùi đít; như thế ông Nguyễn Du sẽ cười ha hả, cho rằng trên thế gian có kẻ hậu sinh hiểu ông. Mầy mà khen Truyện Kiều là mày làm nhục ông Nguyễn Du, dưới suối vàng ông không nhắm mắt được đâu”. Nói xong anh bỏ đi ngaỵ
(Đôi mẩu chuyện về Bùi Giáng – Nguyễn Thùy)
Tục ngữ Tầu
Tam nhật bất độc thư, ngữ ngôn dã vô vị
(Ba ngày không xem sách, nói năng nhạt nhẽo khó nghe)
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
4 Gió đưa cành trúc la đà…
Phất phơ ngọn trúc trăng tà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mùng khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây hồ
Lâu nay, nhiều người cho rằng rằng ấy là bài ca dao do dân chúng ở kinh thành Thăng Long – Hà Nội sáng tác và truyền khẩu tự đời nảo đời nao. Bài lục bát ấy đã được đưa vào các sưu tập “văn chương bình dân”, gồm nhiều dị bản. Sách giáo khoa trung học lẫn giáo trình đại học cũng chọn bài lục bát ấy làm khúc ca dao tiêu biểu để giảng bình. Thế nhưng bài lục bát trên vốn là một áng thơ của một nhân vật tên tuổi: Dương Khuê (1839-1902). Bài thơ chưa cổ lắm vì được chí sĩ họ Dương chấp bút khoảng cuối đời, tức đầu thế kỷ XX, với nguyên đề: Hà Nội tức cảnh.
Có người đã sửa đổi câu thơ đầu là Gió đưa cành trúc la đà làm mất đi ý nghĩa ẩn dụ của toàn câu mà chỉ có ý nghĩa tả cảnh mà thôi. Người sửa đổi câu thơ cũng là: Phạm Quỳnh (1892-1945).
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Bấy giờ là tháng 4-1918, lần đầu Phạm Quỳnh được ghé chốn thần kinh và sau đó thực hiện liền bút ký Mười ngày ở Huế để kịp đăng trên tạp chí Nam Phong. Dưới cặp lục bát “tân trang” kia, Phạm Quỳnh viết thêm: “Cả cái hồn thơ của xứ Huế như chan chứa trong hai câu ca ấy. Chùa Thiên Mụ là một chốn danh lam, có cái tháp bảy tầng, làng Thọ Xương thì ở bờ bên kia. Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa với tiếng gà gáy xa đưa văng vẳng ở giữa khoảng giời nước long lanh mà cảm đặt thành câu ca”.
Trên tiến trình folklore hóa, cặp lục bát mà Phạm Quỳnh cải biên lại được dân chúng cố đô tiếp tục phát triển. Trong cuốn Văn học dân gian Bình Trị Thiên. Bài ca được ghi nhận đầy đủ như sau:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương.
Thuyền về xuôi mái dòng Hương,
Biết đâu tâm sự đôi đường đắng cay?
(Phanxipăng – Từ một bài thơ ngắn)
Đom đóm bắt nạt ma trơi
Chỉ người tài cán không ra gì thi thố với người tài gỏi hơn mình.
(Việt Chương – Thành ngữ, tục ngữ, ca dao VN)
Người Việt phát minh ra giấy…?
Năm 2006, trên mạng lưới, trang của đài phát thanh Bắc Kinh (phần tiếng Việt) vừa tiết lộ cho biết qua sách “Bách Việt hiền chí – Lĩnh Nam di thư” là Thái Luân.
Thái Luân là một người Việt làm quan cho triều đại nhà Hán đã phát minh ra giấy viết và được gọi là “Giấy tước hầu Thái” nhưng bị người Tầu nhận là do người Tầu làm ra.
Tuy nhiên, qua bài tường thuật có nhiều chi tiết cần xem lại. Như:
– Xưa, người Tầu sống trên sông Dương Tử mới là người Tầu nguyên thủy. Còn những dân du mục sống phía dưới sông Dương tử là man di hay “Bách Việt” với cả mấy chục sắc dân khác nhau (trong đó có người Lạc Việt hay người Việt ta bây giờ).
– Bài tường thuật không sáng tỏ, gần như hiểu theo nghĩa nào cũng được với người Việt theo Lĩnh Nam di thư của sử gia Âu Đại Nhậm là Việt của Câu Tiễn hay…An Nam (Việt Nam).
(Vì ít nhất có hai học giả thời danh người Việt gần đây cho là vua Thần Nông (bên Tầu) và Lão Tử người nước Sở cạnh nước Việt (Câu Tiễn) là người…Việt Nam ta).
– Với Lĩnh Nam di thư, theo Lĩnh Nam chích quái thì Lĩnh Nam thuộc Tầu.
Không thấy nói gì đến Tây Thi, Phạm Lãi là người Việt? Quái thật!
(Trần Lam Giang – “Bách Việt hiền chí – Lĩnh Nam di thư”)
Quả nhân
Quả: lẻ loi. Nhân: người.
Tiếng tôn xưng của vua, ý tỏ sự khiêm tốn.
Quả nhân là tiếng xưng hô chỉ dùng cho vua.
Chữ nghĩa làng văn
Điên sầu có lẽ sẽ là động cơ để viết.
Viết cho giết hết mọi hoang liêu? Mới đầu hăm hở cầm bút. Trút tâm sự nhớ nước nhớ nhà vào trang giấy! Thấy đơ đỡ… buồn. Bèn viết nữa. Ngày nọ qua tháng kia. Nỗi buồn vẫn còn nguyên đó. Có thuyên giảm gì đâu. Đọc lại văn, càng thêm ngao ngán. Bởi vì văn chương không chỉ là nỗi nhớ nhà. Cái câu rất văn chương “Triết học là nỗi nhớ nhà” chẳng áp dụng được. Vì nhớ nhà trong văn chương là “nhớ nhà” khi đang ở trong nhà, trong nước. Còn ở đây là đang nhớ nhà…ở ngoài nhà, ngoài nước.
(Sống để viết – Tường Vũ Anh Thi)
Chữ nghĩa làng văn
Danh nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu
Nghĩa là từ xưa đến nay, danh nhân cũng như danh tướng, không để cho người đời thấy mình khi tóc bạc (ý nói không sống tới già).
(Bút Chì – Hiểu đúng thành ngữ, tục ngữ, điển tích)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2022
