Chữ nghĩa làng văn
Ai là ông tổ của thể loại này? Truyện kể và các hình thức trần thuật ngắn đã ra đời từ hàng thế kỷ trước dưới hình thức này hình thức khác như: truyện kể về nàng Scheherazade, Chuyện mười ngày của Boccaccio, những câu chuyện trong Kinh thánh.
Nhưng đâu là căn cứ văn bản chính xác để chúng ta có thể dựa vào đó mà khẳng định: “Đây là một truyện ngắn hiện đại”.
Nhiều ý kiến cho rằng vinh dự này phải thuộc về Walter Scott với truyện ngắn The Two Drovers đăng trên một tờ báo của Canongate (Edinburgh, Scotland) năm 1827. Đó là một điểm bắt đầu khá hợp lý, vì sau truyện ngắn này, tên tuổi của Walter Scott nổi như cồn, ảnh hưởng của ông không chỉ dừng lại ở những nhà văn trong nước như George Eliot và Thomas Hardy mà còn vươn ra ngoài biên giới, tới Balzac (Pháp), Pushkin và Turgenev (Nga), Fenimore Cooper và Hawthorne (Mỹ). Những nhà văn này tiếp tục để lại ảnh hưởng đến các cây bút về sau như Flaubert, Maupassant, Chekhov, Poe và Melville…
(Lược sử truyện ngắn – William Boyd)
Tên Bến Nghé
Bến Nghé là cái bến mà người Cao Miên trước kia kêu là Kompong Krabey, Kompong là bến và Krabey là trâu.
Bến Nghé là chi nhánh của sông Sài Gòn. Sông này gặp sông Đồng Nai ở Nhà Bè.
(Thái Văn Kiểm – Ai về Gia Định Đồng Nai thì về)
Chữ nghĩa làng văn
Lần đầu tiên khái niệm “sáng tạo” được các nhà tư tưởng cổ Hy Lạp triết luận trong những bình giảng về viết văn, theo họ viết văn trước hết như là sự bắt chước của những người đi trước, nhưng người sáng tác vẫn có quyền được…sáng tạo. Theo đó nhà văn có thể viết về cái vốn có thực và ngược lại, cũng có thể nói về cái không thể có.
Hay nói khác đi, thực sự không có…”sáng tạo”.
Giai thoại làng văn
Về khúc Tống biệt
Tống biệt là một bài “Từ” nổi tiếng của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Ông được xem như một trong những người mở đường cho thơ mới sớm nhất. Tống biệt được trích trong vở Chèo Thiên Thai do ông sáng tác năm 1922.
Nội dung vở diễn tích hai chàng thư sinh là Lưu Thần & Nguyễn Triệu đời nhà Hán, nhân Tết Đoan Ngọ (nhằm ngày 5 tháng 5 Âm lịch), vào núi Thiên Thai (nay là tỉnh Triết Giang) hái thuốc, rồi bị lạc lối về. Hai chàng bất ngờ gặp được tiên nữ, rồi kết làm vợ chồng, sống hạnh phúc được nửa năm, thì cả hai nhớ nhà, muốn về thăm. Các nàng ngăn cản không được hai chàng, vì biết ra đi là lạc lối về. Lưu, Nguyễn về làng thấy quang cảnh khác xưa, hỏi ra thì mới biết đã xa nhà đến bẩy đời. Buồn bã, trở lại Thiên Thai, thì đã không còn thấy tiên cảnh đâu nữa…Kể từ đấy, họ đi vào núi rồi mất biệt…
Ở Việt Nam ta thì có chuyện Từ Thức:
Từ Thức người Tống Sơn, nay là Hà Trung (Thanh Hóa), làm tri huyện Tiên Du (Bắc Ninh), nhân đi chơi hội đã cởi áo gấm giúp một cô gái xinh đẹp gặp tình huống éo le. Thời gian sau chàng từ quan, tìm thú vui nhàn tản. Một lần ra cửa biển Thần Phù (Ninh Bình), Từ Thức đi qua núi và thấy một chiếc động, được động chủ gả cho Giáng Hương, chính là người chàng đã cứu thuở nào. Sống với nhau được một năm, dù rất hạnh phúc, Từ Thức chợt nhớ nhà, xin được về thăm. Cảm thông nỗi niềm của chồng, Giáng Hương sắm xe và gài sẵn phong thư kín nói lời ly biệt. Khi đến quê, tất cả đều đổi thay, Từ Thức hỏi một cụ già râu tóc bạc phơ thì mới biết đó là cháu nội của mình. Chàng đã đi quá lâu. Từ Thức muốn trở lại cõi tiên với vợ, nhưng chẳng còn dịp may … trước cửa động Từ Thức, bây giờ dây leo chằng chịt đan kín.
Ở bài Tống Biệt, tác giả chỉ nói đến cảnh chia biệt đầy lưu luyến của Lưu-Nguyễn với 2 nàng tiên, hay là Từ Thức với Giáng Hương (?) để qua đó thầm gửi gắm: “Niềm thương tiếc của mình đối với cái đẹp không bao giờ có thể tìm lại được, nếu không biết giữ gìn, để qua đi mai một”.
Chữ nghĩa làng văn
(…trích lục lại)
Truyện ngắn dạng hiện đại, xuất hiện ở Tây phương thế kỷ 18.
Theo thời gian và tùy theo tác giả thì:
Washington Irving nặng về cốt truyện – Nathaniel Hawthorne nghiên về cá tính nhân vật – Edgar Allan Poe kiện toàn bằng tình tiết câu chuyện – O. Henry có lối kết thúc bất ngờ – Bret Harte với phân tích nhân vật – Joseph Conrag thì truyện đôi khi trở thành truyện không có cốt truyện.
Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền
Tiểu công:
Để tang 5 tháng.
Chắt để tang cụ. (Hoàng tang: Chít khăn vàng)
Cháu để tang anh chị em ruột của ông nội (ông bà bác, ông chú, bà thím, bà cô).
Con để tang vợ lẽ, nàng hầu của cha (nếu cha giao cho nuôi mình thì để tang 3 năm như mẹ đẻ).
Cháu để tang đường bá thúc phụ mẫu và đường cô (anh chị em con chú bác ruột của cha).
Anh chị em con chú, bác ruột để tang cho vợ của nhau.
Anh chị em chung mẹ khác cha để tang cho nhau (vợ con của anh chị em ấy thì không tang).
Chú bác ruột để tang cho cháu dâu (con dâu của anh em ruột).
Ông bà bác, ông chú, bà thím, bà cô để tang cho cháu (tức là cháu nội của anh em ruột).
Ông bà nội để tang cho vợ cháu đích tôn hoặc cháu gái xuất giá.
Cháu ngoại để tang ông bà ngoại và cậu ruột, dì ruột (anh chị em ruột của mẹ, kể cả đối với anh chị em ruột của đích mẫu, thứ mẫu, kế mẫu).
Cháu dâu để tang cô ruột của chồng.
Chị dâu, em dâu để tang anh chị em ruột của chồng và con của những người đó (tức là cháu gọi bằng bác, bằng thím).
Già hay đái tật
Đái: đái đây không có nghĩa là đi tiểu tiện mà là đeo.
Già hay mang tật, cùng nghĩa với “Già hay trái chứng”.
(Việt Chương – Thành ngữ, tục ngữ, ca dao VN)
Chữ nghĩa làng văn
Ngôn ngữ
Tôi đang nghĩ về chuyện tiếng nói. Mỗi giống người nói một thứ tiếng. Người Nhật phát lên một tiếng nói, người Việt chẳng nghe ra nghĩa lý gì; người Việt nói lên một câu, trẻ già khắp xứ Congo ngẩn ngơ. Xem tranh nghe đàn không cần đến sắc điển, thanh điển; mà xem sách thì các giống người khác nhau nhất thiết phải dùng tự điển, từ điển. Ðối với vạn vật mọi giống, người tha hồ tiếp xúc; nhưng giữa người với người, mỗi giống bị cầm giữ trong một cái ngục cô liêu của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là phương tiện của viết lách.
Hơn sáu mươi năm trước thường hay đọc lang thang, một hôm tôi gặp bài “Ðợi thơ” của Hồ Dzếnh. Lời lời hoa mỹ, xa xôi, mơ hồ, mộng ảo; tôi mê tơi, “ngâm” đi “ngâm” lại:
(…) Biển chiều vang tiếng nhân ngư
Non xanh thao thiết trời thu rượi sầu
Nhớ thương bạc nửa mái đầu
Lòng vương quán khách nghe màu tà huân (…)
Lời không hiểu mấy, ý không rõ mấy, nhưng mặc kệ: tôi thích, mê tơi. Tôi có chú ý đến mấy tiếng “non xanh thao thiết”. “Thao thiết” ám ảnh tôi. Xanh thao thiết là xanh cách nào? Không biết đích xác, nhưng tôi cho đó là một chữ tài tình, đúng với màu núi “nọ”(?) Rồi cách dăm ba năm, bảy tám năm, tình cờ gặp một tác giả nào đó cũng “xanh thao thiết”. Nhưng tôi chưa bắt gặp “thao thiết” trong một cuốn tự điển Việt ngữ nào.
Dần dần thấy ra đó không phải chuyện mới lạ, hiếm hoi. Ông Sơn Nam chẳng hạn, mở cuốn Tuổi già của ông ra đọc, thấy: “râu ria “bùm tum” (trang 22), “lật bật” tới chợ” (trang 29), mất chỗ “đùm đậu” (trang 32)…, những chữ ấy đều không tìm thấy trong bộ Việt Nam tự điển của hội Khai Trí Tiến Ðức.
Nhưng viết nhiều tiếng lạ thì nhà văn Sơn Nam không theo kịp nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Trong một cuốn Tạp văn (3) chẳng hạn, bao nhiêu tiếng mới: cằn nhằn cử nhử (trang 50), lượng sượng không biết nói chuyện gì (59), những bộ quần áo mới má thắt thẻo chắt mót từng lọn rau bó cải để sắm cho con (75), mưa bắt đầu xập xoài (76), đầu chờ vờ như con cá lóc gặp nước mặn (84), mặt trời lựng bựng lên từ phía chân trời (84), mình cùm nụm cùm nựu lũ nó (tức lũ vịt con) (107) v.v… Ối, phong phú không biết bao nhiêu mà kể.
Tôi ngạc nhiên, lấy làm nghĩ ngợi: Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư ở cuối miền đất mới trong Nam. Ðất mới thì đất đai, cây cỏ, chim muông lắm thứ mới, tập tục phải có chỗ mới mẻ, lời ăn tiếng nói địa phương nảy thêm cái mới, phải thôi…
(Võ Phiến – Viết lách)
Độc giả hay đọc giả?
Độc giả là tiếng Hán Việt với “độc” là đọc, “giả” là người.
Đọc giả là tiếng Nôm như bạn đọc, người đọc, là tiếng thuần Việt.
Tuy nhiên theo phương cách ghép tiếng, Nôm ghép theo Nôm, Hán ghép với Hán nên phải viết là…“độc”
(Bút Chì – Hiểu đúng thành ngữ, tục ngữ, điển tích)
Manh
Manh: nhỏ mọn
(mong manh, manh mún, tan manh, chiếu manh, manh áo)
(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)
Chữ nghĩa làng…nhậu: Rượu Tàu
Rượu Tàu nổi tiếng như:
Thiệu Hưng – Trạng Nguyên Hồng – Mai Quế Lộ – Bồ Đào Tửu – Cao Lương – Mễ Tửu, Ngũ Gia Bì, Mao Đài, Phần Tửu, v…v…
Mai Quế Lộ được nhiều người biết đến qua truyện Tam Quốc Trí với tích Quan Công chém rớt đầu Nhan Lương, Văn Xú.
(Nguồn: Mường Giang & Nhật Vy)
Chữ nghĩa làng văn
Từ những góc nhìn khác, có thể cho rằng, truyện ngắn hiện đại khởi đầu từ Mỹ. Một số ý kiến coi Twice-Told Tales xuất bản năm 1837 của Nathaniel Hawthorne là điểm bắt đầu.
(Lược sử truyện ngắn – William Boyd)
Truyện chớp: Love
Thằng nhỏ còn mặc quần thủng đít, chạy lon ton theo con bé mặc chiếc áo đầm xoè nhưng lại cởi truồng với đôi chân đất đang đi loạng quạng đằng trước:
– Ê ….., lớn lên tao lấy mày đó !!!
Nói rồi, nó chụp được một mảnh áo con nhỏ kéo đi xềnh xệch …
Con bé bị mất thăng bằng, ngã lăn chiên ra đất, miệng ngoác lên khóc lớn:
– Má ơi..i…i…i…..!!!!!!!!
Giai thoại làng văn
Thi sĩ Hồ Dzếnh viết, bạn đọc Nguyễn thị Huyền Nhân nghe tin bạn viết lâm bệnh, tìm đến chăm nom. Hai bên yêu nhau, lấy nhau, có với nhau được hai mụn con dại, càng khắng khít.
Ðến một lúc nọ, vì lý do chính trị, Hồ Dzếnh bị chế độ đối xử tàn nhẫn, ngược xuôi cùng cực vất vả vẫn không nuôi nổi vợ con. Con chết rồi vợ chết. Chính tay ông liệm xác vợ:
“Ðây không phải là một buổi liệm. Bởi nếu là liệm thì phải tắm rửa, thay quần áo mới. Mẹ tôi không có một mảnh vải nào cả. Ðể cho người chết đỡ tủi – người chết có tủi không? Cha tôi cởi chiếc áo cánh ướt trên người, đắp lên vợ tôi.”
(Võ Phiến – Viết lách)
Thần Nông: ông tổ của người Việt?
Thần Nông hay Viêm Đế, là một trong các vị vua Tàu đầu tiên đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa. Theo truyền thuyết phương nam thì Thần Nông là tổ tiên năm đời của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân và Âu Cơ là tổ tiên của người Việt.
Tài liệu cho rằng Hoàng Đế và Thần Nông là 1 người. Có tài liệu lại cho rằng Phục Hi, Thần Nông và Hoàng Đế là 3 người khác nhau (gọi chung là Tam Hoàng). Thực ra tất cả chỉ đều là huyền thoại, không có gì đảm bảo là họ là 3 người hay chỉ là 1 người.
Câu hỏi tại sao người Việt nhận là con cháu của Thần Nông, một trong những ông vua đầu tiên của Tàu là vấn đề được nhiều người tranh cãi. Họ dựa trên chuyện thần thoại Thần Nông là một vị thần có nguồn gốc từ Bách Việt.
Bách Việt có cả chục chủng tộc khác nhau, nhưng đối với người Việt ta bất cứ ai có tên tuổi đều là “người Việt.
Như Năm 2006, trên mạng lưới, trang của đài phát thanh Bắc Kinh (phần tiếng Việt) vừa tiết lộ cho biết qua sách “Bách Việt hiền chí – Lĩnh Nam di thư” là Thái Luân.
Thái Luân là một người Việt làm quan cho triều đại nhà Hán đã phát minh ra giấy viết và được gọi là “Giấy tước hầu Thái” nhưng bị người Tầu nhận là do người Tầu làm ra.
Hành bất dịch danh, tọa bất cải tính
Người đi không thay tên, ngồi không đổi tính,
am chỉ người chính trực, người có nghĩa khí.
(Việt Chương – Thành ngữ, tục ngữ, ca dao VN)
Tên thật của Thế Lữ.
Cho tới nay hầu như đa số nhà văn, nhà báo hải ngoại vẫn tưởng tên thật nhà văn Thế Lữ là Nguyễn Thứ Lễ và bút hiệu Thế Lữ là sự đảo lộn các chữ cái Thứ Lễ như trường hợp đảo lộn Khánh Giư thành Khái Hưng.
Tôi cũng đã lầm như vậy cho tới năm 2000.
Nhờ tiếp xúc với con trai nhà văn Thế Lữ là ông Nguyễn Đình Nghi. Tôi được xác nhận tên thật Thế Lữ là Nguyễn Đình Lễ.
(Đặng Trần Huân – Bẩy vị tinh tú)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2022
