Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 226)

Chữ và nghĩa

Kỷ nguyên, thời đại, thời kỳ, giai đoạn…

Nên dùng chữ kỷ nguyên cho một thời gian dài trong lịch sử nhân loại, đánh dấu bằng các biến cố quan trọng có ảnh hưởng lâu dài; thí dụ kỷ nguyên công nghiệp, kỷ nguyên tin học.

Thời đại nên dành cho các thời gian lịch sử lâu dài hơn, thí dụ thời đại đồ đá, thời đại đồ sắt, thời đại phong kiến.

Khi viết về lịch sử một dân tộc nên dùng những chữ thời kỳ, chẳng hạn thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh.

Những khoảng thời gian ngắn hơn dùng những từ như giai đoạn, hoặc thời, đủ rồi. Chẳng hạn thời Việt Nam Cộng Hòa, thời chiến tranh Nam Bắc.
(Nguồn: Ngô Nhân Dụng)

Lịch sử Phở (20)

Lịch sử Phở xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 ở miền Bắc và bắt nguồn từ phái nam của Hà Nội, Nam Định. Quán phở được nhiều người biết đến nằm ở làng Vân Cù và dao Cù ở khu Đồng Xuân, quận  Nam Trực, Nam Định.

Theo dân làng, phở được bày bán một thời gian khá lâu trước thời kỳ Pháp thuộc. Hiểu theo nghĩa là phở đã xuất hiện trước khi người Pháp cai trị Đo6ng Dương.

(Giai thoại phở Tầu Bay – Lê Quang Sinh)

Kinh thi Việt Nam (1)

Năm 1940, TrươngTửu , tức nhà lý luận văn học Nguyễn Bách Khoa gọi ca dao của ta là Kinh Thi Việt Nam. Đưa những chuyện trên vào quyển Kinh Thi Việt Nam, Trương Tửu không hẳn tin vào việc dân gian dùng ca dao để viết sử như ý cụ già, nhưng ông chủ ý nhấn mạnh khi nghiên cứu văn chương bình dân, việc phân tích tâm lý dân gian rất quan trọng. Đi tìm trong kho tàng ca dao chúng ta quả có thấy một số câu liên quan đến lịch sử, nhưng đồng thời những câu này phản ảnh, phản ứng của dân gian đối với những sự kiện lịch sử, chẳng hạn thái độ phản đối mang tính hài hước, châm biếm khi vua Gia Long băng hà, Minh Mạng lên ngôi muốn chấn chỉnh phong tục nên ban chiếu cấm đàn bà mặc váy:    

Tháng Sáu có chiếu vua ra

Cấm quần không đáy đôi ta ngặt ngùng

Không đi thì chợ không đông

Đi ra phải lột quần chồng mà mang

Có quần ra quán bán hàng

Không quần đứng nấp đầu làng trông quan

(Kinh thi Việt Nam hiện đại – Trần Bích San, Trần Gia Thái)

Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền

Ma trơi hay ma chơi

Tiếng Thanh Hóa gọi là “ma trơi”, Bắc bộ gọi là “ma chơi”. Chưa rõ biến âm hay xuất xứ của ngôn từ ám chỉ loại ma đó “chơi vơi”, “chơi đùa với trần thế” hay “chêu chọc cho xấu hổ”.

Nguyễn Du trong “Văn chiêu hồn thập loại chúng sinh” câu:

Lập loè ngọn lửa ma chơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Nguyễn Văn Thành trong “Văn tế trận vong tướng sĩ” có câu:

Hồn chiến sĩ biết đâu miền minh mạc,

Mịt mù gió lốc thổi dấu tha hương.

Mặt chinh nhân khôn vẽ nét gian nan,

Lập loè lửa chơi soi chừng cổ độ.

Nhiều người đã nhìn thấy ma trơi và nghe nhiều người kể chuyện ma trơi đuổi. Đó là ngọn lửa lập loè yếu nhạt, bập bùng lan toả theo chiều gió, chốc lại biến mất rồi từ chỗ cũ, chốc chốc lại lập loè ngọn lửa xanh nhạt, loáng thoáng bay lên. Theo các cụ già giải thích thì đó là oan hồn của những người chết trận, của những nắm xương vô thừa nhận không người chôn cất, vất vưởng trên bãi chiến trường, trong bãi tha ma, hoặc trên cánh đồng không mông quạnh.

Khoa học đã giải thích, chứng minh hiện tượng đó là do chất lân tinh (P) từ trong xương cốt người và xúc vật toả ra gặp ôxy trong khí trời bốc cháy thành ngọn lửa xanh nhạt, ban ngày cũng có nhưng không nhìn thấy. Tuy được khoa học giải thích rõ không phải là ma, nhưng canh khuya thanh vắng, đi một mình giữa chốn hoang vu mà bị ma chơi đuổi thì cũng thần hồn nát thần tính, có người đâm hoảng loạn mà ốm, phải cúng bái mãi mới lành, có lẽ khỏi bệnh là do tác động tâm lý.

Sở dĩ có hiện tượng tưởng là ma trơi đuổi là vì khi ta chạy đã tạo nên một luồng không khí cuốn hút ngọn lửa ấy vờn theo.

Chữ và nghĩa

Đêm qua để cửa chờ chồng,

Đêm nay để cửa chờ ông láng giềng.

Xin miễn phúng điếu (1)

Tới nhà quàn thăm người chết thấy ghi hàng chữ: Xin miễn phúng điếu. Ghi như vậy là không gọn nghĩa lắm vì trong nghĩa chữ “điếu” còn có ý nghĩa thăm viếng người chết. Không lẽ lại đi yêu cầu đừng đến thăm viếng người chết.

Trong khi chữ “phúng” là giúp cho tang gia lo việc ma chay.

4000 năm văn hiến (II)

Câu văn “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” mà Trần Trọng Kim, trong Việt Nam Sử Lược dịch là: “Như nước Việt ta từ trước vốn xưng văn hiến đã lậu.  Câu này nằm ngay trong phần đầu của bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Các sách cổ của người Việt được soạn thảo trước đó như Việt Điện U Linh Tập , Lĩnh Nam Chích Quái , Nam Chí Lược,Việt Sử Lược… để xem hai chữ văn hiến có được dùng để chỉ dân tộc ta và đất nước ta hay không? Câu trả lời có thể nói là không.

Nhưng sách do chính Nguyễn Trãi biên soạn đã giúp chúng ta tìm được câu trả lời. Cuốn được dùng ở đây là Dư Địa Chí nói về việc từ đời Trần cấm người nước ta không được học theo các tiếng nói  và phục sức của các nước Ngô để làm loạn phong tục ở trong nước. Đại khái là từ sau khi quân Nguyên vào chiếm Trung Quốc, thiên hạ biến theo cách nói năng, ăn mặc của rợ Hồ, chỉ riêng có Đại Việt là không thay đổi mà thôi. Tới khi vua Thái Tổ nhà Minh lên ngôi, Dịch Tế Dân được phái sang thông hiếu với nước ta, vua , vua Trần Dụ Tông nhà Trần sai Doãn Thuấn Thuần (1) sang sứ nhà Minh đáp lễ. Vua nhà Minh trong khi ủy lạo sứ thần nước ta đã khen phong tục, y phục của dân ta vẫn giữ nguyên văn minh Trung Hoa từ thời nhà Chu và nhà Tống, nhân đó ngự ban cho mấy câu thơ như sau:   

An Nam tế hữu Trần
Phong tục bất Nguyên nhân
Y quan Chu chế độ
Lễ nhạc Tống quần thần
(An Nam có họ Trần
phong tục không theo Nguyên
áo mũ vẫn theo chế độ nhà Chu
lễ nhạc vẫn hệt như vua tôi nhà Tống)

Sau đó vua nhà Minh còn tặng bốn chữ Văn hiến chi bang và thăng địa vị cho sứ thần Đại Việt lên trên sứ thần Triều Tiên ba cấp. Đồng thời khi sứ thần (1) ta ra về, vua nhà Minh lại sai Ngưu Lượng mang sắc và ấn vàng sang phong thưởng cho vua ta.   

Những dữ kiện kể trên cho ta thấy rõ nguồn gốc của hai 4 chữ “Văn hiến chi bang” (2) (3) mà Nguyễn Trãi đã dùng trong Bình Ngô Đại Cáo. Nó không phải là tự người Việt đặt ra cho mình để tự tôn xưng mình mà là do vua nhà Minh tặng.

 (1) Theo dương lịch, năm trao đổi sứ thần Doãn Thuấn Thuần kể trên là năm 1368, trùng hợp với những gì được ghi trong Minh sử và trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.

(2) Văn hiến hiểu theo nghĩa là văn minh, văn hóa, phong tục, tập quán nói riêng và dân tộc tính nói chung từ đời Trần, đời vua Trần Dụ Tông.

(3) Nguyễn Trãi chỉ nói Văn hiến chi bang mà không xác định con số “4000 năm” là cách tính theo Ngỗ Sĩ Liên (1479) ngược về thời gian của tổ tiên những người đẻ trứng ra con

(nguồn Tạ Chí Đại Trường)

(Sử gia Phạm Cao Dương – Ai gọi Việt Nam là nước văn hiến?)

Chữ và nghĩa

Có lòng thì tạ ơn lòng
Anh đừng đến nữa mà chồng em ghen.

Lịch sử Phở (21)

Phở từ Nam Định lên Hà Nội, lúc đầu phở được rao bán là phở gánh vào lúc hừng sáng đến trời tối trên đường phố. Họ dùng đòn gánh đặt lên vai và quẩy hai đầu là no6`I nước súp đặt trên bếp lửa đốt bằng củi: Đầu kia chứa những thứ như thịt, bún phở, gia vị, tiêu hành, nước mắm, rau ngò và…chỗ để nấu một tô phở.

Sau mới tới phở xe, phở tiệm, quán phở…

(Giai thoại phở Tầu Bay – Lê Quang Sinh)

Rượu ngoại…ngoại truyện (4)

Tên các lò rượu ở Pháp kỵ chữ “A” ở đầu.

Chủ hàng rượu gốc gác thường là thủy thủ hay thuyền trưởng.

Tên mỗi loại rượu đều có ông vua làm…bùa hộ mạng.

Nhơn

Nhơn: hơi hơi

(trời nhơn nhơn lạnh)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Rượu trong văn học (11)

Cũng là say ta thấy trong Mê Hồn Ca của Đinh Hùng có một âm điệu quyến rũ lạ lùng:
“Ta bắt em cười, nói, bắt em say,
“Ta đòi lấy mảnh linh hồn bỡ ngỡ.
“Ôi! ly rượu em dâng toàn huyết đỏ,
“Ta uống cùng dòng lệ chảy đêm xưa

(Ác mộng)

“Ôi gác ca lâu, rèm buông, lửa đỏ!
“Ôi mộng xuân lả lướt những đêm tình!
“Cốc rượu hồng, hy vọng sáng rung rinh,
“Mùi son phấn khác gì hương trinh bạch?

(Hương trinh bạch)

(Khuyết danh – Tết nói chuyện rượu)

Văn hóa ẩm thực (4)

Một tiếng thơ… ăn vừa đánh, chỉ ít lâu sau đã vang tiếng khác:

“Trong các món ăn “quân tử vị” 
Phở là quà đáng quí trên đời 
Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi 
Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ 
(…) 
Sống trên đời, phở không ăn cũng dại 
Lúc buông tay ắt phải cúng kem 
Ai ơi, nếm thử kẻo thèm.”

Ấy là thơ “Phở Đức Tụng” của Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu!

(Người Việt viết về ăn – Thu Tứ)

Chữ và nghĩa (2)

Cái chén chữ Hán là trản. Chữ Hán phân biệt 2 loại trản :

– Trản (bộ Mãnh) là chén nhỏ bằng sành, sứ hay đất nung.

– Trản (bộ Ngọc) là chén bằng ngọc.

Thông thường thì chén nhỏ hơn bátChén dùng để uống trà, uống rượu. Nhưng cũng có nơi quen gọi cái bát ăn cơm là cái chén. Có người dùng bát uống rượu thay chén.

Cái chén được văn thơ dùng rất nhiều. Thơ nôm của Nguyễn Trãi có 9 bài có chén rượu. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có 9 bài có cái chén. Truyện Kiều của Nguyễn Du đếm được 24 cái chén. Đủ loại chén dùng theo nghĩa đen, nghĩa văn chương bóng bảy (1).

Cái bát, cái chén do chữ Phạn, chữ Hán mà ra, người Việt quen dùng từ lâu đời. Sang thế kỉ XX, cái chén còn chiếm địa vị quan trọng trong văn học. Vũ Đình Long sáng tác vở kịch Chén thuốc độc (1921). Nguyễn Tuân viết Chén trà trong sương sớm (1940) v.v. Nhưng cái chén bắt đầu bị cái ly, cái cốc cạnh tranh.

(Nâng chén, cụng ly, chạm cốc và đụng lon – Nguyễn Dư)

Xe thổ mộ

Tên xe có ngựa kéo, có hai nguồn nhưng không chính xác lắm:

Một là người Hoa đọc là “thụ mã”, ta đọc trại đi là “thổ mộ”.

Hai là có nguồn cho rằng vì mui xe ngựa được đóng khum khum như cái gò mối đất, bèn gọi là thổ mộ.

(Nghề “xà ích” ngày xưa – K’sim)

Văn học Nam Hà (2)

Văn học miền đất từ Thuận Hóa đến Hà Tiên thời gian từ khi Nguyễn Hoàng thật sự rời đất Bắc năm 1600) đến lúc Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802. Lúc đó vùng đất thuộc chúa Nguyễn được gọi bằng danh từ “Xứ Đàng Trong” hoặc“Nam Hà”; trong khoảng thời gian có xuất hiện nhà Tây Sơn, ta còn thấy nhắc đến tiếng “Quảng Nam quốc” .

Nếu như đặc trưng văn học Nam hà với Đoàn Thị Điểm, Lê Hữu Trác, Hồ Xuân Hương, Ôn Như Hầu…thi lịch sử tạo dựng miền Nam có thể tóm lược bằng những niên đại sau:

– Năm 1679 người Trung Hoa không thần phục nhà Mãn Thanh là Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình chạy sang Việt Nam được Chúa Hiền cho khai khẩn Đông Phố (Gia Định), Lộc Dã (Biên Hoà), Mỹ Tho (Định Tường).

– Năm 1698 nhà Nguyễn làm chủ mấy tỉnh miền Đông khi Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Kính lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long, Saigon làm huyện Tân Bình, đặt dinh Trấn Biên (Biên Hoà), dinh Phan Trấn (Gia Định) đem lưu dân vào lập nghiệp.

– Năm 1708 Mạc Cửu đem đất Hà Tiên đặt dưới quyền bảo trợ của Chúa Minh Vương.

Từ đó đất Nam Kỳ lục tỉnh thuộc về chúa Nguyễn.

(Nguyễn Văn Sâm – Văn học xứ Đàng trong)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

©T.Vấn 2022

Bài Mới Nhất
Search