Phan: BÚN ỐC LẠ

Một Gánh Bún Ốc ở Hà Nội (Ảnh: www.ivivu.com)

.

Nghe nói ngoài Hà Nội bán bún ốc rất ngon, nhưng những lần ngang qua Hà Nội đều không tiện ghé ăn cho biết với cái xe vận tải to lớn, hay thời tiết không thích hợp vì trời mưa gió, lúc nửa đêm, ghé lại ăn tô bún mà ngoài xe bị rọc bạt phủ, trộm cắp hàng hoá thì rất phiền. Hôm qua Hà Nội ban ngày lại kẹt xe vì đường nhỏ lại cũ kỹ, người lái xe ở Hà Nội cũng nghĩ sao lái vậy như bên Cao Miên nên người lái xe lớn thường cố gắng đi qua Hà Nội càng nhanh càng tốt cho khoẻ. Thời bao cấp xưa, đi ngang qua Hà Nội không gì ấn tượng hơn câu thơ của Trần Dần, “tôi đi giữa phố phường/ chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ.” Một Hà Nội cũ kỹ, dơ bẩn và ảm đạm. Con người trên phố cũng không vui, ai cũng xùm xụp cái nón cối trên đầu, chả mấy ai cười nổi với thời tem phiếu thì có cơ hội ăn tô bún ốc chắc cũng không ngon nổi với quá nhiều thương phế binh lang thang kiếm sống, phế đầu bạc là phế chiến tranh trước ’75, phế đầu đen là phế chiến tranh với Trung cộng 1979. Họ phối hợp đói nghèo vì bị bỏ rơi hai thế hệ, làm nên toàn những chuyện không hay trên phố. Cuối cùng là không biết tô bún ốc ngoài Hà Nội ngon cỡ nào so với bún ốc trong Nam, bún ốc Sài Gòn mang tên hiệu các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Bún riêu Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, Sa Đéc. Bánh canh Trảng Bàng bên cạnh quá bánh xèo Cao Lãnh mới cành hông thực khách thương món chân quê.

   Rồi theo thời gian lại nghe đến vài lần những người bạn trong Nam có dịp ra Bắc, ai cũng khen không biết ngoài Bắc có thủ thuật hay tự thân con heo ngoài ấy ngon nên món lòng heo ngoài Bắc ăn ngon hơn trong Nam mình. Tôi cũng chưa có dịp thử ăn cháo lòng ngoài Bắc vì đặt chân ra Bắc là cảm giác muốn rời đi đã no hơi. So với sang Campuchia, cảnh vật hoang tàn đổ nát sau chiến tranh, người dân đói nghèo, rách rưới hơn cả ở Hà nội, nhưng trên những gương mặt thất sắc lạc thần ấy không có cái thù hận người qua đường như ở Hà Nội. Người Hà Nội như trong lòng ai cũng có một cơn bão đã hình thành, chả biết lúc nào họ cuồng nộ, họ nhìn người Sài Gòn với ánh mắt mang hình viên đạn là chính xác.

   Thôi thì hiểu biết để đó, có dịp ăn thử mới biết ngon đến đâu, khác lạ gì trong Nam? Nhưng dịp may đã tàn theo năm tháng xa quê, Sài Gòn còn không về thì có lẽ kiếp sau mới về tới Hà Nội nên trong ký ức người xa quê, gánh bún riêu bán rong trong xóm của dì Năm, dì Mười là ngon nhất rồi. Lớn lên trên mảnh đất Sài Gòn thời đi học thì gánh bún riêu ở chợ Bàn Cờ là ngon tới cây me già cũng phải cúi tàn che nắng che mưa cho người bán thức ăn đường phố, ngon đơn giản như tuổi rong chơi nhiều hơn đi học, tuổi ăn hoài không no thì làm gì có chuyện ngán. Đến thời cặp kè thì đi ăn bún riêu hai đứa những chiều mưa trùm poncho chung trên chiếc xe đạp, hôm có tiền đổ xăng thì đi xe gắn máy, đưa nhau đến đường Bà Hạt quận 10, có quán bún riêu của một gia đình người Bắc di cư nọ, họ bán tại nhà. Cũng là một chữ nói hết phẩm chất của tô bún riêu nơi đây là ngon, hương vị ngọt ngào như tình yêu mới lớn. Không ngon sao sau khi ra trường, có dịp về Sài Gòn lại rủ nhau trở về đường Bà Hạt ăn bún riêu. Ngon tới không ngờ là sau khi đã về chung một nhà, ngủ chung một giường, chiều Sài Gòn mưa thưa lướt nắng những hôm rảnh rỗi, hai vợ chồng chở con đi ăn bún riêu Bà Hạt. Thời đi ăn không phải coi lại túi tiền trước khi vào quán ở Sài Gòn thì những hôm mưa chiều kỷ niệm cũng tìm về Bà Hạt ăn tô bún riêu. Bà hàng bún đã già thì đến lượt con gái bà đứng quán cho mẹ nghỉ ngơi. Rồi những đêm buồn viễn xứ nhớ về Sài Gòn, hương vị tô bún riêu Bà Hạt vẫn như ngày nào gắp bỏ cho nhau mà nên duyên vợ chồng. Nghĩ đến cái ơn chưa đền thì chắc bà cụ bún riêu ở Bà Hạt đã ra người thiên cổ.

   Thực phẩm là cái ăn hằng ngày nên bận rộn đời sống đôi khi không nghĩ tới nhưng nghĩ lại tô bún riêu đã gắn bó gần suốt một đời người. Trong ký ức bún riêu song hành với bún ốc như anh em sinh đôi, người Tàu có mì hoành thánh là cặp song sinh hoàn mỹ nhưng ai muốn ăn mì không ăn hoành thánh cũng được hay ngược lại. Tô mì bỏ thêm mấy viên hoành thánh thì gọi là mì hoành thánh, ăn rất hợp khẩu và ngon. Người Việt có tô bún riêu bình dân giá rẻ, ai muốn ăn thêm vài con ốc luộc bỏ vô tô thì tính tiền thêm, nhưng tên gọi tô bún đã là bún ốc. Tôi có ký ức, mang trí nhớ đã gần trọn đời cho tới hôm một người Bắc di cư dù khi gia đình anh đi Nam, anh còn được cõng trên lưng cha anh vì mới mấy tuổi. Anh không gạt tôi vì anh là người ít nói, trầm tính và uy tín. Anh nghe mấy người bạn làm chung đang nói chuyện về bún riêu bún ốc dưới quê tôi gần biên giới Việt-Miên nên có vị Miên trong tô bún là vị mắm bù hóc, còn bún riêu bún ốc ở quê anh ngoài Huế nên có vị mắm ruốc Huế. Mọi người tóm cổ một người, “thôi đi mấy cha nội, trời mưa bong bóng bập bồng, riêu đi lấy chồng ốc ở với ai? Trời ảnh hưởng bão se se lạnh. hết chuyện nói rồi sao mà cứ bún riêu với bún ốc, thèm chết tôi luôn.” Cái thằng đó hiểu bún riêu bún ốc nhất, nói đúng nhất. “Trời này nghĩ tới tô bún riêu bún ốc đã thèm chảy nước miếng, còn cứ ở đó mà nói hoài cho thèm hơn. Mắm ruốc Huế hay mắm tôm Bắc, mắm bù hóc Khờ Me hay khờ căm cũng được, không có thì bỏ mắm bù lon vô tôi cũng ăn luôn, ai cho tôi tô bún riêu bún ốc giờ này thì tôi gọi là cha, là ông nội tôi cũng được.” Mọi người cười tôi nhưng ai hiểu tôi đây? Anh bạn Bắc di cư nói ở trên thì thầm với tôi, “có lẽ anh là người duy nhất tin tôi nói trong mọi người từ Bắc vô Nam cứ bỏ vài con ốc luộc vào tô bún riêu thì gọi là bún ốc. Anh cũng gốc Bắc nên anh có tin tôi nói: bún ốc hoàn toàn khác bún riêu!”

   Tôi vừa coi trọng anh, vừa nghi ngờ anh đểu. biết nói gì đây? Thôi cứ thăm dò,

   “Anh là Bắc di cư chánh hiệu tàu há mồm, còn tôi là Bắc di cư lai vì sinh đẻ trong Nam. Nhưng bún riêu bỏ thêm vài con ốc thì gọi là bún ốc đã thống nhất từ Bắc vô Nam rồi cha nội! Đừng có cà khịa với tôi.”

   “Tôi không đùa với anh, tôi không nói ra với anh nhưng tôi đọc anh thường. Tôi biết anh có am hiểu về ẩm thực Việt Nam mình, hơn một chút là không hoàn toàn sách vở mà anh biết nấu ăn. Tôi chỉ hơi…”

   “Thất vọng.”

   “Không đến nỗi đâu, chỉ tiếc là tôi không biết nấu ăn. Hôm đọc bài anh lý luận về luật nhân quả, về duyên phận trong kiếp người. tôi thích lắm vì anh diễn giải hóm hỉnh lại nhẹ nhàng hơn đọc sách đạo, đọc sách triết phương đông, phương tây như người bị tung hoả mù, chả biết đâu là thật đâu là giả. Nhưng đọc bài viết ấy của anh, tôi ngẫm nghĩ lại mình. Từ nhỏ có mẹ nấu cho ăn, lớn lên có vợ nấu cho ăn. Ngoài hai người đàn bà thương người đàn ông nhất ấy đã rời xa tôi nên từ đó tôi ăn trứng luộc, trứng chiên. Chưa bao giờ tôi tự kho cho mình miếng thịt hay con cá sau khi vợ tôi đột ngột qua đời vì bệnh tim mạch. Con gái đã có gia đình nên nó cũng đầu tắt mặt tối với chồng con nó. Thỉnh thoảng thương nhớ bố chứ chẳng phải không, nó kho cho tôi nồi thịt kho trứng hay nồi cá kho khô quẹo lại như bà nội kho, như mẹ nó kho. Hương vị cũng đậm đà vì nó cũng từng ăn qua khi còn mẹ còn bà. Nhưng tôi thấy lạt, không phải lạt mắm muối, nó lạt tình lạt nghĩa gì đó! Mẹ tôi như nêm tình mẹ thương con trong thức ăn hằng ngày, vợ tôi như nêm tình nghĩa vợ chồng vào miếng thịt miếng cá nên ăn nó khác con tôi nêm lòng hiếu thảo với bố. Hỏi có ngon không thì ngon, nhưng thích không thì không. Tôi không muốn con tôi buồn nên nó cho thì lấy, thức ăn không được đổ bỏ nên ăn tới hết chứ thật lòng không thích. Tôi cứ nói mình, hôm nào nấu tô bún ốc cúng mẹ, cúng vợ, nhưng ra chợ rồi lại bỏ về vì thiếu tự tin. Hôm tôi đọc bài viết hóm hỉnh của anh về nhân duyên trong trời đất. Tôi nhìn lại mình có phước được mẹ thương vợ cưng, nhưng hai người quan trọng nhất đời tôi đã đi xa theo vòng luân hồi, sinh lão bệnh tử không ai thoát được. Tôi bớt buồn nhưng cũng từ đó chả thấy còn gì ngon trên đời. Rất tiếc.”

   “Thôi được rồi, bây giờ anh cứ tả cái món bún ốc khác hẳn bún riêu mà mẹ anh đã nấu, truyền dạy cho vợ anh. rồi thất truyền vì con gái anh không nấu món ấy. Điều tôi quan tâm là chắc không ngon nên con gái anh không đưa vào sổ tay nội trợ của cô ta.”

   “Anh thật là…”

   “Tôi đã nói anh tôi gốc Bắc nhưng sinh trong Nam, không khéo nói như anh đâu. Tôi Nam bộ tính nên nói thẳng ruột ngựa, rào trước đón sau theo lối nói chuyện của người Bắc anh, tôi mệt lắm. Anh ngại phiền con gái chứ cô ấy biết nấu đó ví ít nhiều cô ấy đã từng ăn. Bây giờ anh cứ nhớ và nói về món bún ốc khắc hẳn bún riêu bún ốc thường tình cho tôi nghe xem tôi có từng biết qua chưa? Tàu lạ tôi còn biết phát ngôn nhân của đảng không dám nói là tàu của ai xâm phạm lãnh hải Việt Nam thì bún ốc lạ chắc cũng không khó.”

   “Là nước dùng nóng, chỉ có ốc trong nồi. Chan vào tô bánh sợi dẹp như hủ tiếu tàu nhưng không phải bánh hủ tiếu. Nếu có ít rau thì là bỏ lên mặt tô thì thơm nước, ngon ốc hơn.”

   “Vậy thôi à?”

   “Vậy thôi. Bánh mẹ tôi làm nên tôi cũng không biết làm từ bột gì, sau này vợ tôi làm cũng như mẹ. Tôi chỉ biết ăn.”

   “Ca này khó nha, nhưng tôi nhớ ra rồi! Lần đó tôi đến Phủ lý đang đêm, tới sáng trời khá lạnh, trời sương mù sau đêm sương thu lạnh teo cu ba thằng ngủ trên xe tải. Hai người bạn tôi còn ngủ, tôi quen dậy sớm nên mò xuống Phủ lý mà cứ tưởng là phủ âm -âm phủ trong trời mờ hơi sương như nước vo gạo, gió thu đã về héo hắt lá cây bàng. mẹ bố tiên sư cái xứ lạnh hơn thời tiết là mặt người, người ta mặt lạnh như tiền nhìn tôi như quái vật, tôi thì chẳng hiểu mình đã lạc vào xứ quái vật nào đây. Bước vào quán cà phê định uống cà phê sáng cho ấm bụng nhưng không khí ngột ngạt quá, u ám và thù địch trên những mặt người không hiểu tiếng Việt hờ hững nhìn tôi. Tôi tiếc lời chào buổi sáng với mọi người, ‘Chào các bác buổi sáng, em mới từ Sài Gòn ra giao hàng. Xin các bác ly cà phê cho ấm bụng trời lạnh.’ Nhưng tôi không uống cà phê, về lại xe đợi hai thằng bạn. Ba thằng ra quán an tâm hơn một mình nên nói cô chủ tôi về xe gọi bạn ra uống cà phê luôn.

   Tôi thấy bà bán gánh mới dọn hàng, một bên đầu gánh có bếp củi bập bùng, trên có nồi nước lèo mà anh gọi là nước dùng, nước lùng bùng sôi không nổi vì củi ướt cho toàn khói. Tôi hỏi,     

   “Bác bán gì thế?”

   Bà bán trả lời, “Riêu. Anh ăn bát riêu?”

   “Được. Xin bác một bát.”

   Tôi đến xem chi tiết nồi nước dùng chỉ lêu bêu vài ba con ốc trồi lên lặn xuống như những oan hồn dưới địa ngục trong vạc dầu sôi. Tôi chả thấy riêu đâu nên hỏi, bà bán trả lời như chửi tôi ngu.

    “Giời này làm gì có cua có cáy mà có riêu?”

   “ Thế sao bác bảo là riêu?”

   “Không có riêu thì có ốc.”

   “Thế thì bảo là bún ốc chứ sao nói là riêu?”

   “Cái anh này trôi sông lạc chợ từ đâu đến, có riêu hay không, có ốc hay thì vẫn là riêu. Có sợi bún nào đâu mà gọi là bún?”

   “Thế cái rổ bánh này là bánh gì hở bác?”

   “Từ cổ chí kim, tôi chưa nghe ai hỏi bánh đa là bánh gì?”

   “À. bánh đa ăn với nước dùng, ra Bắc không khùng cũng bị điên điên. Bác cứ cho tôi xin một bát, ăn cho biết!”

   “Anh chưa ăn bao giờ à?”

   “Dạ đúng, vì trong Nam mà bán món này thì người ta kêu lính bắt.”

   “Trong ấy khó thế à! Ở đây quê mùa, có cáy đồng nấu cáy đồng nên gọi là riêu. Ngày mưa tháng nắng thế mà có, giời hanh tháng mười chỉ có gió bấc về, mò cua bắt cáy không ra con nào, chỉ được vài con ốc thì nấu ốc, nhưng quen gọi là riêu nên gọi là riêu. Có bún bao giờ ở đây đâu mà gọi là bún riêu nên ăn với bánh đa.”

   “Bác ạ, sao bánh đa mà không có hạt mè?”

   “Bánh đa có hạt mè bao giờ?”

   “Ơ, cái bác này, dưới đất nẻ chui lên à? Bánh đa không có hạt mè thì sao gọi là bánh đa?”

   “Ấy nà. nà bánh đa trên Hà Nội, ăn với tiết canh, thịt chó mới có hạt mè, là cao cấp rồi. Ở đây Phủ ný anh ơi!”

   Bà bán cho tôi tô bún ốc lạt như nước ốc, đục như nước vo gạo, nhúm sợi bánh đa không mè đã ngâm qua nước lạnh nên vào nước nóng nó rã ra thảm hại, vài cọng rau muống luộc thiếu lửa nên nó thâm như môi thằng đánh giậm. Tôi nói câu ấy được bà khen: cũng con nhà người Bắc đấy à, sao nói tiếng trong Nam? Rồi thì bà bán trụi lủi chân mày lông mi nên không hành ngò gì hết, chanh ớt cũng không, hũ mắm tôm chỉ thiếu mấy con dòi là phù hợp, nhưng cứ ép bỏ vào ăn mới ngon. À quên, vài con ốc bưu đen trong tô thì lại ngon, ốc đồng mới bắt nên giòn ngọt, chỉ có thế. Có phải là món bún ốc khác hẳn bún riêu bún ốc anh nói không?”

   “Chính xác. Ấy, tôi nghĩ là anh biết mà.”

   “Vậy món bún ốc lạ của anh là bún ốc địa phương, vùng miền thôi, không có tính toàn quốc. Bún ốc được cả nước công nhận là bún riêu thêm vài con ốc bưu, quán sang hơn thì thêm vài con ốc hương nhưng mắc tiền hơn. Anh bằng lòng không?”

   “Anh nói thì tôi chịu. Nhưng tôi ăn bún ốc như thế từ bé mẹ tôi nấu, rồi vợ tôi nấu, hương vị chẳng lẫn vào đâu được nên bây giờ ra quán ăn tôi bún ốc vàng cam dầu mỡ, cà chua đỏ tô, thịt không là thịt, đậu phụ chiên, chả lụa chả quế. rau xà lách với giá sống, rau thơm, chanh ớt, mắm tôm. tôi chả biết là tôi ăn tô gì?”

   “Thôi được rồi, anh không biết nấu ăn thì hôm tôi nấu cho anh ăn. Tôi chưa bao giờ ăn một tô thuộc dạng bún riêu bún ốc dở như ở Phủ Lý, nhưng kỷ niệm trong tôi lại nhiều vì tôi có hai người anh song sinh ở Phủ Lý, trên đường bố mẹ tôi trốn đi Nam. Tôi sẽ kể chuyện này cho hai anh tôi nghe nơi hai anh ra đời là địa linh nhân kiệt vì hai người anh tôi đều giỏi xuất sắc trong nhà, hơn hẳn anh em sinh ở Hà Nội hay Sài Gòn. Kỷ niệm sâu sắc hơn là ăn xong, tôi đưa cho bà bán tờ tiền lớn lúc bấy giờ, bảo bà giữ lấy, không cần phải thối tiền lại cho tôi. Đôi mắt bà đẹp lắm với ghèn chưa rửa mặt nhưng sáng hơn đèn xe Kamaz chúng tôi lái. Lời bà khắc trong tim tôi đến bây giờ, tôi quay đi không có lời cảm ơn vì hơn lời cảm ơn bình thường, bà nói theo chân tôi, bả tiễn tôi lần cuối dù mới đến lần đầu vì không bao giờ trở lại, anh biết bà nói gì với tôi, về tôi không: tiên sư bọn Mỹ Ngụy.”

   Tôi biết mình không phải với quê cha khi thiếu thiện cảm với đất Bắc, nhưng như tôi đã thật lòng nói ra, vô địa phận Hà Nội là no hơi, không muốn ăn gì, chỉ muốn đi ngay ra khỏi nơi chật hẹp và u ám, con người không thân thiện. Rồi xa quê đã xa mù, tuổi già gõ cửa những canh thâu khó ngủ, dậy bật ti vi xem lại phố phường xưa. nhiều thay đổi lắm rồi trên cả nước nhưng mâm cơm quê dân dã ở miền Nam trên màn hình tivi vẫn cho tôi thoả mãn cơn thèm được ngồi xuống chiếu đệm nâng ly rượu đế với anh em hệch hạc, làm cái ót một chung nước mắt quê hương rồi đưa cay con mắm linh ăn sống nuốt tươi cuộn với miếng thịt ba chỉ luộc, xà lách dưa leo, rau thơm, bún, cắn trái ớt giòn, thơm, cay bỏ mạng nhưng vẫn nhai nuốt hết đất trời phương Nam rộng mở, lòng người bao dung, hào sảng ngút trời.

    Những đêm khuya vò võ một mình ngồi xem ba mươi sáu phố phường lãng mạn trong sách cũ, nay đèn LED đã lập loè xanh đỏ, váy ngắn chân dài loài sống về đêm nhan nhản như những thành phố khác trên địa cầu, nhưng Hà Nội không bao giờ thoát được cái dơ bẩn đã thành văn hoá. Thành phố dơ bẩn, hàng quán dơ bẩn, mặt người vô cảm ở Hà Nội nhiều nhất địa cầu, bất kể người giàu hay nghèo đều giống nhau ở sự vô cảm đi bên đồng loại, đồng bào, không ai chào hỏi ai một câu vô thưởng vô phạt như “chào buổi sáng”, “bạn khoẻ không?” với người bộ hành ngược chiều, người ta không cho nhau ánh mắt thông cảm từ bao giờ, nhưng lại dư lời trách cứ sai sót của người khác dù vô tình va quẹt xe nhau, càng xem càng buồn cho quê nội không lạc hậu nhưng đi lối riêng của người tàn tật thì phải!

   Tôi thích xem thức ăn đường phố trên toàn cầu để hiểu biết thêm và cũng vì đã quá chán thức ăn gói sẵn bên này, nhưng những cái thớt chặt thịt chín ở Hà Nội đen xì. Người bán không đeo bao tay nhưng cứ lấy tiền thối tiền xòanh xoạch rồi lại chặt thịt, ai chả biết tiền dơ bẩn cỡ nào bởi qua tay bao người chỉ có trời biết. Tôi tự hỏi mình có dám ăn không? Đành chịu chết thèm đi vào giấc ngủ về sáng.

   Tối nay không xem thì đọc ta bà trên mạng, một đoạn văn sưu tầm không biết ai đã post lên mạng và ai là tác giả nhưng Hà Nội lại đưa tôi về ký ức muộn phiền với quê nội tôi xa…

Bún Ốc Hà Nội Việt Nam

Năm 90, tôi có dịp về Hà Nội, tội nghiệp cậu em họ cứ hỏi chị muốn ăn gì em dẫn đi ăn.  Lúc đó sao thèm bún ốc, từ nhỏ tới lớn vẫn nghe người ta ca tụng chưa bao giờ được ăn bún ốc Hà Nội, nhất là ở Úc về lại thèm món này dữ dội.  Thế là một hôm, mới 6g sáng, đã thấy cậu em xuất hiện. Cậu ta mượn xe gắn máy của người bạn, năm giờ sáng chạy từ nhà ở ga Hàng Cỏ lên tận khách sạn Thắng Lợi tuốt trên hồ Tây để đón bà chị đi ăn bún ốc. Trời hôm đó lạnh, mưa lắc rắc. Cậu ta chở ra một góc đường đâu đó gần hồ Hoàn Kiếm. Chỉ ngay một bà bán bún đang ngồi ở góc đường, chung quanh thiên hạ đứng ngồi lố nhố, cậu em nói: “Đây là hàng bún ngon nhất Hà Nội đó chị ạ. Bán trong chợ Đồng Xuân nhưng chợ vừa bị cháy phải sửa lại nên bán ngoài này. Chị ăn đi!”

   Nhìn quanh thấy người thì đứng người thì ngồi … xổm, không thấy chỗ nào có thể gọi là an toàn để bưng tô bún mà ăn. Mặt đất thì rải rác bún, cà chua, hành và ớt. Dưới lề đường thì nước mưa, bùn, rác cứ thong thả chảy loanh quanh. Bà bán hàng chắc nhìn bộ mã lớ nga lớ ngớ, tử tế rút ngay cái ghế nhỏ của bà đưa cho tôi, thuận tay kéo cái khăn vắt trên vai để mà chùi ghế. Sau đó cũng chính cái khăn đó bà ta lau cái tô và lấy tay bốc bún bỏ vào, còn tử tế múc tặng thêm cho 2 muỗng café bột ngọt. Cầm cái tô mà rợn cả người, chưa kịp ăn, thì thấy một người khác trả tô. Bà ta hắt luôn chỗ nước còn lại trong tô ra đường, bắn tung tóe lên cả khách hàng, mà ai nấy đều thản nhiên như không. Bà ta nhúng cái tô vào một xô nước nhỏ khoảng chừng 3 lít để rửa. Nước trong xô và nước trong nồi nước lèo gần như cùng một màu, cũng nổi lều bều những miếng cà chua và hành ngò như vậy. Rồi chẳng tráng nước sạch gì cả, cứ thế, với cái khăn trên vai bà ấy lấy xuống lau tô và lại bỏ bún vào cho người khác.

   Trời vẫn mưa lâm râm, những hạt nước mưa từ trên trời, những hạt nước bắn lên từ quang gánh, từ nón, rớt hết vào tô bún. Cậu em họ lại ân cần, “chị ăn đi không nguội hết.” Những người xung quanh chăm chăm nhìn cái cô Vịt kìu. Không ăn thì sợ cậu em buồn, công lao mượn xe dậy sớm, lội mưa gió đi đón bà chị để giới thiệu món ngon Hà nội. Mà ăn thì, bao nhiêu đôi mắt chĩa vào chằm chặp, giá có cái nón lá vừa che mưa, vừa che mặt không có mấy đứa Úc cùng sở và đám ngoại quốc khác cùng về đi ngang thấy đang ngồi lê la ngoài lề đường… ăn bún. Rồi lại nhìn thấy cái khăn của bà lau tô thoăn thoắt và cái xô nước rửa hết tô nọ đến tô kia… eo ơi, đúng là tiến thoái lưỡng nan. 

   Bà hàng lại còn tử tế, thò tay bốc thêm vài con ốc cho thêm vào tô bún của cô Vịt kìu. Cơ khổ, thật là cơ khổ. Thấy để cậu em dục mãi cũng kỳ, nhắm mắt cắn răng nuốt đại, chẳng biết nó ngọt nhạt mặn cay chua thế nào, cứ nghẹn ngào nuốt; lại còn phải gật đầu lia lịa và toét miệng cười mỗi khi cậu em hỏi: “ngon không chị…”  Cậu em mặt mày tươi hơn hớn, “đấy em đã bảo đây là hàng bún ngon nhất Hà Nội mà.” Bà hàng cũng hỉ hả, những người xung quanh cũng hể hả, còn người ăn thì… trong héo ngoài tươi.

   Bây giờ vẫn nhớ câu nói của cậu em, “ngon phải không chị.”  Ừ, ngon thật, ngon quá nên tới bây giờ, đã bao nhiêu năm, vẫn nghĩ tới tô bún hôm đó, nghĩ đến mà rùng rợn, rởn cả tóc gáy, nổi cả da gà và vẫn còn cảm giác nhờn nhợn.  

   Các bạn tôi nếu có dịp qua Úc, ghé nhà tôi sẽ nấu mời một tô bún ốc, không biết có ngon được bằng tô bún Hà Nội lúc đó không nhưng phần rùng rợn bảo đảm sẽ thua xa.

(Sưu tầm)

Phan

Bài Mới Nhất
Search