Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 271)

Văn hóa ẩm thực: Thịt kho tàu

Thịt kho tàu không phải là món ăn của người…Tầu.

Đúng ra là “tàu”. Tàu đây hiểu theo người Nam ở miệt dưới như sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ.

Tàu nghĩa là…“lạt”.

Và kho tàu là kho lạt lạt chứ không phải là kho mặn.

Tàu chứ không phải là…Tầu hay kho theo Tầu. Vì bên Tầu lạnh nên không có dừa để có nước dừa tươi chêm vào nồi thịt kho tàu.

(Bình Nguyên Lộc)

Nguồn gốc địa danh Sài Gòn

Ðã có nhiều thuyết về nguồn gốc địa danh Sài Gòn. Theo Bình Nguyên Lộc, tất cả những thuyết ấy đều có chỗ không ổn.

Theo ông: Sài Gòn là từ Sài Gòong, mà Sài Gòong là tên của một vùng ở tỉnh Quảng Ðông bên Tầu. Ðất Sài Gòn vốn là Gia Ðịnh kinh. Khi Gia Ðịnh kinh bị Pháp chiếm, người Việt bỏ đi nhiều, người Tầu từ Ðề Ngạn (Chợ Lớn) ùa ra ở, đặt lại tên thành phố là Sài Gòng để tưởng nhớ quê hương bên Tầu của họ.

Liệu đây có phải sự thực về cái tên đất này chưa? Sai hay đúng thì cái tên Sài Gòn đã đi vào…cổ sử từ lâu.
(Thu Tứ – Gocnhin.net)

Nhất tướng công thành vạn cốt khô

Nhiều người hiểu “công thành” ở đây là “tấn công” một cái thành để hiểu sai thành ngữ trên là “một ông tướng mà tấn công thành thì tốn vạn xương cốt”.

Thực ra “công thành” ở đây là “thành công”. Vì vậy câu trên nên hiểu là “một ông tướng thành công thì hàng vạn quân lính phải vong thân, xương cốt chết thành đống”.

Người Việt và người Tầu dùng chữ khác nhau: Như “khứ hồi” là “hồi khứ”, “tiền sử” thay vì “sử tiền”. Ngày nay, người trong nước theo chân người Tầu đảo ngược lại với đơn giản là giản đơn, bảo đảm là đảm bảo, dãi dầu là dầu dãi, vùi dập là dập vùi..v.v.. Nói khác đi người trong nước đang nói tiếng…Tầu mà họ không hay.

(Duy Lý – báo Tự Do)

Tứ thời bát tiết

Trong câu đối ngày Tết của cụ Nguyễn Khuyến viết cho anh hàng thịt hàng xóm góa vợ:

Tứ thời bát tiết canh chung thủy

Ngạn liễu gò bồ dục điểm trang

“Tứ thời”  theo âm lịch có bốn mùa. Mỗi mùa ba tháng. Năm chia làm 24 tiết. Môt tháng có hai tiết (giữa tháng và đầu tháng).

“Bát tiết” tức tám tiết trong một năm: Xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí và lập xuân, lập hạ, lập thu, và lập đông.

(Khuyết danh)

Thơ Bàng Bá Lân và ca dao…

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Hai câu thơ trên là của Bàng Bá Lân, hay ca dao nhập vào hồn thơ thi sĩ? Vẫn còn là nghi vấn trong xóm làng văn chương?

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

©T.Vấn 2024

Bài Mới Nhất
Search