Phần Mười Một: “Tôi Đang Ở Đâu?”
Sau khi Linh đi thoát được (tôi đoán, và cầu nguyện như vậy) hơn một tháng thì tôi lại được thăm nuôi. Tôi hỏi tình hình gia đình sinh sống ở nhà. Vợ tôi cho biết là bây giờ cái gì cũng hiếm, từ thịt, cho đến gạo, đường, bột, cho tới thuốc tây. Tiền kiếm ra thì khó mà chi tiêu, đã hà tặn, hà tiện lắm nhưng vẫn chật vật. Vì có hai con còn nhỏ, vợ tôi lại phải chi thêm tiền cho cái vụ thuê người trong xóm thay mình đi công tác “thủy lợi”. Mấy đợt đổi tiền, nó lột hết của mình rồi còn đâu? “Nhà Nước” bắt đầu cho thân nhân ở nước ngoài gửi quà về. Họ biết là họ không nuôi nổi dân cho nên họ đã phải “mở cửa” cho hàng nước ngoài tuồn về, dân có cái mà sống. Nhà nước cũng có thêm tiền mà củng cố dã tâm của họ. Tuy vậy, họ vẫn giới hạn hai ký cho mỗi gói quà. Cái chuyện đi ra phi trường lãnh quà từ nước ngoài gửi về cũng là một sự ngao ngán khác. Thân nhân phải mang đủ thứ chứng từ như: hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, có khi cũng bị hạch hỏi về sự “liên hệ” với người nước ngoài, v…v…Mọi người phải xếp hàng từ lúc năm giờ sáng. Khi bưng được gói quà ra khỏi cổng thì cũng đã hơn hai giờ trưa! Có nhiều con buôn vây kín chung quanh mình để dành mua gói quà đó. Chen lấn tránh né họ cũng lại là một vấn đề. Về đến nhà rồi thì phải lần mò từng đường kim mũi chỉ của chiếc quần Jean xem bên kia có gài được chỉ vàng nào vào đó không. Các ống thuốc đánh răng cũng phải moi cho kỹ vì người dân đã truyền nhau những mánh khóe dấu tiền, dấu vàng như thế nào để qua mặt nhà nước. Người trong nước bây giờ chỉ còn biết trông chờ vào những gói quà từ nước ngoài gửi về. Dĩ nhiên gia đình nào không có thân nhân ở nước ngoài thì chỉ còn nước cố bươn chải nuôi nhau.
Tôi kể lại chuyện bạn Linh trốn như thế nào. Vợ tôi giật mình nói:
– Chết thật, bây giờ cái gì cũng khó, một đoạn đường từ đây về nhà cũng phải đi qua ít nhất năm trạm công an kiểm soát. Bây giờ họ có đủ loại công an, từ công an cơ động, đến công an kinh tế, thôi thì đủ loại công an. Họ muốn hạch sách, mè nheo thế nào thì cũng ráng mà tránh né. Không được thì lại phải chìa ra cái “thủ tục đầu tiên”. Mình tính đi theo con đường anh Linh đi thì chỉ có chết. Thôi, mình quên cái ý định trốn trại đi.
Từ khi sang trại này, trại cán bộ ở xa nên mọi sinh hoạt của bọn tù chúng tôi cũng tương đối dễ chịu. Hình như cái việc thỉnh thoảng có thằng tù trốn trại cũng không là mối quan tâm của cán bộ. Sau bốn năm “giải phóng” Miền Nam, có lẽ người cộng sản Miền Bắc cũng dần dần cảm nghiệm được rằng người dân Miền Nam trước đây sống rất sung túc. Không phải dùng cái muổng dừa ăn cơm như họ vẫn được nghe khi ở ngoài Bắc. Cái tụi tù này nó cũng còn cái nét phong lưu, “tiểu tư sản” nhưng cũng rất vô hại.
Tôi ở với vợ suốt đêm ở ngoài nhà thăm nuôi. Về sau này, tụi cán bộ nó cũng biết là tụi tù nó cũng nhiều mánh thủ thân lắm. Không nên mò mẫm vợ con nó mà thiệt thân. Nhà thăm nuôi cũng nhờ thế mà có nhiều sinh hoạt vui vẻ giữa tù nhân, vợ con, và bạn bè trong trại. Khi có gia đình lên thăm, chúng tôi được cái “đặc quyền” hưởng thụ. Anh em xúm ra giúp gánh quà vào trại, lo nấu nướng, chế biến thức ăn hộ, mang ra cùng thưởng thức đêm văn nghệ với nhau. Chúng tôi mất một tay đàn kiệt xuất là Tạ Kỳ Linh nhưng vẫn còn bạn Tiến và Hậu. Ăn cơm tối xong còn thưởng thức bánh, trà hoặc cà phê.
Vợ chồng chúng tôi nằm trong mùng nghe đàn, hát cùng những tiếng kêu thảng thốt của bầy chim lạc tổ. Ở thành phố, lúc trước chỉ lo làm ăn, nuôi con cái, không được cái thú ngắm trăng đêm – qua cành lá cùng tiếng rì rào, thủ thỉ. Tôi lại tưởng tượng rồi chăng? Tôi đang chập chờn qua tiếng thủ thỉ của vợ hay tiếng thì thầm của gió đây? Tôi vừa ôm chặt vợ trong tay, ngửi mùi mái tóc quen thuộc, nhớ lại câu thơ “Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” trong bài thơ Dạ Khúc của Thanh Tâm Tuyền. Chưa chia tay mà đã nghĩ tới lúc ly biệt và tiếp tục “trùng trùng xa cách” nhau. Cuộc đời vốn đã là vô thường. Sống ở cái xã hội bấp bênh này khiến cho người ta không thể tính toán điều gì trước cho tương lai. Ngày hôm nay còn trong vòng tay nhau, ngày mai, sự bất hạnh nào đó có thể xảy ra, mọi chuyện sẽ thay đổi. Vợ tôi thì đã ngủ thiêm thiếp mà tôi thì vẫn chập chờn vì cái ý định trốn trại của tôi vẫn luôn lởn vởn trong đầu. Tôi ôn lại những chuyến trốn trại của các bạn tôi. Có những bạn ra đi rồi vào thiên thu vĩnh viễn. Nhiều bạn hình như đi được trót lọt vì không thấy trại tuyên bố là đã bắt lại được. Có nhiều bạn tù đã trốn, tưởng đâu như dễ dàng, nhưng rồi cũng bị bắt trở lại, bị biệt giam một thời gian. (Chuyện này cũng xảy ra trong trại tôi và chắc chắn cũng xảy ra ở nhiều trại khác như nhưng tôi không có bạn thân trong trường hợp này, và do đó, không can dự trực tiếp nên không viết vào đây.)
Bây giờ, trong đầu óc tôi, điều hoang mang nhất, khó nghĩ nhất là: có trốn về thành phố an toàn nhưng rồi sẽ ăn, ở đâu? Ai mà dám chứa quả bom nổ chậm này. Công an phường mà khám phá ra việc chứa chấp người tù trốn trại thì cả gia đình chứa chấp mình đều bị liên lụy. Điều càng không thể nào nghĩ đến là trốn về xóm cũ ở. Mặc dù hàng xóm có thương và có muốn bao che nhưng, theo vợ tôi nói, công an phường nó hay rình rập lắm. Sống theo kiểu đầy đủ, sung túc như ngày xưa là tụi nó kéo đến hạch sách, đòi “chia lại” ngay. Cái chữ “chia lại” này du nhập từ ngoài Bắc vào: Thấy người khác có chút “thu nhập” khá là phường sẽ xin “chia lại” chút đỉnh. (Cái việc thu nhập này có thể là từ việc làm ăn buôn bán thành công, có khi là được lãnh lương cao khi vì làm nhân viên cho một công ty ngoại quốc, cũng có khi chỉ vì thân nhân khá giả ở nước ngoài gửi quà về liên tục.) Một cái trò tống tiền hợp pháp, chỉ có ở nước cộng sản! Sau này, người nhà phải nhắn người nước ngoài gửi quà về cho những tên khác nhau trong gia đình để thay phiên nhau đi lãnh quà, trước khi về đến nhà thì đã tìm cách tẩu tán, kẻo công an phường biết được là sẽ kéo đến “hỏi thăm”.
Trong đêm, chúng tôi không nhớ là anh em đã giải tán lúc nào. Sáng ra đã thấy sân trước được dọn dẹp sạch sẽ củi lửa. Bạn tôi lại còn chu đáo, gánh nước ra cho chúng tôi đánh răng, rửa mặt, lại còn có sẵn hai nắm xôi đậu phọng, món xôi tôi vẫn thích. Cũng sắp đến giờ xe đò vòng trở lại đón thân nhân đưa về thành phố. Vợ tôi không nuốt nổi miếng xôi. Mặt mũi thẫn thờ, thân thể lạnh ngắt, run rẩy. Vợ tôi cứ khuyên tôi nên bỏ ý định trốn trại vì cô ấy có linh tính là lần này gặp nhau, có thể không bao giờ gặp lại. Tôi nghe thấy mà não lòng. Chả lẽ định mệnh này lại khắt khe với chúng tôi như vậy sao?
Nói những lời “gở” như vậy nhưng vợ tôi vẫn đưa cho tôi cái túi nylon nhỏ trong đó đựng căn cước giả và một ít tiền đi đường – nhỡ tôi vẫn giữ ý định trốn trại thì có cái mà dùng.
Xe đò cũng vừa tới. Các bà vợ, bà nào bà nấy nước mắt dàn dụa, líu ríu theo nhau leo lên xe đò. Bao nhiêu quà cáp giao cho chồng hết rồi, bây giờ về tay không nhưng bước chân vẫn nặng nề. Nhiều cánh tay vẫy vẫy trong tâm trạng ngậm ngùi, đau xót.
Tôi băn khoăn quá mức. Càng ngày tôi càng có ý định trốn thoát khỏi cái nơi đày đọa này.
Hồi này, các bạn tôi đồn nhau là có một anh vệ binh mới từ ngoài Bắc vào, gia nhập trại này để cai quản chúng tôi. Anh chàng này còn rất trẻ, tên là Dũng, lại có đem theo bà mẹ. Các bạn tôi nói tay này có lòng hận thù quá khích với tù Miền Nam. Khi có cơ hội là anh ta bắt tù quỳ xuống, lấy thắt lưng quất không tiếc tay. Các bạn tôi đặt cho hắn cái tên “mỹ miều” là Dũng “Đa Kao”. Tôi cảm thấy thật phí phạm khi cho thằng này cái tên đó. Nó không đáng một xu nào khi so sánh với nhân vật Dzũng Đa Kao của Vũ Mộng Long Duyên Anh. Hình như gia đình bà cụ mẹ của Dũng này có ý định vào Miền Nam sinh sống hay sao mà lại mang theo cả một thằng con trai nữa. Nó chừng mười một, mười hai tuổi. Thằng bé này có tài hỗn láo “thiên phú”. Nó thấy chúng tôi là nó ngoác cái mồm ra chửi. Nó nhìn thấy những người đáng tuổi cha, chú nó mà nó vẫn xưng “mày tao” với chúng tôi. Thằng nhỏ lèm bèm những gì chúng tôi không hiểu. Có thể là những bài tuyên truyền “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” học được ngoài Bắc, nó chỉ nhớ mỗi đoạn một vài hàng, nó thấy chúng tôi, nó muốn ráp lại những lời cái loa Bắc Việt ra rả trong xóm nó – nhưng với số tuổi của nó và với cái đầu óc ấu trĩ của nó, nó không không ráp lại thành câu được. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn hiểu là nó chửi chúng tôi.
Thỉnh thoảng nhớ lại thằng bé này, tôi cũng thông cảm tại sao người dân sống ở ngoài Miền Bắc vẫn để lòng căm thù bọn Mỹ-Ngụy vì những trận bom thả xuống Hà Nội và các căn cứ chiến lược ngoài vĩ tuyến 17 những năm 67-68 – nhưng vẫn không ngờ là chính sách của nhà nước dạy người dân nhỏ nhen, căm thù và ác độc đối với người Miền Nam như vậy. Chả trách gì những “đấng” được ca tụng như ông Tố Hữu, trong trí tưởng của ông toàn là “giết” và “máu” – đã ảnh hưởng vào tâm tưởng của những đứa trẻ đáng lẽ còn được hưởng sự trong trắng ngây thơ.
……….
Mau mau lên đứng dậy!
Gươm gươm đâu, tuốt ra
Súng súng đâu, vác chạy
Cứu cứu đồng bào ta!
Giết giết quân xâm lược!
Mau xung phong! Xung phong!
Cờ bay lên cứu nước
Máu giặc phải thành sông! ……. (Tố Hữu – 1945)
Một hôm, tôi vác cái rựa sắc như nước của tôi, đi ra rừng làm việc theo sự phân công hôm nay. Đi cạnh tôi là người bạn cùng tổ, tay này vác cái cuốc trên vai. Chúng tôi đang vừa đi vừa nói chuyện vui vẻ thì thấy mẹ con thằng Dũng đi ngược chiều. Người bạn tôi đang kể chuyện say sưa, quay sang tôi hỏi:
– Mày thấy truyện hợp lý không? Vừa hỏi, bạn tôi vừa quay sang tôi. Cái cuốc của người bạn quơ trước mặt bà cụ. Thằng Dũng hét lên:
– Thằng tù này, mày định ám sát mẹ tao hả? Nó vừa nói, vừa có vẻ như sắp rút cái dây lưng của nó ra.
Tôi nóng mặt quá, tôi cũng hét lên:
– Anh em đứng lại, xem thằng này nó định làm gì? Các bạn tôi, nhóm đi trước, nhóm đi sau, đều đứng lại xem chuyện gì xảy ra. Tôi xấn ngay lại sát cạnh thằng Dũng hỏi lớn:
– Mày định làm gì bạn tao? Tay tôi cầm cái cán rựa dài dứ dứ vào mặt nó. Bà mẹ nó sợ quá, thấy chúng tôi đông, lại thấy tôi đứng sát thằng con bà với gương mặt có vẻ nhất định ăn thua. Bà kéo tay nó đi nói:
– Thôi con, người ta có làm gì mẹ đâu mà con đứng lại gây sự. Thôi đi con. Vừa đi, bà vừa kéo tay thằng con. Thằng nhóc cũng biết là không phải lúc ra oai nên nghe theo mẹ, sải bước quay đi. Các bạn tôi kể lại rằng lúc đó mắt tôi có lửa nên thằng Dũng Đa Kao đành phải nhịn. Ít ra cũng phải dzậy chứ?
Hồi này, trại hay lùa chúng tôi đi xem chiếu bóng ban đêm. Lúc này, trại chúng tôi chỉ còn chừng hơn một trăm anh em. Khi được gọi đi xem phim, chúng tôi “rồng rắn” nối đuôi nhau đi trong đêm tối của rừng già vùng Phước Long này. Đội cán bộ chiếu phim cũng có máy phát điện riêng. Họ căng tấm vải trắng lên thành xe Molotova của họ và bắt đầu chiếu phim. Lần đầu tiên chúng tôi được nghe hai chữ “thuyết minh”. Hóa ra nó có nghĩa là phim chạy tới đâu, anh chiếu phim giải thích (và phiên dịch) tới đó.
Chúng tôi được xem những phim thần thoại của Rumani. Phim chúng tôi nhớ nhất là phim “Trẻ mãi không già”. Sau này chúng tôi đổi tên cho hợp với hoàn cảnh hiện tại của chúng tôi thành: “Ở mãi không về” để có cái mà đùa giỡn với nhau. Khi đi xem xi nê thì chúng tôi phải đi bộ trong rừng khoảng nửa cây số. Phần đông những thước phim cán bộ trại cho chúng tôi xem đều mang chủ đích tuyên truyền (rẻ tiền!), thí dụ như cuốn phim (dzô dziên) “Thép đã tôi thế đấy”! Một phim nữa mà tôi nhớ là phim do Việt Nam đóng, mang tên “Đến hẹn lại lên”. Không phải là phim hay nhưng ít ra cũng do người Việt đóng, thấy cô tài tử đẹp thì trông cũng “đã” hơn. Một đêm, khi hết phim, chúng tôi kéo nhau về theo đường cũ trong rừng, tình cờ lại nghe giọng của thằng nhỏ mất dạy đang nói ở gần đó. Hình như nó đang đi với một anh bộ đội nào khác. Chúng tôi âm thầm quan sát, đúng lúc nó đứng lại đi tè bên gốc cây, anh bộ đội kia cũng không để ý, cứ vậy mà đi. Chúng tôi nhào ngay đến, bế xốc nó lên, người thì cầm tay, người thì cầm chân, vừa làm bộ quăng nó, vừa đếm, một, hai, ba, vừa nói để nó nghe: “nào anh em mình vứt nó xuống giếng nước gần đó cho nó chết đuối đi cho rồi”. (Làm gì có giếng nước nào trong rừng già Phước Long này!) Thằng nhỏ sợ quá, lạy van rối rít: “các chú tha cho con”. Chúng tôi đặt nó xuống đất hỏi: “bây giờ mày có muốn chửi chúng tao nữa không?” Thằng bé muốn đái thêm lần nữa, lạy lục: “Không, con không chửi các chú nữa, tha cho con”.
Từ hôm đó, Dũng Đa Kao cũng không dám ra oai với chúng tôi. Đặc biệt là thằng nhỏ, từ hôm đó, thấy chúng tôi, không dám mở miệng chửi bới gì hết! Thằng nhỏ này đến bây giờ, lúc tôi viết hồi ký này, chắc cũng phải hơn năm mươi tuổi. Mẹ con nó sống ở trong Miền Nam này lâu chắc chắn nó đã sáng mắt ra nhiều rồi mà không cần đi khám bác sĩ mắt.
Đời tù và định mệnh vẫn theo sát thân phận tôi. Đời sống trong trại tù vẫn lập đi lập lại một cách buồn tẻ. Ngày nào cũng phải ráng “đạt” chỉ tiêu. Chúa Nhật nào cũng phải làm nửa ngày để lập công dâng “Bác”. Có nghĩa là sức lao động của chúng tôi bị bóc lột sáu ngày một tuần, cộng với nửa ngày Chúa Nhật, được “lao động vinh quang”!
Tôi vẫn tiếp tục tìm cách ra sóc Thượng để mua bán, đổi chác. Ông tù trưởng vẫn tiếp đón tôi nồng hậu. Tôi vẫn mang theo những loại thuốc men căn bản để chăm sóc cho trẻ em trong sóc. Từ trại mới này đến xã Đức Hạnh cũng gần. Chúng tôi vẫn có đủ mọi thứ cần thiết để sống qua ngày. Chỉ có điều là lâu lắm, chúng tôi không ra quán “Ba Cô” vì không có nhu cầu.
Các công tác vẽ vời cho trại cũng không còn. Tôi lại trở lại cái kiếp con tằm nhả tơ! Hàng ngày vẫn phải vác rựa ra rừng. (Không hiểu sao, tôi vẫn thích con rựa này hơn các dụng cụ đi rừng khác!) Những người bạn thân thiết dần dần bị chuyển đi nơi khác, hoàn toàn không còn biết gì về nhau. Tôi không còn hay ngâm thơ cho bạn bè nghe. Đã lâu, chúng tôi không được thăm nuôi nên những buổi tối có văn nghệ bỏ túi cũng không còn. Hậu vẫn còn đàn, hát nhưng không có nhiều hứng thú như trước, toàn những bài hát ra nước mắt. Chúng tôi rỉ tai nhau là phải cẩn thận với một anh bạn tù hơi lớn tuổi, có tên là “bác Răng”. Anh bạn này lớn tuổi hơn chúng tôi nhiều. Trước đây, có thể là một con lai của thời Pháp thuộc. Tên của anh ta, theo chúng tôi đoán, có thể từ nguyên thủy là “Jean” nhưng người mẹ không nói được tiếng nước ngoài nên đọc thành “Răng”. Trông bạn này thì chắc chắn ai cũng biết là anh ta là con lai. Da mặt lúc nào cũng sẩn đỏ, mũi cao, mắt xanh. Anh bạn này không chơi với ai. Thủ cuộc sống riêng tư rất kỹ. Tay này rất ích kỷ, chưa được ai thăm nuôi bao giờ, hay ghen tuông với anh em. Sáng, trưa, chiều, tối, chỉ ngồi chồm hổm trên phản ngủ, nhìn anh em như kiểu con diều hâu nhìn đàn gà con. Thoạt đầu, chúng tôi cũng không để ý, trời sanh tính mà. Càng về sau chúng tôi càng nghi ngờ và quan sát thì quả thực, anh này hay lên trại cán bộ. Những gì chúng tôi nói bên này thì bên kia họ biết hết. Chúng tôi có nhẹ nhàng nhắn một cách tế nhị với anh là anh nên bỏ việc làm của mình. Không được cái quyền lợi gì hơn chúng tôi đâu. Anh không muốn nghe và dĩ nhiên, không thay đổi cách sống.
Một buổi tối, một trong những người bạn của chúng tôi được gọi ra thăm nuôi. Chúng tôi nói là sẽ có một buổi văn nghệ bỏ túi, đàn hát với nhau cho vui. Chúng tôi muốn mời “bác Răng” ra chơi, có thức ăn từ thành phố mang lên, có trà, có cà phê, v…v… Bác Răng nghe bùi tai, tham gia với chúng tôi. Bác cũng được “chiêu đãi” ăn uống như chúng tôi. Bác có vẻ vui lắm. Tàn tiệc, chúng tôi rủ nhau về trại. Trên đường về, bất ngờ, một anh đá vào lưng bác Răng. Bác té sấp xuống và chưa kịp hiểu điều gì. Cùng lúc đó, chúng tôi xúm lại, đấm, đạp cho bõ tức. Vừa đánh, chúng tôi vừa truyền cho bác lời cảnh cáo: “Nếu từ nay mà còn tiếp tục lên trại làm ăng ten, báo cáo sinh hoạt của tù thì lần sau sẽ siết cổ cho đến chết”. Bác Răng hiểu chuyện và từ đó, chơi với chúng tôi như chưa có chuyện gì xảy ra. (Trại mất đi một cần ăng ten! Bác Răng với những ngón tay, ngón chân sưng phồng to lên nên vẫn được miễn đi lao động).
Hôm nay, chúng tôi cũng sắp hàng đợi các anh vệ binh đến phân chia công tác. Tôi cũng vẫn mang theo cái vật bất ly thân của tôi là con rựa cán dài, sắc như nước trên vai. Sau khi lãnh công tác trong ngày, chúng tôi chuẩn bị lên đường. Một anh bạn của tổ khác chạy lại nói với tôi: “Anh có thể cho tôi đổi công tác, sang tổ anh đi làm rừng được không”? Anh bạn tên Lê Huỳnh Quang. Tôi không thắc mắc gì, gật đầu đồng ý vì tôi cũng nghĩ là chắc anh này cần đi làm rừng để thừa cơ hội, chạy đâu đó mua thêm thức ăn. Tôi cắt cử một bạn trong tổ tôi sang tổ kia thay thế cho anh. Trong ngày hôm đó, anh Quang này biến mất!
Trời ơi, tại sao lần nào có người trốn trại là có tôi liên lụy trong đó? Sau này, nghĩ lại mới nhớ ra rằng lúc tôi và anh bạn này trao đổi câu chuyện, bác Răng đứng gần đó, đã chứng kiến.
Hai hôm sau, cán bộ trại cho gọi tôi lên. Những lần trước, có người trốn trại, cán bộ quản giáo đâu còn quan tâm nữa mà sao lần này, lại gọi tôi lên? Tôi lên tới trại quản giáo, được một anh vệ binh dẫn vào phòng ông thủ trưởng. Vệ binh Dũng đã chờ sẵn ở đó, lấy mũi súng AK đâm vào giữa ngực tôi. Tôi né sang một bên. Vết đâm thành một vết thương dài trên ngực. Vết thương xé màng ngực tôi, máu không chảy nhưng vết thương rát như lửa bỏng. Tôi làm bộ ngã xuống đất để tránh đòn thù tiếp theo. Ông thủ trưởng xuất hiện kịp thời. Ông quát Dũng: “Không đánh nữa”! (Cho tới hôm nay, khi viết lại tập hồi ký này, vết thương trên ngực tôi vẫn còn “sống”. Đã gần nửa thế kỷ, nó vẫn lớn lên theo ngày tháng. Tôi không bao giờ dám cởi trần trước mặt ai, ngay cả trong khi đi tắm biển! Ở bên Mỹ, các bác sĩ gọi chứng bệnh này là “keloid scar”, không thể chữa được. Thỉnh thoảng đi chích một mũi thuốc cho nó không mọc thêm ra nhưng không hiệu quả.)
Tôi lại bị biệt giam. Có mỗi một lần, cán bộ hỏi tôi là tại sao những người trốn tù gần đây xảy ra trong trại, luôn có tôi (trực tiếp hay gián tiếp) ra tay giúp họ? Tôi rơi vào hoàn cảnh “tình ngay mà lý gian”. Quả thực, nghĩ lại thấy hồi bạn Linh của tôi chạy mất theo em bé Trang, cũng có mặt tôi ở đó. Bây giờ, đến anh bạn này, tôi “cố tình” đổi công tác cho anh để anh ta trốn mất. Tôi biết là anh chàng vệ binh Dũng này vốn đã muốn trả thù tôi, không nghe lời biện minh của tôi. Ông thủ trưởng cũng vẫn là người tốt nhưng không bênh cho tôi được. Tội của tôi rành rành ra đó. Những ngày ở trong bóng tối của phòng biệt giam, sống “không bằng chết”, dự tính trốn trại của chính tôi lại lớn mạnh hơn bao giờ hết. Tôi căm phẫn và nhất định khi được trả về trại, tôi sẽ thực hiện ý định của mình.
Đây là phòng biệt giam nằm trong trại cán bộ nên mỗi ngày, thay vì do anh em đưa cơm, tôi được vệ binh tiếp sức cho một đĩa cơm trắng với một miếng cá khô nướng. Tự nhiên, không cầu mà được ăn cơm trắng với miếng cá “khô” (khô thật) nướng thơm phức. Tuy nhiên, đó cũng là đĩa cơm duy nhất trong ngày. Phòng biệt giam này không có khe cửa để lùa đĩa cơm vào như những lần tôi bị biệt giam trước đây. Vệ binh lùa đĩa cơm dưới cửa buồng. Các anh ấy nhớ lúc nào thì lùa đĩa cơm vào cho tôi lúc ấy, không đúng giờ.
Có những đêm, nằm lơ mơ dỗ giấc ngủ. Tôi thấy mờ mờ hình bóng của bố mẹ tôi, hình như ông bà đang cười với tôi và hình như có vẻ muốn nói gì đó nhưng hình ảnh cứ thế mà mờ nhạt dần. Những giấc mơ sau, tôi được thấy cả gia đình tôi, vợ tôi tươi cười khoe hai đứa con đã lớn. Khuôn mặt của các em tôi lần lượt hiện ra trong hoạt cảnh đang xúm nhau lại chụp ảnh với nhau, trong đó có cả bà ngoại tôi. Các em tôi chụp xong, khoe tôi tấm ảnh. Tôi hỏi:
– Ủa, sao trong tấm ảnh này không có anh? Các em tôi buồn buồn nói:
– Anh đi học tập đã lâu rồi còn đâu?
Trong những giấc ngủ ấm ức, chập chờn như vậy, tôi lại cảm thấy hạnh phúc vì tôi được gặp lại mọi khuôn mặt trong gia đình tôi – người còn sống, cũng như người đã mất. Có hôm, tôi lại thấy tôi bị tra tấn, có người cầm cục than hồng ấn vào ngực tôi. Mùi cháy khét lẹt và đau rát của cục than hồng trên ngực tôi đánh thức tôi choàng dậy, ôm lấy ngực. (Từ đó cho đến nay, khi tôi viết hồi ký này, năm 2024, vết thương vẫn đau rát cái kiểu cục than hồng di lên đó.)
Thêm một điều lạ nữa là những con chuột thích gặm ngón chân tôi. Không đêm nào mà chúng nó không đi rảo một vòng, dừng lại, gặm ngón chân tôi một chút rồi chạy mất.
Trong những lúc đầu óc bồng bềnh không có một chút gì về cái thực tại mà tọi đang sống trong đó,
tôi tự hỏi “Tôi đang ở đâu”?
(Còn Tiếp)
