PHẦN MƯỜI BẢY: ĐỜI BINH NGHIỆP
Trước khi viết đoạn cuối của tập hồi ký này, tôi thiết tưởng cũng nên nhắc đến một phần đời của định mệnh. Trong phần đời này, tôi đã trải qua 6 năm phục vụ trong Không Lực VNCH. Tôi đã được định mệnh đãi ngộ “hậu hĩnh” vì những hoạt động của tôi trong thời gian này đều đưa đến những kết quả tốt đẹp, được cấp trên và bạn bè quý mến.
Lúc mới tốt nghiệp từ trường BB Thủ Đức với cái lon chuẩn úy mới toe, tôi về trình diện đơn vị ở phi trường Biên Hòa. Hôm đó, hình như có tất cả 4 anh chuẩn úy bước vào văn phòng của đại úy (Đ/u) Nguyễn Đức Tân. Chúng tôi làm đúng thủ tục đứng nghiêm, chào, xưng tên tuổi xong. Đ/u Tân nói:
– Các cậu cứ về nghỉ, tôi sẽ sắp chỗ làm cho các cậu sau. Cậu Dzương ngồi xuống đấy.
Trong văn phòng của ông chỉ có hai bàn làm việc. Tôi chưa hiểu chuyện gì nhưng vẫn cứ phải làm theo lệnh của ông, kéo ghế ra ngồi, chờ ông giao cho công việc. Đ/u Tân bận rộn với công việc, có lẽ ông không nhớ là có anh “lính mới” đang ngồi đó chờ lệnh.
Tôi ngồi một lúc, không biết làm gì, làm bộ ra ngoài, sang phòng làm việc của các anh trong Ban Điều Hành, tán chuyện gẫu. Các anh này đều là hạ sĩ quan, họ làm việc lâu năm ở đây cho nên công việc có vẻ trôi chảy, đều đặn. Họ đều gọi tôi là thiếu úy, thay vì chuẩn úy! Họ cũng có vẻ nể phục vì không biết tại sao ông trưởng đoàn, Đ/u Tân lại ưu ái tôi đến vậy. Âu cũng là định mệnh.
Những ngày sau đó, tôi đã có cơ hội chứng tỏ khả năng của tôi qua một vài việc. Tôi được giới thiệu và gặp thiếu tá (Th/t) Tạ Văn Thái, Liên đoàn trưởng Liên đoàn phòng thủ phi trường. Một hôm, chúng tôi có buổi họp với một đại úy cố vấn người Mỹ. Tôi trao đổi câu chuyện với ông cố vấn này một cách tự nhiên, trôi chảy. Cả Th/t Thái và Đ/u Tân rất hài lòng với khả năng Anh Ngữ của tôi.
Cuộc đời binh nghiệp của tôi bắt đầu như vậy. Về làm việc tại phi trường Biên Hòa nhưng tôi vẫn mua “cua” ở trường Luật về học tiếp. Nhờ vậy, tôi lấy xong năm cuối của chương trình cử nhân Luật. Cũng nhờ vậy, tôi được cử đi học thêm khóa huấn luyện sĩ quan căn bản Quân Cảnh ngoài trường QC Vũng Tàu. Về lại phi trường Biên Hòa, với bằng tốt nghiệp và chỉ số lương của ngành Quân Cảnh, nhưng tôi lại được cả Th/t Thái và Đ/u Tân ưu ái, giữ lại làm việc tại văn phòng với hai ông, không phải ra đứng “gác cổng” phi trường cùng với anh em và những sĩ quan QC khác.
Từ khi có tôi về làm việc, Th/t Thái nhờ tôi thay ông đi họp hành quân và tình báo mỗi buổi sáng trên Phòng Hành Quân Sư Đoàn do Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính chủ tọa.
Đại úy Hill, cố vấn cho Liên đoàn phòng thủ phi trường lại còn muốn mời tôi làm “sĩ quan liên lạc” giữa hai lực lượng phòng thủ. Lúc đó, năm 1970, phi trường Biên Hòa có ba lực lương chính làm việc chung với nhau: Sư đoàn 3 Không Quân chịu trách nhiệm tác chiến. Bộ chỉ huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận, chịu trách nhiệm bảo trì phi cơ, Không Đoàn 6251st Hoa Kỳ (cộng thêm một phần của Lữ Đoàn Một Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ).
Tuyến phòng thủ phi trường được chia làm hai, một nửa vòng đai do lực lượng phòng thủ KQVN đảm trách, một nửa kia do lực lượng phòng thủ Mỹ đảm trách. Từ đó, tôi được trang bị hai máy “bộ đàm” (walki talki Motorola). Danh hiệu dùng để gọi trên máy của tôi là Bạch Đằng 1 trên hệ thống Việt Nam, và Blue 15 trên hệ thống của Mỹ. Hai chiếc máy này phát thanh suốt ngày đêm, trao đổi mệnh lệnh giữa các đơn vị và các giới chức. Những ngày vợ tôi mới từ Sài Gòn dọn vào cư xá sĩ quan sống với tôi, hay than phiền là không ngủ được vì hai chiếc máy này reo réo suốt đêm! Sau rồi cũng phải quen thôi.
Trải qua 6 năm làm việc tại phi trường Biên Hòa, qua 4 “đời” liên đoàn trưởng, tôi vẫn giữ chức vụ sĩ quan phụ tá liên đoàn trưởng.
Khi có nhu cầu thuyết trình trước các phái đoàn ngoại quốc đến thăm phi trường, bao giờ tôi cũng được ưu tiên đề cử lo công việc này. Trước khi toàn bộ các lực lượng Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Việt Nam năm 1973, tôi được Không Lực Hoa Kỳ trao tặng huy chương “Air Commendation Medal” ghi nhận sự hợp tác hữu hiệu của tôi.
Văn phòng làm việc của tôi ở dưới nhà. Văn phòng làm việc vủa thiếu tá Thái ở trên lầu. Đây là căn nhà bằng bê tông cốt sắt kiên cố nhất trong phi trường. Căn nhà này được dùng làm Bộ Chỉ Huy phòng thủ phi trường. Trước cổng văn phòng có hai xe “Jeep”. Một của Trung tá Thái và một là của Trung úy Dzương.
Tôi vẫn luôn nhớ đến các vị chỉ huy trực tiếp của tôi: Tr/t Tạ Văn Thái, Tr/t Nguyễn Quan Vĩnh, và Tr/t Lý Thành Ba, Tr/t Nguyễn Đức Tân, và Tr/t Nguyễn Vĩnh Tấn. Ngoài vai trò là những vị chỉ huy trực tiếp của tôi, họ là những người anh sống thân thiết, đầy tình nghĩa anh em với tôi. Vì thế, trong 6 năm làm việc tại Biên Hòa, từ ngày về nhận đơn vị, cho đến ngày mất nước, tôi chưa hề bị đổi đi đơn vị khác làm việc.
Khi chiến tranh leo thang trầm trọng, bộ chỉ huy (BCH) phòng thủ của chúng tôi được làm cho kiên cố hơn bằng cách chất thêm nhiều lớp bao cát ở trên nóc và nhiều lớp bao cát ở chung quanh. Từ đó, BCH phòng thủ trở thành BCH của cả sư đoàn 3 KQ.
Chuẩn tướng (Ch/t) Huỳnh Bá Tính, tư lệnh sư đoàn, đại tá (Đ/t) Tường, tư lệnh phó, và nhiều sĩ quan cao cấp của sư đoàn 3 KQ thường đến đây làm việc.
Trong tinh thần phục vụ tận tụy, tôi ở lại phi trường cho đến tối 27 tháng Tư, 1975. Khi chiến sự leo thang nhanh chóng, tất cả sĩ quan và binh sĩ cư ngụ trong các khu gia binh đều cho vợ con di tản về quê trước. Tôi cũng gửi vợ con tôi về sống bên ngoại ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn.
Tôi còn nhớ, đêm hôm đó chúng tôi bị việt cộng pháo kích khoảng 2000 quả đạn pháo, đủ loại, từ 122 ly, đến súng cối, đến đại bác 130 ly từ xa. Trong hầm chỉ huy của chúng tôi lúc đó còn Ch/t Huỳnh Bá Tính, Ch/t Từ Văn Bê, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận KQ, Đ/t Tường, và một vài vị đại tá mà tôi không nhớ tên. Tôi định về nhà thay quần áo, có chết cũng chết sạch, nhưng vc pháo dữ quá, các tướng tá khuyên tôi không nên đi ra ngoài vào lúc này. Chúng tôi ở trong hầm chờ đến sáng, đi thị sát tình hình rồi sẽ quyết định. Trời đã sáng. Hai chiếc trực thăng đậu phía sau hầm chỉ huy đã nổ máy. Ch/t Huỳnh Bá Tính rủ tôi cùng bay ra hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ đang đợi ngoài khơi. Tôi từ chối.
Chiều hôm đó, tôi và một số anh em binh sĩ còn lại, chạy xe khắp phi trường, xả súng bắn vào những máy bay bất khả dụng, còn để lại phi trường. Mục đích của chúng tôi là không để sau này vc còn có thể sử dụng. Chúng tôi cũng chạy xe GMC, chở các thùng xăng đầy trên đó, chạy đến các “hangar” bảo trì, vũ khí, và đạn dược, đạp thùng phuy xăng xuống, thẩy lựu đạn lân tinh và bỏ chạy.
Chúng tôi nghe trong máy truyền tin mệnh lệnh cuối cùng: Tất cả rời khỏi phi trường, ra tập trung ở sân vận động Biên Hòa. Trước khi rút lui, chúng tôi chất mấy can săng vào trong BCH, thẩy lựu đạn “lân tinh” vào và bỏ chạy, mục đích là đốt cháy tất cả tài liệu mật của phi trường Biên Hòa.
Nói về hàng ngũ sĩ quan còn ở lại với nhau, chúng tôi, tối hôm đó chỉ còn hai trung úy: Lê Thanh Du và tôi, và chừng độ 25 anh em binh sĩ, cùng chạy ra ngoài sân vận động ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, chúng tôi trở vô phi trường. Tòa nhà dùng làm hầm chỉ huy những ngày trước đã bị cháy rụi, sập xuống hoàn toàn. Một chiếc trực thăng quần trên đầu chúng tôi một lúc thì cũng bay mất.
Lúc đó, trong người tôi còn dắt 10 trái lựu đạn “mini” và còn đeo hai khẩu súng ngắn. Bạn Lê Thanh Du còn đeo một khẩu súng lục và một cây súng trường M-16. Chúng tôi quyết định chạy về Bộ Tư Lệnh KQ ở Tân Sơn Nhứt xem có lệnh lạc gì khác không. Từ Biên Hòa, chúng tôi về đến phi trường Tân Sơn Nhứt khoảng 3 giờ chiều 29 tháng Tư.
Chúng tôi chạy một vòng trong phi trường, không còn ai. Máy vô tuyến đã im tiếng từ hôm qua, không còn lệnh lạc gì nữa. Lê Thanh Du, tôi và chừng 25 anh em binh sĩ chạy theo chúng tôi từ Biên Hòa về, lẳng lặng cởi bỏ áo giáp, nón sắt, súng đạn, xếp vào trạm kiểm soát của Quân Cảnh ở cổng Phi Long. Chúng tôi ứa nước mắt, đứng nghiêm, chào nhau lần cuối cùng, tản hàng, ai về nhà nấy. Tôi còn tận tụy với chính nghĩa Quốc Gia cho tới giờ thứ 25.
Đêm hôm đó, tôi chở vợ con chạy ra Bến Bạch Đằng nhưng thấy người ta đông quá, không dám lên tàu Hải Quân. Chạy về Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ thì không vào được. Nhìn những chiếc trực thăng đáp xuống nóc tòa đại sứ đón những người đã vào được bên trong mà chúng tôi như mất hồn vì trong thâm tâm, chúng tôi đều biết rằng cuộc đời đã đến lúc vô vọng. Sáng 30 tháng Tư, nghe lệnh đầu hàng. Chấm hết.
Với những lời đồn đãi của người dân Miền Nam trước khi chế độ VNCH chấm dứt – về sự tàn ác của vc, tôi chuẩn bị tư tưởng cho những gì xấu nhất có thể xảy ra. Khi thì sống bên ngoại, khi thì sống ở nhà nội. Tôi còn đầy đủ hai khẩu súng ngắn của tôi và 5 trái lựu đạn mini. (5 trái kia, trước khi chia tay ở trong phi trường Tân Sơn Nhứt, tôi đưa cho Lê Thanh Du, người bạn thân thiết, sống với tôi cho đến giờ phút cuối trên Biên Hòa.)
Tôi cũng muốn nói thêm là trong thời bình, mỗi năm, tôi đều ra quân trường Đồng Đế dự thi bắn súng “Colt 45” với các tay thiện xạ của các quân, binh chủng khác. Tôi luôn chiếm được giải thưởng “Thiện xạ Ưu hạng của Toàn Quân”. Lúc này, ở nhà với tâm trạng rối bời, tôi nói với bố mẹ tôi rằng:
– Nhỡ đang đêm mà chúng nó gõ cửa, bắt con đi, thì con sẽ chống cự đến cùng. Khi không còn chống cự được nữa, con sẽ tung lựu đạn cho chết cả hai bên. Bố mẹ tôi bằng lòng.
Chuyện đó đã không xảy ra.
Khi tình hình có vẻ không còn nguy hiểm, tôi đạp xe dọc theo bến Bạch Đằng thả xuống sông từng nắm cơ phận rời của hai khẩu súng, cùng 5 trái lựu đạn của tôi, không chịu nạp theo lệnh của “Nhà Nước”.
Viết đến đây, tôi nhớ các bạn trong đời binh nghiệp của tôi. Tôi muốn nhân dịp này, cám ơn tấm chân tình của mọi người – những người bạn mà thuở đó, chúng tôi đã thân nhau đến cái độ có thể “mày tao, chi tớ” với nhau. Bây giờ thì người còn, người mất. Tôi vẫn muốn tri ân các bạn, không biết các bạn có dịp đọc cuốn hồi ký này của tôi không:
Vũ Ngô Khánh Truật, Vũ Duy Tỳ, Vũ Viên Hoàng, Trần Ngọc Tự, Trần Như Lâm, Trần Xuân Sơn, Lê Dzũng, Nguyễn Văn Phát, Nguyễn Văn Cung, Nguyễn Thái Công, Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Hoàng Hải, Ngô Kim Hùng, Ngô Hưng Tâm, Lê Thanh Du, Bùi Xuân Bắc, và nhiều nữa…
Sau cùng, tôi cũng phải cám ơn hiền nội của tôi, người đã “đầu ấp tay gối” với tôi suốt 52 năm qua. Người đã gian truân, chịu đựng đắng cay, chắt chiu nuôi tôi suốt 5 năm bị đày đọa trong các trại lao tù cải tạo của cộng sản. Định mệnh đã muốn chia cắt chúng tôi, kéo chúng tôi ra khỏi cuộc đời của nhau nhưng với trái tim trọn vẹn là của nhau, với tấm lòng sắt son, quyết chí tìm về với nhau, chúng tôi đã thắng định mệnh. Đến bây giờ, chúng tôi vẫn “tương kính như tân”. Chúng tôi đang chung sống yên bình dưới bóng mát của hạnh phúc.
Giấc mơ Mỹ của tôi đã trọn vẹn. Bây giờ đến giấc mơ Việt:
Tôi mơ một ngày nào “tay bắt mặt mừng” với quý độc giả, quý đồng hương, những người bạn trân quý của tôi – trên mảnh đất quê hương Việt Nam hình chữ S rợp bóng Cờ Vàng.
Nguyễn Kỳ Dzương
(Hết)
Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3 Kỳ 4 Kỳ 5 Kỳ 6 Kỳ 7 Kỳ 8 Kỳ 9 Kỳ 10 Kỳ 11 Kỳ 12 Kỳ 13 Kỳ 14 Kỳ 15 Kỳ 16
