
Tranh: Jörg Kuplens, Germany (Nguồn: www.saatchiart.com)
CỐ SỰ TÂN BIÊN
(Học mót Lỗ Tấn trong TRƯỜNG MINH ĐĂNG)
Miếu cổ
Cổ thụ oằn oại hình hài rắn rết
Thâm u rờn rợn dọa người
Tượng quái thú già nua nhiều trăm tuổi
Rêu phủ lối đi
Đá bậc vẹt mòn
.
Miếu cổ không rõ có tự bao giờ
Thờ gì?
Tướng cướp?
Danh nhân?
Rắn độc?
Trằn tinh?
Cáo chín đuôi lông bạc?
Không ai biết…
.
Leo lét cháy cây nến ngàn năm
Cùng lời nguyền rờn rợn
Nến – tắt – nếu – nến – tắt!
Thảm họa trút đầy
Mười phần chết bảy
Ba phần chết hai
Mưa trút chín ngày
Nắng khô ba ba tháng…
Rờn rợn lời nguyền
Độc địa lời nguyền
Chúng dân run rẩy
Thoi thóp thở
Len lén nhìn nến cháy
Quỳ gối
Cúi đầu
Khóc
Đấm ngực khoanh tay
Leo lét ngọn lửa hình lưỡi rắn
Đêm ngày
Tháng năm
Leo lét hình lưỡi rắn…
.
Rồi một ngày có gã ăn mày
Bặm trợn hình hài
Hổ báo cáo chồn xăm trổ
Xông xông hậu cung
.
Hít hơi căng ngực
Thổi phụt
Tắt ngúm ngọn lửa hình lưỡi rắn
Gã ăn mày ngoảy đít bước ra
Vừa đi vừa khạc nhổ
Vừa khạc nhổ vừa ca…
.
Ca rằng:
Hình lưỡi rắn ngọn lửa ma,
Ta thổi tắt phụt! Ha ha ta cười.
Thương cho giống người ngu hoài,
Ngàn năm ngu! Đời nối đời càng ngu.
Nào! Mưa thì cứ việc mưa!
Nào khô nắng! Cứ việc khô! Khô nào!
Mười phần chết bảy! Thì sao?
Mong cho chết sạch. Thì tao vừa lòng.
THÁNG TƯ
Tháng Tư. Mùa Xuân ngày đã cạn
Hoa xoan tím biếc cũng thôi mùa
Những hội hè sắp màn giã bạn
Quạnh vắng dần – sắp hết tháng Tư.
.
Một trời kỉ niệm ngày nao! Nhạt
Những lụy phiền – hình như đã phai
Trời biếc xanh – ngẩn ngơ mây trắng
Còn, mất những ai? Nhớ, quên ai?
.
Bài hát cũ hào hùng một thủa
Xin em hạ giọng – một chút thôi
Cả bài sầu thảm ngày xưa nữa
Tạm ngưng – để nước mắt không rơi!
.
Trời đất! Bỗng dưng chiều nay nhớ!
Dạ tiệc khao quân – tích Truyện Kiều
Sắt đá đại thần Hồ Tôn Hiến
Dây đàn máu nhỏ – cũng buồn theo.
.
Hiu hắt vạn vạn mồ hoang lạnh
Ước nguyện một lần. Một lần thôi
Cỏ biếc phủ che. Xanh tất cả
Lùi xa nhé! Chào mi! Buồn ơi…
.
Tháng Tư – cả một trời kỉ niệm
Mùa Xuân cạn ngày – phượng đơm hoa!
LÀNG
Tôi chưa bao giờ hét váng lên giữa đám đông đang hào hứng các loại tu từ
Giữa rưng rưng sụt sùi nước mắt tèm lem
Giữa cơn bốc đồng cũ xưa khẩu hiệu
Tên làng – nơi tôi được sinh ra
Tên làng – nơi tôi có một thủa thiếu thời
Bần hàn, lam lũ, hiu hiu, buồn lặng
Trong veo nước ao đầm
Ràn rạt những trận mưa bay
Cá tôm cua ốc gọi mùa
Sen súng bồng bềnh lặn vào kí ức tuổi thơ
Hiên ngang cây gạo trăm năm tuổi
Tháng Ba rực đỏ
Bông nõn bay bay tháng Mười
Mộ – Chu – Thượng – làng – tôi
.
Những bức tường đá ong nham nhở đoạn còn đoạn mất
Hằn in dấu thời gian
Hằn in thăng trầm nương dâu bãi bể
Cổng Bắc cổng Nam từng một thời uy nghi giờ chỉ còn lại những cái tên
Âm thầm sống
Lặng lẽ sống trong trí nhớ di truyền
Những ngôi từ đường trải mấy mưa nắng thời cuộc biến thiên giữ nguyên màu phế tích
Chẳng ai nỡ bỏ đi
Chẳng ai dám san bằng phá dỡ
Gốc ngọc lan âm thầm cứ vào mùa thay lá
Dịu dàng ướp hương đêm
Thanh khiết độ thu về…
.
Làng tôi!
Làng tôi!
Làng của tôi!
Chưa bao giờ tôi hét váng lên nơi đám đông đang hào hứng tu từ
Hào hứng nhiều khi thành cuồng loạn
Hào hứng quá hào hứng không chịu nối
Lấp ló ngôn từ nhẹ hều trôi nổi đong đưa chữ giả vờ chữ làm màu
Chưa bao giờ
Chưa bao giờ tôi hét váng lên
Hình như
Hồn thiêng Đức ông Chiêu văn vương Trần Nhật Duật lặng lẽ mỉm cười
Hình như hồn oan Đức ông Trần Nguyên Hãn trong vắ lệ rơi
Thao giang, Lô giang hòa nước
Bản tổng phổ trầm lắng
Mộ Chu Thượng như nốt lặng
Tôi thì thầm gọi tên mỗi khi trở về làng
.
Đêm sâu ngôi nhà cũ
Lặng lẽ Mẹ Cha Ông Bà Tiên Tổ lại về
Lại về Anh cả, Chị dâu, song sinh Chị gái thanh nhẹ dáng người
Chập chờn hương khói…
Đêm sâu
Chân đất
Tôi đi
Đường làng đoạn thẳng, khúc quanh, vạn vạn lá biếc lấp lánh sao trời
Ngã ba Hạc mênh mang mùa nước
Tôi thì thầm
Mộ – Chu – Thượng – làng – tôi
Đặng Tiến (Thái Nguyên)