Tôi quen biết chị qua trung tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, cụ thể hơn là trong nhóm Văn Bút vùng đông Bắc Hoa Kỳ. Lẽ ra phải kêu chị bằng cô hoặc bác mới phải đạo nhưng vì trong tình văn nghệ nên mới kêu bằng chị. Chị hiện là chủ tịch Văn Bút vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Chị tên Nguyễn Hồng Thủy là vợ của đại tá hải quân quân lực Viêt Nam Cộng Hòa. Khi thời điểm miền Nam sắp cáo chung, đại tá Bùi CửuViên được lệnh cấp trên lái tàu qua Philippine vì người Mỹ không muốn những con tàu này rơi vào tay Bắc quân. Cả gia đình chị lưu vong theo con tàu, sau đó đến Maryland định cư do có người dì ở đây bảo trợ.
Những ngày tháng mới đến Mỹ là cả một hành trình gian khó khổ đau, từ một vị phu nhân sang cả, có kẻ hầu người hạ, cuộc sống phong lưu… ấy vậy mà giờ mất tất cả. Những ngày tháng đầu ở Mỹ chị đi làm tiệm thức ăn nhanh, dọn dẹp nhà cửa…Chị kể nhiều lần trong lúc dọn nhà, chùi bồn cầu cho người Mỹ chị đóng cửa nhà vệ sinh (restroom) ngồi khóc một mình.
Thuở ấy lương lao động phổ thông chỉ chừng 2 -3 đô la một giờ, thế mà anh chị dám bỏ ra một tuần 20 mươi đô la để mướn một bà giáo người Nhật dạy đàn cho mấy đứa con. Việc mua cây dương cầm cũng là cả một sự kiện lớn, với đồng lương như thế mà cố gắng dành dụm để mua dương cầm cho mấy đứa con học. Mấy con chị vốn đã học nhạc ở Sài Gòn trước khi đi di tản, giờ mà bỏ dở thì sẽ quên hết, chính vì vậy mà anh chị hy sinh hết mình cho con cái. Đức tính hy sinh của những bà mẹ Việt Nam dù ở đâu cũng sẵn sàng cho những đứa con.
Chị kể thuở ấy Sài Gòn đẹp và thơ mộng lắm, những tà áo dài nữ sinh Gia Long, Trưng Vương khiến cho mấy anh chàng quân nhân mê đắm, cũng chính từ đây mà chị về làm vợ đại tá hải quân Bùi Cửu Viên.
Năm ấy, khi chồng chị được lệnh thuyên chuyển về Sài Gòn. Chị về trước để chuẩn bị nhà cửa và cũng dịp này những người bạn rủ nhau đi phòng trà Tự Do để nghe nhạc, khi đi nghe nhạc chị mang theo cả cô con gái Uyển Diễm lúc ấy mới lên năm. Phòng trà này là một phòng trà danh tiếng của đô thành Sài Gòn, nơi này thường quy tụ nhiều thành phần trí thức thượng lưu. Đêm ấy có những ca sỹ danh tiếng như Mai Hương, Khánh Ly, Khánh Hà, Anh Tú, Tuấn Ngọc, nữ tài tử Thúy Ngọc…Phòng trà thật sôi động, nồng nhiệt với những giọng ca vàng của Hòn Ngọc Viễn Đông. Bất ngờ một tiếng nổ vang lên, tất cả trở nên hỗn loạn như thể ngày tận thế. Vợ chồng nha sỹ Cân – Sang bạn của chị chết ngay lập tức cạnh chị, xác chết của khán giả chết la liệt khắp nơi. Trên sân khấu thì ca sỹ Mai Hương nằm bất tỉnh. Nữ tài tử Ngọc Thúy chết tại chỗ…Cả phòng trà tan nát, đổ vỡ, hỗn loạn. Chị tận mắt thấy những người bạn của mình chết chẳng toàn thây vì sức sát thương của mìn claymore. Chị kể lại ngày hôm sau đến nhà xác để thăm những người bạn chết oan ức đêm hôm trước thì một cảnh tượng kinh hoàng diễn ra trước mắt. Vì số thi thể nạn nhân quá nhiều nên không còn hộc chứa, bởi vậy mà nhiều thi thể để dưới đất và đặt bên cạnh một cây nước đá lạnh.
Sau này chị bảo với ca sỹ Mai Hương rằng: Có một điều rất khó hiểu, không biết là nhờ may mắn hay số phận do chúa an bài mà chị và con gái chị là Uyển Diễm không hề hấn gì, mặc dù chị ngồi ở hàng ghế đầu tiên cạnh sân khấu. Theo lời chị kể thì lúc ấy chị ôm bé Uyển Diễm vào lòng vì hơi lạnh từ máy lạnh tỏa ra quá mạnh, cũng nhờ vậy mà bé mới thoát nạn. Sự việc diễn ra như một cơn ác mộng. Rất nhiều giả thuyết đặt ra là Việt Cộng cài mìn để khủng bố, việc này vẫn thường xảy ra suốt những năm tháng ấy như:Vụ cài lựu đạn giết chết giáo sư Nguyễn Văn Bông, vụ ném lựu đạn giết chết ông Trần Đình An – một cán bộ của Nông Tín Cuộc, vụ ném lựu đạn ở vận động trường Quy Nhơn nhằm giết ông tỉnh trưởng nhưng trái lựu đạn lại rơi vào giữa nhóm học sinh nên số học sinh chết la liệt…Những năm tháng ấy quả thật đáng sợ biết bao, ngày nào cũng có báo cáo những vụ cài bom, ném lựu đạn, đắp mô, giật mìn…Chiến tranh vô cùng tàn khốc, người chết, nhà cửa tan nát, ruộng đồng hoang hóa, tiếng oán thán ngất trời. Nếu hai bên đánh nhau, tấn công vào những mục tiêu quân sự thì không nói làm gì, đằng này những mục tiêu dân sự cũng bị tấn công, mạng sống thường dân cũng nguy hiểm chẳng khác gì nhân viên chính quyền hay quân nhân.
Một thời chiến tranh tàn khốc qua đi với sự bại trận của miền Nam, đây cũng là lý do khiến hàng triệu người Việt đi tỵ nạn, di tản và sau đó là vượt biển, vượt biên, HO, ODP…Thời chị đến nước Mỹ chưa có cộng đồng Việt Nam, cuộc sống phải làm lại từ con số không, cũng may là có người Dì bảo trợ lúc đầu. Có một vị đại tá người Mỹ vốn cùng hoạt động với đại tá hải quân Bùi Cửu Viên trước kia, ông ấy ngỏ ý bảo trợ anh chị qua Alaska nhưng anh chị từ chối. Theo lời chị nếu lúc ấy qua Alaska thì sẽ có nhiều cơ hội để cựu đại tá Bùi Cửu Viên sớm nhập vào dòng chính thống nhưng anh chị quyết định ở lại Maryland cho đến tận hôm nay.
Chị Hồng Thủy kể lại nhiều giai thoại vừa tếu mà cũng vừa bi hài: Sau khi phòng trà Tự Do bị cài mìn khiến cho nhiều người chết, cơ sở vật chất tan tành. Báo chí hôm sau đăng tin loạn cả lên nhưng nhiều báo đăng thiếu chính xác, nhiều báo viết tắt ĐT Viên nên khiến nhiều người nhầm lẫn là bà đại tướng Cao Văn Viên, bởi vậy mà có người gọi vào số điện thoại của bà đại tướng hỏi thăm khiến bà ấy bực minh và cử người tìm hiểu xem “mụ” đại tá nào đi nghe nhạc để rồi thiên hạ lầm là bà. Sau này ra hải ngoại vẫn còn tiếp diễn, có lần có người gọi vào số điện thoại của chị nói muốn gặp bà đại tướng để hỏi thăm về vụ phòng trà Tự Do. Chị tưởng là bạn bè nên vui vẻ trả lời: “Chỉ có bà đại túng chứ không có bà đại tướng nào ở đây” ai dè người lạ gọi lộn số nên cũng quê quê. Chị cười, bà đại túng quả thật tếu nhưng cũng hiện thực và cay đắng lắm, những lúc ấy mới đến Mỹ ai cũng đại túng.
Chị và ca sỹ Mai Hương quen biết từ những ngày xưa ở Sài Gòn cho đến ra hải ngoại sau này. Bây giờ chị là chủ tịch Văn Bút vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, giúp kết nối những người yêu thơ văn chữ nghĩa lại với nhau, liên kết giữa những người cầm bút với nhau chung một sân chơi. Cuộc chiến đã qua rồi nhưng vết thương của nó chưa lành hẳn, vẫn còn âm ỉ nhức nhối dù rằng chẳng ai muốn thế. Những ngày tháng cực nhọc đầy lệ khi mới đến đất này cũng đã xa, bây giờ con cái đã thành đạt, có thể nói là “qua cơn bĩ cực đến hồi thới lai” hoặc “ phải chăng khổ tận đến ngày cam lai”. Mãi nói chuyện với chị mà tôi quên hỏi một vấn đề: Chị nghĩ gì khi ca sỹ Tuấn Ngọc cũng từng ở trong hoàn cảnh ấy nhưng nay lại tự ý đổi lời ca “Trời mùa thu, chiều nay buồn lắm em ơi!”. Ừ, chiều nay buồn thật phải không chị?
Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0626



