Sòng bạc Đại Thế Giới (Grande Monde) – (Ảnh: Manhhai, Flickr)
MÁ TÔI, NGƯỜI CỦA ĐẤT NÀY
Má tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, trong những con hẻm ngoằn ngoèo của Quận 8. Bà là con thứ bảy trong một gia đình đông anh em, nhưng hồi nhỏ tôi chỉ biết có ba người còn lại: cậu hai, dì sáu, cậu tám. Những người khác đã rời cõi tạm từ khi còn rất nhỏ. Bà con bên ngoại tôi rải rác quanh Quận 5, Quận 6, Quận 8, Quận 10, những khu vực từ lâu gắn bó với đời sống người Hoa và giới thương hồ trên sông nước Chợ Lớn.
Ông ngoại tôi là thầy võ, dạy cho lính Bình Xuyên, nhưng không chỉ có vậy, ông còn là tay buôn có hạng, quản lý cả một đoàn ghe thương hồ chở muối chạy dọc Nam Kỳ lục tỉnh. Hồi nhỏ, má tôi sống trong nhà của người cô, là chị ruột của ông ngoại. Bà là một phú thương có tiếng ở Chợ Lớn, buôn hàng vải, muối, lúa gạo. Nhà bà cô bề thế lắm. Gạch lát men xanh bóng loáng, bàn ghế gỗ gụ đen thẫm, tủ trưng đầy bình sứ men lam mang từ bên Tàu qua.
Nhưng điều tôi thích nghe nhất vẫn là những mẩu chuyện nhỏ của má về chợ búa, về bến ghe, về những buổi chiều Sài Gòn đầy gió. Tiếng rao hàng lanh lảnh của mấy chị bán bánh da lợn. Tiếng cá quẫy trong thau nước trước cửa tiệm tạp hóa. Tiếng kéo lách cách của ông thợ hớt tóc bên lề đường. Những âm thanh ấy, qua lời kể của má, sống động như một bản nhạc không bao giờ tắt hẳn trong trí tôi dù người kể đã không còn nữa.
ĐẠI THẾ GIỚI – NƠI TIỀN VÀ MÁU CÙNG CHẢY
Rồi má kể về sòng bài Đại Thế Giới. Giọng bà khi đó trở nên khác, cũng không hẳn là ngưỡng mộ, mà là cái giọng của người đã sống đủ gần với một điều gì đó nguy hiểm để hiểu nó, nhưng đủ xa để không bị nó cuốn đi.
Sòng bạc Đại Thế Giới được lập ra năm 1937, do tay trùm cờ bạc Ma Cao tên Lâm Giống đứng ra điều hành, dưới sự bảo trợ ngầm của người Pháp. Nằm trên đường Gallieni nay là Trần Hưng Đạo B, Quận 5, nơi đây nhanh chóng trở thành “thỏi nam châm” hút hết các tay máu me đỏ đen từ khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và cả miền Tây. Mỗi ngày, hàng triệu đồng Đông Dương đổ vào đây như nước lũ. Quyền bảo hộ chỉ việc thu thuế; mọi điều hành nằm trong tay dân anh chị.
Bên trong sòng bạc, không chỉ có bài bạc, còn có vũ trường, nhà hàng, phòng trà ca nhạc. Những ca nữ xinh đẹp trong bộ sườn xám thướt tha, cầm quạt che nửa mặt, cười khúc khích sau những bàn xí ngầu. Má tôi gọi họ là “xẩm hồ ly”, một danh xưng nửa đùa nửa thật của dân Sài Gòn dành cho những cô gái làng chơi lai Tàu sang trọng. Nghe cái tên thôi đã thấy trong đó vừa có sự hấp dẫn, vừa có cái gì như mùi nguy hiểm lảng vảng không tan.
Mỗi ngày, tiền thuế của Đại Thế Giới đóng cho chính phủ không dưới 500.000 đồng Đông Dương. Chưa kể các khoản chi ngầm cho quan chức, cảnh sát, và những tay anh chị hoạt động trong bóng tối. Đó là thứ quyền lực không cần tuyên ngôn, không cần nghi lễ, chỉ cần tiền và súng.
Khi Bảy Viễn là thủ lĩnh Bình Xuyên, ông nhìn ra miếng bánh béo bở này, nên không chần chừ mà tìm cách nắm ngay lấy nó. Dưới thời Bảo Đại, Bảy Viễn dâng sòng bạc cho Quốc trưởng, đổi lấy quyền kiểm soát cảnh sát và quân đội miền Nam. Một số năm, Đại Thế Giới trở thành địa bàn bất khả xâm phạm của Bình Xuyên. Không một thế lực nào có thể chen chân vào và cũng không ai dám thử.
Thời hoàng kim ấy không kéo dài. Khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, Bình Xuyên bị đánh bật khỏi Sài Gòn, sòng bạc Đại Thế Giới bị dẹp bỏ. Một đế chế cờ bạc lừng danh sụp đổ, không kèn không trống, nhường chỗ cho một Sài Gòn khác đang dần thay da đổi thịt.
Ngày nay, khu Đại Thế Giới nằm im lìm bên đường Võ Văn Kiệt, hoang phế như một kẻ già nua bị người đời quên lãng. Sau một thời gian làm công viên nước, hoạt động từ năm 1999 đến tháng 1 năm 2020, nơi này bỏ hoang đã hơn năm năm. Cây cỏ um tùm phủ kín lối đi, tường vôi nứt nẻ, hồ bơi từng sầm uất giờ chỉ còn một vũng nước đen sì bốc mùi ẩm mốc. Khu sân khấu nổi, từng vang tiếng ca múa mỗi chiều Chủ nhật, nay cột bê tông bong tróc, cỏ dại mọc lấn từng tấc. Cái công viên rộng 4.000 mét vuông ấy, từng gắn bó với bao thế hệ người thành phố, giờ trở thành một vùng đất không ai muốn nhận.
Tôi đứng nhìn tấm ảnh chụp khu đó mà lòng thấy có thứ cảm giác kỳ lạ vì nhận ra rằng, một nơi chốn trải qua quá nhiều thân phận, từ sòng bạc đến chốn vui chơi đến hoang phế, thì chính sự hoang tàn ấy lại trở thành lớp ký ức trung thực nhất của nó.
BÌNH XUYÊN – TỪ RỪNG SÁC RA TỚI SÀI GÒN
Bình Xuyên vốn chỉ là tên một cái ấp nhỏ thuộc làng Chính Hưng, xóm Rạch Ông, Quận 8. “Bình” là bình định, “Xuyên” là sông rạch. Nghe hiền hòa, chẳng ai ngờ cái tên ấy về sau lại gắn liền với những năm tháng làm rúng động cả Sài Gòn – Chợ Lớn.
Lúc khởi đầu, Bình Xuyên chỉ là những toán cướp sống trong rừng Sác, bưng biền Cần Giờ, nơi nước lợ và muỗi vắt làm chùn chân bất kỳ ai gan dạ mấy cũng phải ngán. Từ cái nôi hoang dã đó, Lê Văn Viễn tức Bảy Viễn, từ một gã du côn vươn lên thành thủ lĩnh. Người ta nói, trong thời loạn, giang hồ dễ làm nên chuyện lớn. Bình Xuyên không chỉ cướp bóc mà còn biết tổ chức, biết lấy tiền đổi súng, biết lợi dụng thế cuộc để sinh tồn và lớn mạnh.
Giai thoại kể rằng, một đêm Bảy Viễn cùng đàn em cắm trại bên mé rừng Sác, chợt thấy đốm sáng lập lòe trên mặt nước. Tưởng ma trơi, nhưng khi lội ra thì hóa ra là ánh phản chiếu từ những thùng súng của Pháp bị chìm, trôi dạt vào bờ. Đám giang hồ vớ được của trời, từ đó có khí giới đủ sức mở rộng địa bàn. Không biết thực hư thế nào, nhưng nghe mà thấy cái số phận của Bình Xuyên ngay từ đầu đã gắn liền với sông nước, với may rủi, với những thứ từ dưới nước nổi lên.
Thời Nhật đảo chính Pháp, Bình Xuyên ngả theo Việt Minh, được vũ trang, được huấn luyện, từ băng cướp rừng xanh trở thành một lực lượng thực thụ. Nhưng chính lúc này, mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh. Người ta kể, trong một lần họp bàn chiến sự, một lãnh đạo Việt Minh buông lời nặng:
— Mấy anh chỉ là lũ thảo khấu!
Bảy Viễn nhếch mép cười, đập tay lên chuôi súng:
— Thảo khấu mà đánh đấm ra trò hơn mấy ông quan văn thì sao?
Câu chuyện ấy lưu truyền như lời báo trước cho sự rạn nứt không thể hàn gắn. Bảy Viễn rẽ sang hướng khác, theo Pháp, giữ đất Sài Gòn, xây một đế chế riêng. Khi đã nắm được thành phố, Bình Xuyên kiểm soát cảnh sát, sòng bạc Đại Thế Giới, trường đua ngựa, động điếm và cả đường dây thuốc phiện. Người ta nói, có thời điểm không một viên gạch nào đặt xuống Sài Gòn mà không qua tay Bình Xuyên.
NHỮNG NGƯỜI CỦA BÌNH XUYÊN
Má tôi hay kể, Bình Xuyên không chỉ có Bảy Viễn. Còn có Mười Trí, tay đại ca giỏi võ, giang hồ nhưng có nghĩa khí, khác Bảy Viễn ở chỗ ông chọn đi theo kháng chiến đến cùng. Còn có Hoàng Thọ, người mà má hay nhắc với giọng kính nể lẫn thương xót. Thân hình cao lớn, râu quai nón rậm rạp, đánh giặc gan lì như cọp dữ. Ông không chịu đi tập kết ra Bắc năm 1954, trốn ở lại, rồi bị thủ tiêu năm 1955. Một đời người như vậy, ngắn và dữ dội, không kịp để lại gì ngoài mấy câu chuyện truyền miệng.
Bình Xuyên từ giang hồ mà ra, nên cách hành xử cũng mang màu sắc giang hồ rõ ràng. Họ không chấp nhận sự ràng buộc của chính trị, không muốn nghe lệnh từ trung ương. Họ đánh Pháp, nhưng sẵn sàng đánh luôn cả quân Quốc gia, đánh luôn cả Việt Minh nếu thấy cần. Giữa một Sài Gòn loạn lạc, họ không chỉ cầm súng mà còn cầm tiền bạc và quyền lực. Đó là thứ vũ khí đôi khi còn nguy hiểm hơn cả đạn.
Vì vậy mà đến năm 1955, Ngô Đình Diệm quyết định dẹp họ. Cuộc chiến giữa Bình Xuyên với chính quyền Ngô Đình Diệm, xét cho cùng, không chỉ là cuộc đối đầu quân sự mà còn là cuộc đụng độ giữa hai thứ trật tự khác nhau. Một bên là nhà nước, một bên là giang hồ. Và trong cuộc đụng độ ấy, giang hồ thua là điều gần như không tránh khỏi, dù thua rất đẹp.
Đêm tháng Tư năm 1955, súng nổ ở cầu Chữ Y, Sài Gòn thấm máu. Trước đêm giao tranh, có người khuyên Bảy Viễn rút lui:
— Đại ca, thời tới thì cản không nổi, nhưng thời tàn thì có giữ cũng không xong!
Bảy Viễn rít một hơi thuốc, gằn giọng:
— Biết vậy, nhưng tao không muốn thua trong im lặng!
Khi đại tá Dương Văn Minh dẫn quân vào Rừng Sác, Bảy Viễn biết mình đã hết đường. Ông bỏ chạy qua Campuchia, rồi lưu vong sang Pháp. Bình Xuyên tan rã. Những tay du đãng từng làm mưa làm gió, kẻ bị bắt, kẻ bị giết, kẻ rã đám mất hút trong dòng đời.
SÀI GÒN VẪN CÒN ĐÓ, NHƯNG NGƯỜI THÌ KHÔNG
Ngày nay, dấu tích Bình Xuyên chỉ còn lại trong ký ức, trong những câu chuyện truyền miệng ở quán cà phê vỉa hè, trong lời kể của những người già còn nhớ. Người ta nói, nếu Sài Gòn có một “huyền thoại gangster” như Chicago với Al Capone, thì Bình Xuyên chính là phiên bản đầy bụi bặm và bi tráng của nó.
Một, hai người cậu họ của tôi là lính Bình Xuyên, theo kháng chiến rồi ra Bắc, giờ cũng đã mất. Ông ngoại tôi dạy võ cho Bình Xuyên, buôn muối trên sông, rồi cũng đi. Má tôi kể chuyện Đại Thế Giới, kể chuyện xóm Rạch Ông, kể về tiếng rao của mấy chị bán bánh da lợn, rồi má cũng đi.
Tôi viết bài này không phải để hoài niệm một quá khứ xa xôi, cũng không phải để tiếc thương những gì đã mất. Tôi viết bởi vì có những thứ, nếu không ai ghi lại, sẽ tan biến hoàn toàn không còn dấu vết. Sài Gòn không chỉ là nhà cao cửa rộng, xe cộ nườm nượp. Nó còn là những mảnh đời chồng lên nhau qua nhiều thế hệ, là những con người đã sống hết mình giữa thời cuộc, dù đúng dù sai, dù giang hồ hay lương thiện.
Bình Xuyên đã mất. Đại Thế Giới đã hoang. Má tôi đã đi. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi lần tôi viết về Sài Gòn, tôi lại thấy tất cả những điều đó vẫn còn đâu đó. Không phải trong đá trong gạch, mà trong cái cách tôi nhớ về chúng. Ký ức chính là hình thức tồn tại bền bỉ nhất mà con người có thể dành cho nhau. Bền hơn sòng bạc, bền hơn quyền lực, và bền hơn cả thời gian.
Nguyễn Đông A
