Binh Phamvan: Một Quán Cà Phê Cho Những Người Ở Lại

Chị Huệ (Ảnh trên mạng.)

Tôi không sinh ra ở Dalat, nhưng lại lớn lên cùng từng nhịp thở của thành phố này, như một kẻ lữ hành đến sớm rồi ở lại luôn, không cần lý do. Năm tôi bốn tuổi, cha mẹ bồng tôi trở về, vì nơi đây còn có mệ nội , người đàn bà tóc đã bạc, dáng đã còng, nhưng ánh mắt thì vẫn sáng như sương sớm trên đồi. Khi ấy, tôi chưa hiểu thế nào là “quê hương”, chỉ biết rằng Dalat là nơi có hơi lạnh len vào từng buổi sáng, có mùi khói bếp chiều, và có những con người mà sau này, tôi gọi bằng cả một đời thương nhớ.

Trong ký ức dài rộng của mình, có một quán cà phê nhỏ, nằm khuất sau dãy phố Vĩnh Xương cũ. Quán không bảng hiệu lớn, không đèn màu rực rỡ, nhưng lại có một thứ ánh sáng riêng ,thứ ánh sáng của con người. Người ta gọi đó là quán cà phê chị Năm, chị Huệ.

Tôi biết quán từ những năm đầu thập niên sáu mươi, khi mình vừa tròn một con giáp , cái tuổi bắt đầu biết nhìn, biết nhớ, và biết phân biệt những điều thân thuộc. Khi ấy, phía trước quán là một khoảng không gian luôn rộn ràng , xe cộ từ bến Thuận Đức đi miền Trung, xe Minh Trung xuôi Sài Gòn, xe Tùng Nghĩa về Đức Trọng… Những chuyến xe đi qua, mang theo bao nhiêu số phận, nhưng quán cà phê ấy vẫn ở đó , lặng lẽ như một điểm dừng của đời người.

Quán chị Năm, chị Huệ đông khách. Không phải vì sang trọng, mà vì cái tình. Buổi sáng, khói bếp tỏa lên cùng mùi bánh mì nóng, trứng ốp la vừa chín tới. Người ta gọi là oeufs au plat, một cách gọi nghe vừa Tây, vừa rất Dalat . Đĩa trứng bày trên chiếc dĩa nhôm đã móp méo theo năm tháng, lòng đỏ vàng ươm như nắng sớm, lòng trắng mềm mại như sương. Bên cạnh là vài khoanh thịt ba chỉ cuốn tròn, lớp da nhuộm đỏ, mỡ trong veo, thịt nạc vừa phải , tất cả như một bức tranh giản dị mà đủ đầy.

Ăn xong, người ta gọi một ly cà phê đen, hoặc cà phê sữa. Có người gọi thêm ly Ovaltine. Khói cà phê bốc lên, quyện với hơi lạnh Dalat, thành một thứ hương rất riêng , hương của ký ức.

Ngày ấy, được ăn một bữa sáng như vậy không phải chuyện thường. Đó là phần của giáo sư, công chức, quân nhân, hay những tiểu thương có chút dư dả. Tôi, một đứa trẻ, chỉ dám đứng bên ngoài, mua ổ bánh mì thịt rồi cầm tay ăn, vừa đi vừa nhai, nghe lòng mình cũng ấm lên theo từng miếng bánh.

Quán ấy, thực ra không chỉ bán cà phê.

Quán bán cả cách sống.

Hai người phụ nữ , chị Năm và chị Huệ , không học trường lớp kinh doanh nào, không biết đến những khái niệm phục vụ hay chăm sóc khách hàng. Nhưng họ biết cách nhìn người, biết cách nói chuyện, biết cách làm cho người ta thấy mình được chào đón. Một câu hỏi thăm, một nụ cười nhẹ, một cách pha cà phê tỉ mỉ , tất cả trở thành thứ “nghi thức” mà không trường lớp nào dạy được.

Tôi gọi họ là “chị”, dù lẽ ra phải gọi là “dì”. Chị Năm sinh năm Tý, 1923, chỉ thua cô tôi một tuổi. Nhưng từ ngày đầu tiên bước vào quán, được chị gọi bằng cái giọng thân mật: “Chú mày…”, tôi tự nhiên thấy mình nhỏ lại, và cũng gần gũi hơn.

Có những buổi chiều, khoảng hai ba giờ, tôi ghé quán. Không phải để uống cà phê , mà để gặp người. Nguời đó là chị Năm và chị Huệ.

Tôi ngồi đó, chỉ mười hay mười lăm phút, nhưng đủ để nghe vài câu chuyện, đủ để cười với nhau vài tiếng cười nhẹ.

– Dạo này chú mày có xuống thăm cô không? chị Năm hỏi.

– Có chứ, em mới xuống thăm bà O…

– Cô em cho chỉ vàng thì xuống liền, không cho thì ít xuống lắm! – tôi đùa.

Chị cười, mắng yêu:

– Thằng cháu ba trợn!

Và chị Huệ, từ phía sau quầy, vừa pha cà phê vừa chen vào:

– Nó nói vậy thôi, chứ không phải vậy đâu chị!

Những câu chuyện nhỏ, không đầu không cuối, nhưng lại giữ người ta ở lại lâu hơn cả ly cà phê.

Có lần chị Năm hỏi:

– Chú mày trả tiền chưa?

Tôi nhanh miệng:

– Thấy chị là em trả trước cho chị Huệ rồi. Đời nào chị cho em trả sau!

Ba người cùng cười. Tiếng cười ấy, bây giờ nhớ lại, nghe như vọng từ một nơi rất xa.

Rồi đời người cũng như những chuyến xe ngoài kia , có đến, có đi.

Một ngày, tôi thấy quán đóng cửa.

Tôi hỏi.

(Ảnh đen trắng do anh Paul le Minh chụp tại quán)

Chị Huệ nói, giọng nhẹ mà buồn:

– Chị về Sài Gòn đưa tiễn chị Năm… chị mất rồi.

Tôi đứng lặng.

Một cái tên quen thuộc, một giọng nói quen thuộc, một dáng người đã từng đi bộ hơn cây số rưỡi từ đường Hàm Nghi ra quán , bỗng chốc trở thành ký ức.

Từ hôm đó, quán vẫn mở, nhưng thiếu đi một nửa.

Rồi không lâu sau, quán lại đóng cửa.

Lần này, không còn ai để hỏi.

Người ta nói:

– Chị Huệ cũng đi rồi.

Thế là hết.

Một quán cà phê, hai người phụ nữ, một thời gian dài , khép lại như một trang sách cũ.

Có những nơi chốn, không phải vì đẹp mà người ta nhớ.

Mà vì ở đó, có người.

Chị Năm, chị Huệ , hai người phụ nữ bình thường, không bằng cấp, không danh xưng , nhưng lại để lại một dấu ấn sâu hơn cả những gì người ta gọi là “thành đạt”. Họ học ở trường đời. Họ hiểu rằng một ly cà phê không chỉ là nước uống, mà là cái cớ để người ta ngồi lại với nhau.

Họ hiểu rằng một quán nhỏ có thể trở thành một phần của thành phố, nếu trong đó có tình người.

Dalat bây giờ khác xưa nhiều.

Những quán cà phê mọc lên như nấm, đẹp hơn, sang hơn, có nhạc, có đèn, có cả những thứ mà ngày xưa không ai nghĩ tới. Nhưng đôi khi, giữa những ồn ào ấy, tôi lại nhớ một chiếc bàn gỗ cũ, một cái dĩa nhôm móp, một ly cà phê đen không trang trí.

Và nhớ hai người phụ nữ.

Người ta thường nói về Dalat bằng hoa, bằng sương, bằng những mùa mưa nắng.

Còn tôi, khi nghĩ về Dalat, tôi nhớ một quán cà phê.

Một quán cà phê đã mất.

Nhưng thật ra, không mất.

Nó vẫn còn đó, trong ký ức của những người đã từng ngồi xuống, đã từng cầm ly cà phê nóng trong tay, đã từng nghe một câu hỏi giản dị:

– Chú mày uống gì?

Thời gian có thể lấy đi mọi thứ.

Nhưng có những điều, càng mất lại càng hiện rõ.

Như một buổi chiều Dalat có mưa.

Như tiếng cười của người đã khuất.

Như một quán cà phê ,dành cho những người ở lại./.

Binh Phamvan

*Bài do CTV/TVBH gởi.

Bài Mới Nhất
Search