Ahn Hak-sop bị miền Nam bắt trong Chiến tranh Triều Tiên và bị cầm tù hơn 40 năm. Ở tuổi 95, ông muốn trở về miền Bắc để qua đời.
The NYT: The Communist Warrior Stranded for Decades in an ‘American Colony’
(Chuyển ngữ tiếng Việt: Gemini; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)
Tác Giả: Choe Sang-Hun, từ Gimpo, Hàn Quốc
Ông Ahn Hak-sop chống gậy và tì tay lên bàn ăn, từ từ hạ mình xuống ngồi trên sàn nhà với tốc độ chậm chạp. Từng là một võ sĩ Judo vạm vỡ, giờ đây ông chỉ còn là cái vỏ bọc của một con người, bị cuộc sống bào mòn ở một quốc gia thù địch – Hàn Quốc, nơi đã giam cầm ông hơn bốn thập kỷ.
Giọng ông nói chậm và ngọng nghịu do bộ răng giả, nhưng ông Ahn vẫn nhiệt tình giải thích lý do ông căm ghét nước Mỹ. Qua những từ ngữ ông dùng – “đồng chí,” “đấu tranh,” “chủ nghĩa đế quốc,” “thuộc địa,” và “độc lập” – không thể nhầm lẫn sự cống hiến của cựu chiến binh Bắc Triều Tiên này cho chủ nghĩa cộng sản.
“Tôi vẫn đang cố gắng tìm hiểu cái gọi là chủ nghĩa tư bản,” ông Ahn, 95 tuổi, nói. Xung quanh tường nhà ông là những bức tượng làm bằng giấy bồi, nhại lại hình ảnh Chú Sam và Tượng Nữ thần Tự do như những kẻ hiếu chiến khát máu, chỉ biết yêu tiền và vác súng máy. “Người dân Hàn Quốc không nhận ra rằng họ là nô lệ trong một thuộc địa và các lãnh đạo của họ không thể làm gì nếu không có sự chấp thuận của Mỹ.”
Chiến tranh Triều Tiên đã đi đến thỏa thuận ngừng bắn cách đây 72 năm, sau khi hàng triệu người đã ngã xuống. Nhưng với ông Ahn, cuộc chiến chưa bao giờ kết thúc. Thời trai trẻ, ông chiến đấu cho miền Bắc. Ông bị miền Nam bắt trong cuộc xung đột và sau đó sống sót qua 42 năm 4 tháng trong tù vì tội gián điệp, chủ yếu trong xà lim biệt giam. Được thả vào giữa thập niên 90, ông vẫn ở lại miền Nam để tiếp tục theo đuổi sứ mệnh của đời mình: loại bỏ quân đội Mỹ khỏi Bán đảo Triều Tiên.
Ông Ahn bên ngoài nhà mình ở Gimpo, gần biên giới với Bắc Triều Tiên.
Những ngày này, ông Ahn đang tiến hành trận chiến cuối cùng của đời mình: ông muốn trở về Bắc Triều Tiên để chết ở nơi mà ông coi là quê hương chính trị và tư tưởng. Cuộc tìm kiếm này có vẻ hão huyền, vì miền Bắc đã trở nên quá thù địch với miền Nam đến mức không còn muốn giao tiếp nữa. Nhưng ông Ahn có một nhóm nhỏ những người ủng hộ, họ tổ chức các cuộc biểu tình thay cho ông ở Seoul, kêu gọi cả hai miền Triều Tiên đồng ý hồi hương cho ông như một cử chỉ hòa giải. Khi sức khỏe cho phép, ông tham gia cùng họ, bước đi chậm rãi với sự giúp đỡ và phát biểu từ một chiếc xe lăn.
“Tôi không muốn được chôn cất ở cái thuộc địa của Mỹ mà Hàn Quốc đang là,” ông Ahn nói. “Tôi muốn dành những ngày cuối cùng của cuộc đời ở miền Bắc, Triều Tiên duy nhất tự do và độc lập, và muốn được chôn cất ở đó bên cạnh những đồng chí cũ của tôi.”
Vào một ngày hè gần đây, ông Ahn ngồi trả lời phỏng vấn trong căn nhà bê tông lụp xụp của mình gần Khu Phi quân sự, nơi chia cắt hai miền. Những dây bí ngô bò lên hàng rào bên ngoài dưới bầu trời xanh trong. Bên trong phòng khách của ông là một không gian ngập tràn các khẩu hiệu và tác phẩm nghệ thuật chống Mỹ do cô con gái nuôi của ông, Jeong Mi-sook, làm ra. Cô là người mà ông nhận nuôi sau khi được thả khỏi tù.
Các tác phẩm nghệ thuật của con gái nuôi ông Ahn, Jeong Mi-sook, nhại lại nước Mỹ. Ông Ahn vẫn kịch liệt phản đối sự can thiệp của Mỹ trên Bán đảo Triều Tiên.
Chiếc thảm chùi chân của ông mang hình lá cờ Mỹ với dòng chữ: “Yankees, cút đi!” Cô Jeong, một nghệ sĩ thực hiện tranh từ giấy bồi, đã tái hiện cảnh quân đội Mỹ thảm sát phụ nữ và trẻ em Triều Tiên trong chiến tranh – một chủ đề quen thuộc trong tuyên truyền của Bắc Triều Tiên. Treo trên tường là những câu nói của Jimmy Carter (người từng gọi Mỹ là “quốc gia hiếu chiến nhất trong lịch sử thế giới”) và Martin Luther King Jr. (người nói rằng chính phủ Mỹ là “nguồn cung cấp bạo lực lớn nhất trên thế giới ngày nay”).
Ông Ahn bây giờ bị nặng tai và thường xuyên mất mạch suy nghĩ. Nhưng ông không hề tỏ ra hối tiếc khi kể câu chuyện về cuộc đời phục vụ, quãng thời gian dài trong tù và cuộc sống hiện tại trong một quốc gia mà ông coi là giàu có nhưng bị áp bức.
“Người dân Hàn Quốc có thể tuyên bố họ sống tốt, nhưng bạn định nghĩa ‘sống tốt’ là gì?” ông nói, khi nói về sự ưu tiên của ông đối với hệ thống chính trị Bắc Triều Tiên và cuộc đời đầy biến cố của chính mình.
Ông Ahn sinh ra ở Ganghwa, một hòn đảo phía tây Seoul, vào năm 1930 khi đế quốc Nhật Bản cai trị Triều Tiên. Ông là một thiếu niên khi sự chiếm đóng của Nhật Bản kết thúc nhờ chiến thắng của Đồng Minh trong Thế chiến II. Bán đảo Triều Tiên bị chia cắt thành miền Bắc cộng sản và miền Nam thân phương Tây.
Nhưng với nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc như ông Ahn, sự cai trị thuộc địa chưa bao giờ kết thúc; nó chỉ đơn giản là chuyển giao từ tay người Nhật sang tay người Mỹ.
Tra Tấn Các Chiến Binh Cộng Sản
Triều Tiên nhanh chóng rơi vào một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Trong khi quân đội Trung Quốc tràn qua biên giới để giúp đỡ Bắc Triều Tiên, quân đội Mỹ vẫn duy trì ưu thế trên không bằng một chiến dịch ném bom khủng khiếp. Khi đó, ông Ahn khoảng 20 tuổi.
“Tôi đã thấy những người bị trúng bom napalm của Mỹ,” ông kể. “Khi họ xé lớp quần áo cháy dở, cả da thịt cũng tróc ra. Điều tôi nhớ mãi đến tận bây giờ là những cô gái trẻ lấy đôi tay đang cháy bỏng che đi phần cơ thể riêng tư của mình ngay cả khi họ đang hấp hối.”
Một máy bay của Không quân Mỹ thả bom napalm xuống một khu vực cách Bình Nhưỡng 35 dặm vào tháng 5 năm 1952.
Vào tháng 10 năm 1952, ông Ahn dẫn đầu một tiểu đội tiến về phía Nam để liên lạc với các chiến sĩ du kích cộng sản tại các dãy núi hiểm trở phía đông Hàn Quốc và giúp họ tái thiết các hoạt động du kích. Được trang bị đầy đủ và mặc quân phục Bắc Triều Tiên, nhóm của ông đã chiến đấu và liên tục bị phục kích trên đường đến đích.
Đến tháng 4 năm 1953, ba tháng trước khi hiệp định đình chiến được ký kết, chỉ còn duy nhất ông Ahn sống sót. Đang đói lả, ông nấu hai củ khoai tây trên một ngọn đồi thì bị lính biệt kích Hàn Quốc bao vây. Một tòa án quân sự đã kết án ông tù chung thân vì tội gián điệp.
Những tù nhân cánh tả như ông bị giam trong các xà lim biệt giam, chỉ lớn hơn một chiếc giường một chút, với một cái lỗ ở góc làm nhà vệ sinh. Giòi bọ bò ra khi các tù nhân được phát đồ ăn.
Các tù nhân bị tra tấn cho đến khi họ dùng dấu vân tay để ký vào một bản khai nói rằng họ đã từ bỏ tư tưởng cộng sản. Vào ban đêm, buồng giam của ông Ahn vang vọng tiếng gào thét của những đồng đội cộng sản đang bị hành hạ.
Quân đội Hàn Quốc đốt lửa từ các biểu ngữ cộng sản tại một ngôi làng chiếm được từ Bắc Triều Tiên năm 1950.
Ông Ahn bị rụng hết răng trong tù. Ông bị quất bằng dây thừng thắt nút và bị tra tấn bằng nước pha ớt bột cho đến khi nghẹt thở và bất tỉnh. Vào mùa đông, những kẻ tra tấn trói ông lại trong tình trạng khỏa thân vào một chiếc ghế trong căn phòng có sàn nhà phủ đầy băng. Chúng nhỏ từng giọt nước lạnh buốt vào cùng một điểm trên đỉnh đầu ông.
“Sau một lúc, mỗi giọt nước cảm giác như một tảng đá khổng lồ,” ông Ahn nói, hai tay đặt trên cây gậy của mình. Ông ngừng lại với đôi mắt nhắm hờ như đang sống lại những ký ức đó, sự im lặng tạm thời bị lấn át bởi tiếng ve sầu kêu râm ran bên ngoài.
“Bất tỉnh là lối thoát duy nhất,” ông nói. “Khi tôi tỉnh lại, tôi sẽ kiểm tra ngón tay cái xem có dính mực không. Nếu không có, tôi biết mình đã sống sót thêm một ngày nữa.”
Giữ Vững Phẩm Giá
Những tù nhân đã đặt dấu vân tay của mình còn bị làm nhục thêm khi bị ép đọc lời tuyên thệ đã ký trước mặt những người đồng chí chưa chịu khuất phục.
“Tôi chịu đựng sự tra tấn không phải vì niềm tin chính trị hay tư tưởng của tôi đặc biệt mạnh mẽ, mà vì tôi đã giữ vững phẩm giá của mình,” ông Ahn nói.
Những ngày này, ông Ahn đang tiến hành trận chiến cuối cùng của đời mình: Ông muốn trở về Bắc Triều Tiên, nơi ông có thể nhìn thấy từ xa, để chết ở nơi mà ông coi là quê hương chính trị và tư tưởng.
Sau khi chiến tranh kết thúc, miền Nam được cai trị bởi những nhà độc tài, những người đã áp dụng chương trình cải tạo hàng chục năm. Nó bắt đầu dần biến mất sau khi miền Nam bắt đầu chấp nhận dân chủ vào những năm 1980, dù công chúng ít được nghe về chúng. Ông Ahn được tha bổng vào năm 1995, cùng với một người khác, Kim Sun-myung, người cũng đã thụ án hơn bốn thập kỷ.
Năm 2004, một ủy ban chính phủ đã báo cáo có 77 tù nhân chết liên quan đến chương trình “cải tạo thông qua tra tấn”. Sau đó, một ủy ban khác đã công nhận ông Ahn là nạn nhân của sự tra tấn.
Vào thời điểm ông Ahn được thả, ở tuổi 65, Hàn Quốc đã biến đổi thành một nền dân chủ sôi động và một cường quốc kinh tế. Nhưng trước sự thất vọng của ông, hàng chục nghìn binh sĩ Mỹ vẫn đồn trú ở đó. Miền Bắc thì đang vật lộn với một nạn đói khủng khiếp.
Năm năm sau, ông Ahn kết hôn với một người phụ nữ đã nhất quyết kết hôn với ông bất chấp sự khác biệt về tuổi tác và bối cảnh chính trị. (Bà ấy trẻ hơn ông 30 tuổi.) Năm 2000, miền Nam đã hồi hương 63 cựu tù nhân không chịu cải tạo về miền Bắc, nơi họ được chào đón như những anh hùng. Ông Ahn đã chọn không đi cùng họ.
Cờ thống nhất và một bức ảnh của ông Ahn và vợ treo trên tường nhà ông.
“Đã có nhiều tranh luận với các đồng chí của tôi về những gì chúng tôi nên làm,” ông nói. “Tôi quyết định tiếp tục chiến đấu ở miền Nam, hô hào đòi rút quân Mỹ ngay cả khi chỉ có một người chịu lắng nghe tôi.”
Ông tìm được việc làm trong một tiệm thuốc bắc và vợ ông, bà Lee Chae-won, thì dạy piano.
“Không Còn Nơi Nào Để Đi”
Sự hoài nghi của ông Ahn đối với miền Nam tư bản càng dữ dội hơn khi ông thấy những người đàn ông thất nghiệp xin thuốc lá và xếp hàng tìm việc trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập niên 1990, và khi ông cùng vợ bị lừa sạch tiền tiết kiệm cách đây một thập kỷ. (Bà Lee hiện đang bệnh và không thể trả lời phỏng vấn.)
Mất nhà cửa, ông Ahn và bà Lee được mục sư Lee Jeok mời về sống chung. Mục sư Lee đã giúp đỡ họ về chi phí và chỗ ở tại một ngôi làng gần biên giới Bắc Triều Tiên đến mức cần có sự cho phép của quân đội miền Nam mới được vào.
“Ông ấy đã bị đàn áp ở miền Nam. Nếu miền Bắc cũng bỏ rơi ông, ông sẽ không còn nơi nào để đi,” Mục sư Lee nói.
Trong buổi phỏng vấn, ông Ahn lục ra một bức ảnh cũ chụp các đồng đội tù nhân khác, những người cũng đã dành hàng chục năm trong tù nhưng không chịu cải tạo. Ông không gặp lại hầu hết họ sau khi họ trở về miền Bắc vào năm 2000.
Ông Ahn đưa ra một bức ảnh chụp các đồng đội tù nhân đã trở về Bắc Triều Tiên vào năm 2000.
Cuối ngày hôm đó, Mục sư Lee lái xe đưa ông Ahn đến một hàng rào dây thép gai quân sự cao ngất, là điểm cực bắc mà dân thường được phép đến. Ông Ahn nhìn đăm đắm sang Bắc Triều Tiên bên kia sông và ngước nhìn những đàn chim di cư bay về phương Bắc.
Các hoạt động công khai của ông Ahn chủ yếu là tham gia các cuộc biểu tình nhỏ hàng tuần gần Đại sứ quán Mỹ ở Seoul và hô hào đòi rút quân Mỹ.
Khi ông xuất hiện trong các cuộc biểu tình tương tự gần các tòa nhà chính phủ vào mùa hè này, những người ủng hộ đã ôm ông, xoa bóp đôi tay viêm khớp của ông và đưa cho ông nước mát cùng một chiếc ô để tránh nóng. Tháng trước, họ đã tổ chức một cuộc tuần hành mang tính biểu tượng đến biên giới để thúc đẩy yêu cầu hồi hương của ông. Ông Ahn tham gia cùng họ với một lá cờ Bắc Triều Tiên. Nhưng cảnh sát đã chặn họ lại trước khi họ có thể đến khu vực cấm.
Ông Ahn đổ lỗi hoàn toàn cho người Mỹ về sự chia cắt của Triều Tiên.
“Quân đội Mỹ sẽ không bao giờ rời đi cho đến khi bạn buộc họ phải rời,” ông nói. “Một lãnh chúa phong kiến sẽ chỉ trả tự do cho nô lệ khi họ đứng lên khiến ông ta phải lo sợ cho mạng sống của mình.”
Ông Ahn cùng Mục sư Lee Jeok, bên trái, yêu cầu được hồi hương về Bắc Triều Tiên trong một cuộc biểu tình ở Seoul.
Những khẩu hiệu của ông nghe lạc lõng một cách vô vọng trong Hàn Quốc ngày nay, nơi hầu hết người dân đều muốn quân đội Mỹ ở lại để giúp bảo vệ đất nước chống lại Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Việc thống nhất Triều Tiên, lý tưởng mà ông Ahn đã ấp ủ bấy lâu, có vẻ xa vời hơn bao giờ hết, khi ngay cả Bắc Triều Tiên cũng nói rằng họ không còn coi Hàn Quốc là đối tác cho hòa giải nữa.
Vào tháng 7, ông Ahn phải nhập viện vì khó thở. Các quan chức Hàn Quốc đã đến thăm ông để xác nhận nguyện vọng cuối cùng là trở về miền Bắc. Họ cho biết không có kênh đối thoại nào với miền Bắc để thảo luận về số phận của ông và đang chờ đợi Bình Nhưỡng phản ứng với tin tức về ước nguyện cuối cùng của ông.
Sợ cái chết sẽ đến bất ngờ, ông Ahn đã ghi âm một tin nhắn qua video.
“Tôi xin lỗi vì đã không thể hoàn thành công việc mà tôi đến đây để làm,” ông nói từ trên giường bệnh, trong đoạn video do Mục sư Lee quay. Ông Ahn xin được tha thứ nếu ông đã làm tổn thương ai đó bằng những quan điểm không khoan nhượng của mình. “Xin hãy hiểu rằng tôi là một người đến từ Bắc Triều Tiên,” ông nói.
Choe Sang-Hun, từ Gimpo, Hàn Quốc
Phụ Lục:
Chiến tranh Triều Tiên và Vai trò của Hoa Kỳ
Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) là một cuộc xung đột quân sự khốc liệt trên bán đảo Triều Tiên, bắt nguồn từ sự chia cắt đất nước sau Thế chiến II. Cuộc chiến bùng nổ khi quân đội Bắc Triều Tiên vượt qua vĩ tuyến 38 để tấn công miền Nam vào ngày 25 tháng 6 năm 1950, với mục tiêu thống nhất bán đảo dưới chế độ cộng sản.
Ngay lập tức, Mỹ đã đóng vai trò then chốt trong việc phản ứng lại cuộc xâm lược này. Tổng thống Harry S. Truman đã ra lệnh can thiệp quân sự, và chỉ hai ngày sau, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UN), không có sự phủ quyết của Liên Xô, đã thông qua nghị quyết kêu gọi các quốc gia thành viên hỗ trợ Hàn Quốc. Dưới sự lãnh đạo của Mỹ, một lực lượng liên quân gồm 21 quốc gia đã được thành lập, nhưng phần lớn binh lực và tài chính đều do Mỹ cung cấp.
Lực lượng này, do Tướng Douglas MacArthur chỉ huy, đã thực hiện một cuộc đổ bộ táo bạo tại thành phố Inchon vào tháng 9 năm 1950, cắt đứt đường tiếp viện của Bắc Triều Tiên và đẩy lùi lực lượng của họ gần như về đến biên giới Trung Quốc. Tuy nhiên, sự can thiệp quy mô lớn của Trung Quốc vào cuối năm đó đã đẩy lùi quân đội UN trở lại, dẫn đến một cuộc chiến giằng co, bế tắc.
Trong suốt ba năm, cuộc chiến diễn ra chủ yếu xoay quanh vĩ tuyến 38, nơi trở thành Đường ranh giới quân sự (DMZ) ngày nay. Sau hàng triệu sinh mạng thiệt mạng, một hiệp định đình chiến đã được ký vào năm 1953, nhưng không phải một hiệp ước hòa bình. Về mặt kỹ thuật, hai miền Triều Tiên vẫn đang trong tình trạng chiến tranh.
Sự liên can của Mỹ trong cuộc chiến đã tạo ra một dấu ấn lâu dài. Mỹ đã duy trì sự hiện diện quân sự quy mô lớn tại Hàn Quốc cho đến tận ngày nay để ngăn chặn một cuộc tấn công tiềm tàng từ phía Bắc. Cuộc chiến cũng củng cố tư tưởng chống cộng ở Mỹ và định hình chính sách đối ngoại của nước này trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, biến Hàn Quốc thành một đồng minh quân sự chiến lược của Mỹ tại Đông Á.
Sau hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm năm 1953, hai miền Triều Tiên đã đi theo hai con đường phát triển hoàn toàn khác biệt, tạo nên sự tương phản rõ rệt về mọi mặt.
1. Đường hướng phát triển của Hàn Quốc (miền Nam)
Hàn Quốc khởi đầu với một nền kinh tế bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, nghèo đói và phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu từ Mỹ. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của chính phủ độc tài quân sự những năm 1960, Hàn Quốc đã khởi xướng một chiến lược phát triển kinh tế mạnh mẽ, tập trung vào xuất khẩu và công nghiệp hóa.
- Chính trị: Từ những năm 1960 đến cuối những năm 1980, Hàn Quốc trải qua nhiều giai đoạn cai trị độc tài quân sự. Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1980, một phong trào dân chủ mạnh mẽ đã bùng nổ, dẫn đến việc chuyển đổi sang một nền dân chủ đa đảng như hiện nay.
- Kinh tế: Hàn Quốc thực hiện một “kỳ tích kinh tế” thần kỳ, được mệnh danh là “Kỳ tích sông Hàn”. Nền kinh tế chuyển mình từ một quốc gia nông nghiệp nghèo nàn sang một cường quốc công nghiệp, với các tập đoàn toàn cầu như Samsung, Hyundai, và LG. Họ tập trung vào các ngành công nghiệp nặng như đóng tàu, sản xuất ô tô, điện tử, và sau này là công nghệ cao.
Kết quả hiện tại: Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới, thành viên của G20, và là một cường quốc văn hóa với làn sóng Hallyu (nhạc pop, phim ảnh) lan tỏa toàn cầu. GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc cao hơn rất nhiều lần so với Bắc Triều Tiên. Nền kinh tế thị trường, tự do và cởi mở đã giúp Hàn Quốc đạt được sự thịnh vượng đáng kinh ngạc.
2. Đường hướng phát triển của Bắc Triều Tiên (miền Bắc)
Ngược lại, Bắc Triều Tiên dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành đã theo đuổi một con đường hoàn toàn khác, xây dựng một chế độ chính trị độc tài, khép kín và tự chủ dựa trên tư tưởng “Chủ thể” (Juche).
- Chính trị: Bắc Triều Tiên duy trì một chế độ chính trị độc đảng, do gia đình họ Kim cha truyền con nối. Mọi mặt của đời sống xã hội đều bị kiểm soát chặt chẽ, không có tự do ngôn luận hay thông tin.
- Kinh tế: Ban đầu, nhờ sự hỗ trợ từ Liên Xô và Trung Quốc, kinh tế Bắc Triều Tiên phát triển khá tốt trong thập niên 1950-1960 và thậm chí vượt trội hơn Hàn Quốc. Tuy nhiên, khi Liên Xô sụp đổ, cùng với chính sách khép kín, tập trung vào chi tiêu quân sự và các lệnh trừng phạt kinh tế từ quốc tế, nền kinh tế Bắc Triều Tiên đã suy thoái nghiêm trọng. Những năm 1990, nước này phải đối mặt với một nạn đói khủng khiếp.
Kết quả hiện tại: Bắc Triều Tiên là một trong những quốc gia nghèo nhất và bị cô lập nhất thế giới. Nền kinh tế chỉ đạt được những bước tiến nhỏ trong một số lĩnh vực, trong khi phần lớn người dân phải sống trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn. Sự chênh lệch về kinh tế và xã hội giữa hai miền Triều Tiên hiện nay là cực kỳ lớn, được ví như hai thế giới khác biệt.
Tóm lại, sau Hiệp định đình chiến 1953, Hàn Quốc đã chấp nhận hội nhập toàn cầu, thực hiện cải cách kinh tế và dân chủ hóa, từ đó vươn lên trở thành một quốc gia thịnh vượng. Trong khi đó, Bắc Triều Tiên kiên định với đường lối chính trị và kinh tế khép kín, dẫn đến sự tụt hậu và cô lập đáng kể. Sự khác biệt về đường hướng phát triển này không chỉ tạo nên khoảng cách khổng lồ về kinh tế mà còn khiến ước mơ thống nhất trở nên xa vời hơn bao giờ hết.
(Gemini & T.Vấn thực hiện)








