Đặng Kim Côn: XUÂN ĐẾN RỒI XUÂN ĐI

Hoa Xuân – Tranh: MAI TÂM

Tôi cố giữ cho trống ngực bớt rộn trong lòng để khỏi phải đứng bật lên khi bất ngờ nghe M.C giới thiệu tên anh. Bất ngờ hơn là anh lại biết ngâm thơ:

-Kính thưa quý Thầy Cô, kính thưa các anh chị em cựu học sinh Trường Phan Thanh Giản! Thật vô cùng vinh hạnh, Hoài được góp mặt trên sân khấu này, trước hết, Hoài xin được giới thiệu Hoài không phải là cựu học sinh của trường này, mà là khách mời của một cựu học sinh, nhà thơ, Hoài xin được gửi đến quý vị bài thơ Thưa Thầy của anh ấy, nhà thơ Mặc Huyền Thương. Trước khi bắt đầu, Hoài cũng xin phép quý vị cho Hoài gửi đến quý Thầy Cô, các anh chị, trong đó có các bạn đồng hương San Jose với Hoài, lời chúc vạn sự như ý trong năm mới này.

Thật xúc động biết bao, sau tiếng vỗ tay chào mừng, cả hội trường im phăng phắc lắng nghe từng lời qua giọng ngâm của Hoài, giọng ngâm lúc nhẹ nhàng, lúc trầm lắng, lúc cao vút mà lại có vẻ như cốt cho mọi người hiểu lời thơ nhiều hơn là chú ý đến trau chuốt kỹ thuật. Tình cờ, hòa với giọng ngâm, có một cựu học sinh, bạn của nhà thơ Mặc Huyền Thương, réo rắt đưa hơi bằng một cây kèn Tây mà anh ấy gọi là hắc tiêu, làm tiết mục thêm phong phú.

Tôi định chạy vội đến anh ngay khi bài thơ kết thúc, nhưng những tiếng vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt của khán giả làm tôi khựng lại. Anh bước xuống sân khấu, nhiều người chạy tới bắt tay anh chúc mừng, nhận quen biết, hoặc hỏi thăm này nọ, tôi chú ý có một người đàn bà, nét mặt rạng rỡ, đứng bên anh, tôi đoán là vợ anh ấy.

Có một chút buồn bực hơi thú vị với cái bắt tay không mấy sôi nổi của anh Hoài. Chắc anh đang chếnh choáng bởi những tràng pháo tay, những tiếng nói cười chào hỏi chung quanh anh. Tôi nép qua một bên, vừa vui mừng, vừa vẩn vơ suy nghĩ không biết mình nên làm gì đây.

Đại hội cựu học sinh Trường Trung Học Phan Thanh Giản lần thứ 16 này được tổ chức ở một thành phố nhỏ ven biển Florida. Vì là ở trong ban tổ chức từ cả chục năm nay, nên dù ông xã tôi đã bỏ lại tôi một mình, mấy năm sau này, các chị bạn cứ lôi kéo tôi phải tham dự cho bằng được, nói thứ nhất cho đỡ buồn, thứ hai, để mọi người vẫn nhớ đến ông xã tôi, một trong những sáng lập viên của Hội cựu học sinh Phan Thanh Giản, thứ ba, giúp được gì các chị, những việc quen thuộc, thì giúp, kể cả đôi khi cũng góp vui bằng một vài bài hát.

Nhờ vậy, tôi và anh may mắn được gặp nhau, cuộc gặp gỡ giữa hai học sinh, không hề học Phan Thanh Giản ngày nào.

Và cuộc gặp gỡ, chỉ thế thôi, một cái bắt tay nhè nhẹ, một cái nhìn bâng quơ, và khi mọi người còn vây quanh anh, thì dường như anh đã không còn nhớ, hay còn thấy có một người đàn bà đang lặng lẽ trong đám đông, đang không biết nên làm gì đây. Chỉ còn có cái tên để tôi nhận ra anh, còn thì, giá như có ngồi chung bàn chắc cả hai cũng đều không nhận ra nhau. Anh thì đã không nhận ra tôi rồi đó, còn tôi, rõ ràng ngắm đi ngắm lại, cũng không còn thấy một mảy may quen thuộc nào một Hoài của 30 năm trước.

Người ái mộ anh nhộn nhịp hơn, khi nhóm San Jose bước tới chuyện trò huyên thuyên với anh, có người hỏi han cả chị ấy, hình như là họ có quen biết nhau.

May là nhà thơ Mặc Huyền Thương cũng đã từng nhiều năm sinh hoạt hội, nên có quen biết vợ chồng tôi, anh thấy tôi cũng đứng đó, có vẻ lạc lõng, anh đã quay qua nói chuyện với tôi, rồi cùng tôi trở về bàn tôi ngồi, bỏ lại sau lưng những tiếng nói cưòi, những ánh đèn chụp hình chớp chớp lên, chúng tôi hỏi thăm về gia đình nhau này nọ, được anh cho biết, Hoài và vợ mới từ San Jose đến mấy ngày, thăm cô con gái có nhà, có tiệm ở đây, nói là lát nữa, có một party nhỏ ở nhà con gái Hoài, “Nếu không gì trở ngại, Mặc Huyền Thương muốn mời tôi đến đó chơi cho vui”. Tôi nhận lời, và dặn “Em muốn anh giới thiệu em là Bà Phương”.

[]

Chiếc xe bảy chỗ ngồi của anh Mặc Huyền Thương đưa vợ chồng anh ấy, vợ chồng người thổi tiêu, vợ chồng anh MC, và tôi, đến gia đình Hoài ở cách đó hơn 20 phút.

Bàn tiệc đã được gia chủ chuẩn bị sẵn, thêm chúng tôi mang đến bia, rượu mạnh, nên buổi gặp gỡ bên lề cũng khá vui, thêm một buổi văn nghệ bỏ túi, giữa những câu chuyện thơ văn, nhạc họa, cả những chuyện chiến tranh tù tội, hầu như lần họp mặt nào mà tôi biết trước giờ, mấy ông cũng chừng ấy chuyện, nhưng lần này, với những con người máu me văn nghệ này, thì trông họ có vẻ thân thiết gần gũi hơn nhiều. Tôi thấy vui lây với cái không khí cởi mở đầm ấm giữa cái lạnh đầu năm ngoài trời. Ngoại trừ một điều, cái vui vẻ, vô tư ngập tràn hạnh phúc đang nhảy múa đầy vẻ trình diễn (mà tôi thấy không mấy cảm tình) trên ánh mắt và nụ cười của vợ Hoài. Tôi chạnh nhớ đến ông xã tôi, nói điều không phải là, nếu còn anh ấy thì chắc chắn tôi đã không thể đến đây, dù là đến cùng anh, bởi vì, chỉ cần nghe tên Hoài là anh ấy đã không vui.

Mấy ông vui uống dữ quá, cũng không phải lo, vì lát về đã có các bà “chuyên trị nước ngọt”, lái xe.

Mùa xuân ấm lên với đề tài anh Mặc Huyền Thương đưa ra: Mỗi người kể lại một kỷ niệm về một mùa xuân đáng nhớ nhất trong đời.

Để công bằng, một chai bia không, được đặt giữa bàn, bốc thăm bằng mấy que tăm dài ngắn để có người đầu tiên quay chai, quay, mà không phải kể chuyện, sau đó, ai kể xong thì người đó được quay, khi miệng chai hướng về người nào, thì người đó kể (tất nhiên, không hướng nhằm ai, thì chai sẽ được quay lại), cho đến khi tất cả mọi người đều phải có chuyện kể xong.

Rất may, đang lúc bối rối chưa biết kể chuyện gì, năm mươi mùa xuân qua đời, có biết bao nhiê u những kỷ niệm để nhớ (một chiếc áo Tết, một chuyến theo ba mẹ về quê nội ngoại, một giải nhất giọng ca nữ trong cuộc thi hát mừng xuân Trường tôi tổ chức, những lần vượt biển bất thành suýt bỏ mạng bởi những những chủ bán bãi có súng, do chia chác không đều sao đó, bao nhiêu mùa xuân vẫn thỉnh thoảng chập chờn nhắc nhở trong mơ…), thì tôi rút được que thăm quay chai đầu tiên. Vậy là tôi được có thời gian chuẩn bị rồi.

Người đầu tiên bị miệng chai chiếu tướng là anh Mặc Huyền Thương, Không biết có phải là đắc nhân tâm hay không mà chuyện kể của anh có liên qua đến Hoài, trên một chuyến hành quân ngoài trung về sau Tết Mậu Thân, Đại úy Thương trú quân mấy ngày ở xóm nhỏ ngoại ô một thành phố nhỏ, trong gia đình của một nữ sinh đệ nhị cấp khá xinh đẹp, có một cậu học sinh bạn cô ta đến chơi, trên tay lại cầm Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hoà, trong đó, có một bài thơ của Hoài, và câu chuyện văn thơ đã trở thành cầu nối rôm rả kết thân hai anh em với nhau từ đó.

Người kế tiếp là vợ của Hoài, chị rất vui và thích thú được nghe anh Mặc Huyền Thương nhắc lại mùa xuân năm ấy, bởi, người con gái trong câu chuyện năm xưa là chị, chị không mấy lấy làm lạ về chuyện kể của anh Thương, và chị cũng coi mùa xuân ấy là mùa xuân đáng nhớ nhất của chị: chị lên xe hoa, Hoài nhập ngũ, dù chị không nói rõ, nhưng ai cũng cảm nhận có hình ảnh một mùa xuân nghèn nghẹn giữa hai người.

Tôi nhớ ra, tôi đã biết tôi sẽ kể chuyện gì. Và tôi cũng hiểu là phải hành xử ra sao với cuộc tái ngộ không vui này.

Các anh chị kế tiếp, kể về chuyện vui vợ chồng họ: một mùa xuân gặp gỡ, một mùa xuân lấy nhau. Đến lượt anh, mọi người lại nâng ly, có người còn đoán trước câu chuyện “Mùa xuân nhập ngũ, phải không? Cho anh em biết tại sao đi!”

-Không tại sao cả, cũng có thất tình đi lính, nhưng đó không phải là mùa xuân để nhớ nhất.

Anh dừng lại chút (ra vẻ quan trọng), nhìn mọi người:

-Đó là mùa xuân năm 1979, mùa xuân tái sinh…

Tôi giật mình đảo mắt thật nhanh nhìn mọi người, vợ chồng anh MC, vợ chồng anh Hắc Tiêu chằm chặp nhìn anh mong đợi. Riêng Chi Hoài coi bộ cười cười lơ đãng một cách hơi kiêu ngạo, khó chịu như đã nghe quen “xưa rồi Diễm”, có gì hay đâu mà kể.

-… Chúng tôi ở trại tập trung A30, hôm ấy, sau một ngày nghỉ Tết, đội tù chúng tôi vác cuốc lên đồi. Vì phải băng qua một giòng sông rộng, nên khoảng hai chục người không biết bơi được chia công tác khác bên nay bờ: dọn phân các hầm xí, nơi mà các trực nhà, mỗi sáng gánh phân người trong các nhà giam ban đêm của hàng mấy ngàn tù nhân ra đổ ở đó, một công việc không đơn giản dành cho những người không biết bơi, dưới quyền điều khiển của một đội phó cũng không biết bơi.

Không ai mời ai, mấy ông tự rót đầy ly rượu uống cạn, như là để xua đi mùi xú uế của cái trại cải tạo u ám kia. Tôi chớp vội đôi mắt cho những giọt nước mắt bất ngờ kịp chìm xuống lòng, muốn đứng dậy vào phòng vệ sinh tránh ánh mắt mọi người, nhưng cũng muốn nghe liên tục câu chuyện từ miệng anh kể, câu chuyện mà khi chồng tôi còn sống, vẫn đôi khi đem ra dằn vặt tôi. Hoài nhìn thẳng vào từng người, kể tiếp:

-Sau buổi lao động, xin lỗi, mình mẩy, áo quần mọi người đều… như cái cầu tiêu, kể cả anh đội phó là mười hai người cùng nhau ra sông tắm. Đó là khúc sông rộng, gần nơi chúng tôi làm việc, không phải là bãi tắm qui định. Mọi người thận trọng bước xuống khỏi bờ, đứng có, lom khom có, quỳ, ngồi bì bõm xuống nước cũng có, kỳ cọ, giặt giũ. Mùa này nước bạc trắng sông, nước đục đến nỗi người ta nhìn xuống không thể thấy phần thân thể ngập dưới mặt nước của mình.

Hầu như mạnh ai nấy lo tắm giặt, không mấy để ý đến chung quanh, dù trời đầu năm hãy còn se lạnh, nhưng không còn giây phút tự do nào tuyệt vời bằng lúc được cởi bỏ áo quần ngâm mình trong nước mà không cần phải nhìn trước nhìn sau, không bị ai thúc hối hay dòm ngó.

Chỗ tôi đứng nước sâu ngang ngực, dưới chân tôi là một tảng đá lớn, không biết tôi lay hoay thế nào, bất giác trượt chân, sụp ra phía sâu hơn. Tôi chấp chới với tới tảng đá, tảng đá đã xoay đi chiều nào mất tiêu, tôi chỉ còn biết một điều là tôi đã bị chìm hoàn toàn trong nước bạc. Chợt như hai chân tôi chạm đáy sông, tôi lấy hết sức nhảy lên mấy cái kêu cứu, nhưng hình như âm thanh không hề vượt lên khỏi mặt nước, mà có vẻ như tôi càng bị giạt ra sâu hơn. Tôi vẫn đủ bình tĩnh để nhớ ra, là thôi rồi, trên bờ chỉ toàn là dân không biết bơi! Tôi mở căng mắt, đưa bàn tay lên không thể nhìn thấy nổi, nước và nước… Tôi định bước liều mấy bước để trở lại bờ, nhưng lỡ như mình càng ra xa hơn thì sao? Giá như có ai đó trên bờ có được cái sào dài… Mà lại, khổ nỗi, chắc gì có ai thấy được mình lúc sẩy chân chìm xuống nước, hay lúc giã gạo cố ngoi lên!

Trước mắt, là chấp nhận cái chết. Mà chết thì sao? Yên nghỉ, thoát cảnh đày ải, khổ sở, lo lắng từng ngày. Ừ, chết cũng được, cùng lắm là vật vã, đau đớn chừng 5, 6 phút, hay 10 phút là cùng, nghĩ tiếp, nếu cứ trôi theo giòng sông chảy, xác mình sẽ về đâu nhỉ? Có về tới quê hương ở cuối sông không?

Còn chưa chết, cố bám nơi đây đi. Nói là ngồi, nhưng mà hai chân thì không bám được mặt cát đáy sông, sao thấy như mình cứ lơ lửng dập dềnh. Quái, chìm thì không chìm, mà nổi giùm lên cũng không chịu nổi.

Thấy thì lâu, nhưng tôi nghĩ, có lẽ tôi chỉ mới vừa hết một hơi thở và cứ phải há họng tợp nước vào, đâu chừng vừa căng bụng, chắc cũng khoảng hơn 2, 3 phút.

Rất nhanh, những hình ảnh thân yêu nhất lướt vội qua đầu. Tôi không còn sức vẫy vùng nữa, ngực tôi đang giống như sắp vỡ ra bởi những tảng đá nghìn cân ép vào. Đầu óc tôi bắt đầu mụ đi…

Chợt, có ai đó, thật nhanh, hình như là kê vai vào người tôi, đẩy tôi lên thật mạnh. Tôi vẫn thường nghe kể, người ta rất sợ cứu người trong nước, vì thường là nạn nhận hoảng loạn lôi kéo làm người cứu vướng víu, kẹt chết luôn, tôi bình tĩnh để tay không quờ quạng làm người đó phải lo, cũng có thể đầu tôi còn nghĩ được mà tôi thì xuội lơ rồi, nên việc cứu người ấy đã thành công nhanh gọn và thuận lợi. Tôi biết mình đã thoát chết.

Tôi được đặt trên một tảng đá lớn, mềm èo, người đó kề môi vào miệng tôi làm hô hấp. Tôi có cảm giác cả người tôi phồng lên, như là từng tế bào căng nứt sắp nổ tung, đau nhức khắp người và mệt không thể tả.

Không biết đến lúc nào thì tôi thở được, tôi nhận biết bạn bè đã lấy áo họ che thân thể tôi, khiêng tôi về đội. Tôi kịp nhìn thấy người một đứng trông theo, người mới vừa cứu tôi: một nữ tù.

Mọi người thở phào như vừa trút gánh nặng trên vai xuống. Tất nhiên Hoài còn ngồi đây thì ai cũng biết là anh không chết rồi, nhưng chuyện kể đã làm mọi người, kể cả tôi, nghẹt thở, tất cả đều tự động rót cho mình ly nước hoặc rượu, anh Thương không quên rót cho Hoài, và nhất loạt nâng ly, chúc mừng. Tôi ném thật nhanh ánh mắt về phía chị Hoài, thấy chị làm như vẫn thản nhiên nâng ly, nửa đùa nửa thật:

-Lợi dụng đông người há?

Như vậy câu chuyện cả vợ Hoài cũng có vẻ khá quen thuộc, nếu không muốn nói là tình yêu ngày ấy vẫn được Hoài ấp ủ không nguôi một cách ngột ngạt xót xa, dù có

thể hạnh phúc giữa vợ chồng anh không phải là không thật. Có lẽ biết ý mọi người đang nôn nao, Hoài tiếp:

-… Chiều hôm ấy từ chỗ làm, tôi lấy cớ mệt, tìm cách quay trở lại khúc sông “tai nạn” hồi trưa (nơi các bạn tôi kể, may nhờ có cô gái coi rau ở mấy lãnh rau cách chỗ chúng tôi tắm không xa, nghe họ kêu cứu, cô đã lao tới…) để tạ ơn ân nhân. Ân nhân là một cô gái trẻ hơn tôi gần chục tuổi, khá đẹp, vào đây cũng đã khá lâu vì tội vượt biên, nên được ra tự giác ở đội trồng rau, cứ mỗi người, hàng ngày phụ trách mấy sào rau xanh ven bờ sông, tự mình tưới nước, bón phân, mà không bị ai quản lý.

Thật ra, ở đây, mọi sự quan hệ giữa nam nữ đều bị cấm ngặt, tôi phải rất khó khăn và cẩn thận để tiếp xúc với nàng. Và cũng có lẽ, trời xanh muốn tăng sức mạnh xuống những tâm hồn đau khổ trong chốn trầm luân này, nên mới tạo ra những giây phút định mệnh kia. Những ngày tiếp theo, từ những mẫu giấy tầm thường, hiếm hoi có được trong đời sống tù nhân đã biến thành những trang thư tình ướt át đắm say bằng cách này, cách khác gửi đến cho nhau. Sau nữa, cả những thực phẩm, thuốc men nhà lên thăm chúng tôi cũng san sẻ cho nhau.

Chuyện phải đến cũng đến, quan hệ chúng tôi bị phát hiện, cả hai đều bị nhốt “cách ly” vào nhà kỷ luật, sau đó tôi bị chuyển đến một đội lao động, cách đó hơn 5 cây số, không còn liên lạc được nhau cho tới ngày ra tù.

Tù về, tôi tìm đến quê nàng hỏi thăm, thì người ta nói là cả nhà nàng vượt biên sau khi nàng mới ra tù ít lâu.

Rồi gia đình tôi đi kinh tế mới, mang theo một khối tình…

Vừa để lấy bình tĩnh, mà cũng có chút móc họng, tôi gượng cười, nhìn thẳng mặt anh:

-Hihi, mang theo một khối tình làm sính lễ cưới vợ khác.

Ai cũng cười, nhưng Hoài thì không cười, chân mày cau lại, xa xôi… trong khi vợ Hoài cúi xuống ly nước với một nụ cười mà chắc chỉ có tôi hiểu.

[]

Tôi là người kể chuyện cuối cùng. Không khí về khuya có vẻ như trĩu xuống, nhất là sau chuyện kể của anh, hình như ai cũng chìm đắm vào một quá khứ riêng tư nào đó của mình, một phần đã có chủ ý, phần nữa tôi không muốn làm mọi người nhàm chán với những mùa xuân lạc lõng xa lạ, tôi muốn nói, tôi xoáy vào mùa xuân đã ít nhiều gắn bó với mọi người, tôi kể, mùa xuân năm 80, trước khi tôi lại ra khơi, mà lần này là lần đến bờ đến bến, tôi đã trở lại một trại cải tạo để thăm người yêu, sau mấy ngày lặn lội đường xa, ở lại một đêm nơi nhà tiếp tân, tôi được cán bộ trại trả lời, “nể tình cô là một trại viên cũ, tôi nhận chuyển giúp quà thăm nuôi của cô đến người thân của cô, còn chuyện thăm gặp, thì như cô biết, chỉ với thân nhân trực hệ, vả lại, người cô muốn thăm, đã có người nhà mới lên thăm cách đó một tuần, nghĩa là ít nhất phải ba tuần sau mới được cho thăm tiếp.

Vậy là, coi như một chuyến thăm viếng vô ích. Tôi không mấy hy vọng là quà Tết của tôi đến được tay người nhận.

Vui thay, chuyện kể của tôi làm mọi người tỉnh ra, mỗi người chen vào một câu hỏi, nhưng đại loại là, rồi sau này chị có được tin tức gì anh ấy không, rồi người ấy có liên lạc gì với chị không… Tôi trả lời, tôi có thư về quê anh ấy, nhưng không được hồi thư, kẹt là, những năm đó thư từ Mỹ Việt còn nhiều khó khăn, có muốn giúp đỡ gì, cũng phải đợi bắt được tin của anh ấy trước đã, đằng này tuyệt nhiên không, mãi cả đến thật lâu sau này, trong một chuyến về thăm quê hương, tôi có tìm đến địa chỉ cũ của anh, nhưng căn nhà anh đã thuộc về một cán bộ, người Bắc, lại có vẻ như, chung quanh, ai cũng sợ phải trả lời tôi về những gì liên quan đến anh ấy.

Rồi… tôi lấy chồng… và (tôi cố tình lập lại câu nói na ná như Hoài), nuốt xuống lòng một khối tình buồn… sinh con đẻ cái…

Chị Thương hỏi:

-Có bao giờ chị thử đăng báo nhắn tin xem, may ra có ai biết tin tức ảnh.

Tôi lắc đầu:

-Tôi nghĩ không để làm gì. Biết đâu anh ấy cũng đang ấm êm, và vợ ảnh thì cũng không muốn ai cào lại vết thương đã liền sẹo.

Sợ Hoài phát hiện, tôi nói thêm:

-Mới đây, có người nói ảnh đang là đại gia ở Việt Nam

Hoài liếc nhìn vợ, và nếu không phải là do tôi quá chủ quan, tôi thấy Hoài đã không muốn giấu tiếng thở dài.

Bỗng dưng tôi muốn khóc, cố giữ vẻ mặt bình thản, đứng dậy, xiêu vẹo từng bước vào nhà vệ sinh rửa mặt.

Cuộc vui rồi cũng tàn, chúng tôi đã gặp lại nhau, chỉ để nghe mùa xuân cũ trôi về giòng sông nước bạc, có những giọt nước mắt trong lòng còn mặn quá ngày xưa!

Mùa xuân đến, chỉ để lại đi. Ra về, tôi bắt tay vợ chồng anh, tôi giữ bàn tay anh trong tay tôi lâu chút, im lặng, quay đi không hẹn.

[]

Thật ra, có một điều, để cái mùa xuân 80 đau đớn tủi nhục khó quên hơn, mà tôi phải cắn răng, sống để bụng, chết mang theo, là cái chuyến thăm Hoài lần cuối trước khi vượt biển, mà đã không gặp được anh, buổi chiều, cán bộ nhà tiếp tân, ân cần, lịch sự:

-Cô là trại viên cũ, đã có nhiều công lao đóng góp cho trại ai cũng biết, nên cô cứ yên tâm ở lại, tôi sẽ giúp xin lãnh đạo cho hai người được ở chung đêm nay…

Đa số những người ở lại ban đêm là vợ của các trại viên có thành tích tốt, được cán bộ trại cho phép, như một phần thưởng, ở chung một đêm trong căn phòng gọi là hạnh phúc.

Tôi thầm biết ơn trại.

Đến tối, cán bô ấy trở lại, với một mâm cơm mời tôi, rồi ra vẻ không vui bảo,

-Các đồng chí trên trại họp đòi giữ em lại để điều tra gì đó, may nhờ có tôi bảo lãnh cho em, nên em không sao, chỉ là, tôi phải chịu trách nhiệm về em đêm nay.

Tôi tái mặt lo lắng. Tôi đã hãi cái địa ngục này quá rồi, chỉ vì anh, tôi mới có thể liều mạng quay đầu lại nơi này, nếu như… Cả nhà đang chờ tôi về cho một canh bạc đặt cược bằng tính mệnh, vì gia đình chúng tôi đã bị bắt tới bắt lui nhiều lần với cùng một cái tội “phản quốc” này.

Tôi bối rối ra mặt. Tên cán bộ chạy tới chạy lui, rồi trở lại dỗ dành, tán tỉnh tôi, thêm cả hù dọa, hắn ôm ấp, vuốt ve tôi, tôi ở thế như bị trói…

Đêm đó, tôi đau đớn để hắn chiếm đoạt tôi, một chuyến thăm nuôi mất trắng, chút an ủi nhỏ nhoi, là, tôi đã mất, vì Hoài.

Mãi đến sau này, chồng tôi thỉnh thoảng lồng lộn lên vì tại sao tôi đã không còn là con gái, mà, trong ý anh, tôi chỉ có Hoài.

Mùa xuân đến, chút ấm áp như hơi ấm trong lòng bàn tay giã từ. Xuân đi.

Xuân để lại gì?

Đặng Kim Côn

(Trích: LÓNG LÁNH TRỜI XƯA – tập truyện – TQH 2013)

Bài Mới Nhất
Search