T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
Vài Lời Về Tập 4 – DON CAMILLO VÀ BẦY QUỶ DỮ – Bản Việt Ngữ
NẠN NHÂN CHIẾN TRANH
Milco không biết bắt đầu từ đâu, nhưng cuối cùng anh cũng nói được:
“Là chuyện về người phụ nữ Đức ấy. Hôm nay là ngày hai mươi sáu, mà ngày kia là bà ấy tới rồi.”
Anh ta có vẻ lo lắng đến độ Don Camillo chẳng hiểu nổi tại sao.
“Kể từ năm 1946, cứ đến ngày hai mươi tám tháng Ba là bà ấy lại đến. Năm nay đến nữa thì cũng đâu có gì lạ.”
Milco lắc đầu:
“Cha không biết hết câu chuyện đâu,” Milco thì thào. “Bởi vậy cha không thể hiểu được.”
Quả thật, Don Camillo biết về chuyện này cũng chỉ ngang với phần còn lại của dân làng. Câu chuyện bắt đầu từ cuối tháng Chín năm 1943, khi một tiểu đội lính Đức nhỏ đóng tại làng. Trong số đó có Trung sĩ Fritz, người phụ trách hậu cần. Chính ông ta được bố trí ở trong nhà Milco tại La Torretta, cách làng không xa, nằm giữa quốc lộ và con sông Stivone.
Lúc đó Milco ba mươi tuổi, được miễn gọi nhập ngũ vì bị què một chân. Dù vậy, anh là người duy nhất có thể điều hành được nông trại. Vợ Milco thì yếu ớt, còn đứa con trai tuy khỏe mạnh nhưng mới mười một tuổi. Trong thời chiến, nông nghiệp cũng quan trọng không kém gì công nghiệp nặng, nên không thể để ruộng đồng bị bỏ hoang.
Trung sĩ Fritz là người dễ mến, cùng tuổi với Milco, làm chiến tranh chẳng khác gì làm kế toán hay bán hàng. Là người Đức đúng chuẩn, ông ta lại có một điểm yếu chí mạng: rượu vang Ý. Mỗi khi uống hơi quá chén, ông lại lôi từ ví ra tấm ảnh chụp một cô gái trẻ tóc vàng xinh đẹp và một bé trai tóc vàng mười tháng tuổi – lần nào nhìn cũng khiến ông rơi nước mắt.
Fritz sống rất vui vẻ ở nhà Milco, và cả hai vợ chồng Milco đối đãi với ông ta như người nhà. Ông ta có tính khí xuề xòa, lại làm ở bộ phận hậu cần nên chẳng bao giờ về tay không – lúc nào cũng mang theo thức ăn, rượu hoặc đường sữa.
Trung sĩ Fritz ở nhà Milco cho đến ngày 28 tháng Ba năm 1945. Tối hôm ấy ông không về. Hôm sau người ta vớt được xác ông ở khúc sông Stivone, gần Brugello. Nhưng rõ ràng ông không chết đuối: có ba vết đạn P-38 xuyên qua đầu. Những ngày đó du kích hoạt động mạnh, và trung sĩ Fritz đã lọt vào tay một toán nào đó.
Đến ngày 28 tháng Ba sau khi chiến tranh kết thúc, một phụ nữ Đức tóc vàng và một cậu bé tóc vàng đến La Torretta. Người phụ nữ chỉ biết độ bốn từ tiếng Ý, còn Milco thì biết chừng ấy tiếng Đức – vừa đủ để hiểu nhau.
“Tôi là góa phụ của trung sĩ Fritz,” bà nói. “Tôi đến để đặt hoa lên mộ ông ấy.”
Milco đưa bà đến nghĩa trang, và bà đặt hoa dưới cây thánh giá gỗ thô sơ, trên đó có ghi tiểu sử ngắn gọn của người đã khuất:
Fritz Hauser
2 tháng Ba 1925 – 28 tháng Ba 1945
Milco và vợ đã mời người phụ nữ cùng đứa bé ở lại nhà họ một tuần. Người phụ nữ kể về tình cảnh khốn khổ ở nước Đức, và những gian nan bà phải vượt qua trong chuyến đi. Nhưng trên hết, bà nói về Fritz. Bà kể rằng Fritz đã viết cho bà một bức thư đầy xúc động về Milco và gia đình anh, rằng bà đến đây không chỉ để thăm mộ chồng mà còn để bày tỏ lòng biết ơn, nói lời cảm tạ với những người đã cưu mang anh.
“Tôi đã phải bán đi món vàng cuối cùng mình có để thực hiện chuyến đi này,” bà nói. “Giờ tôi chẳng còn gì cả. Nhưng tôi hy vọng sẽ tìm được việc làm, để năm sau lại có tiền quay lại thăm ông bà.”
Bà đã giữ lời. Năm sau bà lại đến, rồi năm sau nữa. Đều đặn, cứ vào ngày 28 tháng Ba, bà cùng đứa con lại đến La Torretta, ở lại một tuần. Lúc này thì cả làng ai cũng biết bà và câu chuyện của bà. Mỗi khi đi ngoài đường, ai cũng chào hỏi bà niềm nở — một phần vì bà là người tử tế, một phần vì bà là một “phụ nữ đẹp đúng kiểu”. Bà có vẻ đẹp tròn đầy, đẫy đà mà dân vùng đồng bằng sông Po rất ưa chuộng.
Don Camillo vẫn chưa hiểu đầu đuôi câu chuyện.
“Ta chẳng thấy có gì quá rắc rối,” ông lẩm bẩm. “Anh cho bà ấy ở nhờ trong nhà thì có gì đáng trách đâu, nhất là khi anh là người góa vợ. Dù sao thì anh cũng không sống một mình — con trai anh và vợ nó, cô cảnh sát, sống chung mà. Mà vợ anh, cầu Chúa thương linh hồn chị ấy, đã mất trước khi người phụ nữ Đức ấy đến lần cuối. Có gì thay đổi đâu kể từ đó?”
Milco lưỡng lự một lát rồi buột miệng:
“Con không muốn gặp lại bà ấy nữa.”
Don Camillo nhún vai. “Vậy thì sao phải đến nói với ta? Đó là chuyện riêng của anh. Không muốn gặp thì viết thư bảo bà ấy đừng tới nữa, thế thôi.”
Nhưng rõ ràng Milco còn điều gì đó chưa nói hết. Bằng chứng là cái cách anh vò nát cái mũ trong tay.
“Hồi vợ con còn sống, con có thể nói chuyện với bà ấy. Còn bây giờ… chẳng còn ai để con giãi bày.”
Kênh đối thoại đã mở ra, Don Camillo chỉ việc để cho Milco nói tiếp.
“Cha nhớ không, hồi đó con có tham gia phong trào kháng chiến, và được giao nhiệm vụ truyền tin qua đài vô tuyến. Con giấu máy phát dưới thùng gỗ trong chuồng bò. Tối hôm 28 tháng Ba năm 1945, Fritz bắt gặp con đang vận hành thiết bị đó…”
“Fritz bắt gặp à?” Don Camillo thảng thốt.
“Vâng. Như thường lệ, ăn tối xong con nói: ‘Tôi ra nhà ông Ronchini chơi bài chút’. Anh ta cũng như mọi khi: ‘Chúc may mắn!’ Rồi con ra ngoài, băng qua cánh đồng, nhưng tới gốc cây dẻ thì con dừng lại chờ một lúc rồi quay về. Con đi bằng cửa nhỏ sau chuồng, chỉ có mình con dùng lối đó. Con chui vào, lôi máy phát ra như trăm lần trước. Nhưng lần này… thì Fritz ập vào.”
Anh ngừng lại, tay lau mồ hôi trên trán.
“Đèn sáng lên, và ông ta đứng đó, giận run người. ‘Phản bội!’ ông ta quát, tay chạm vào báng súng. Còn con thì tay đã đặt sẵn vào cò khẩu P-38 trong túi… và con ra tay trước. Chết tiệt cái chiến tranh!”
Anh lại ngừng, hít một hơi dài.
“Nếu ông ta không gọi con là ‘phản bội’ thì chắc con đã không bóp cò. Nhưng từ đó nghe như một bản án tử… Bên ngoài trời tối và mưa. Con vác xác ông ta xuống sông rồi ném xuống. Dòng Stivone khi ấy chảy xiết, và xác bị cuốn đi mấy cây số trước khi người ta tìm thấy. Không ai nghi ngờ gì cả. Chỉ có vợ con biết… và giờ bà ấy cũng không còn nữa.”
Don Camillo ngồi trầm ngâm khá lâu. Cuối cùng ông lẩm bẩm:
“Biết nói sao đây? Gọi anh là người yêu nước hay là kẻ sát nhân? Chỉ có lương tâm anh mới trả lời được.”
“Chính vì thế mà con đến gặp cha,” Milco kêu lên. “Con không thể tự biện hộ mình bằng lý lẽ yêu nước. Có tặng huân chương con cũng thấy mình là kẻ giết người. Con mất ngủ triền miên… Lần đầu tiên người phụ nữ Đức ấy đến, cám ơn con đã đối đãi tử tế với chồng bà ấy… con chỉ muốn độn thổ! Con giết chồng bà ấy, mà bà ấy lại cám ơn con! Đứa con mồ côi gọi con là chú! Không, con không chịu nổi nữa. Con không muốn trải qua 51 tuần chỉ để sợ hãi tuần thứ 52. Con không muốn thấy bà ấy nữa. Con không muốn ruột gan mình đảo lộn. Cha không tưởng tượng được con đã chịu đựng gì suốt mười năm qua đâu.”
“Không,” Don Camillo nói khẽ, “ta tưởng tượng được. Và ta mừng vì anh đã khổ sở. Điều đó chứng tỏ lương tâm anh vẫn sống.”
“Đúng vậy, thưa cha!” Milco nói đầy kích động. “Chính vì thế mà con mới đến tìm cha. Con không đến để xin an ủi. Cha có thể nói gì tùy ý, nhưng sự thật vẫn là: con đã giết Fritz. Cha phải giúp con chấm dứt chuyện với người đàn bà ấy. Con không đủ can đảm để làm điều đó, nhưng chắc chắn cha có thể nói hết với bà ấy.”
“Ta ư?” Don Camillo tròn xoe mắt kêu lên.
“Vâng. Bà ấy sẽ đến vào ngày kia. Cha phải nói chuyện với bà ấy… Không thể để bà ấy tiếp tục cảm ơn con vì lòng tốt, đối xử với con như người thân. Con đang nhận lấy thứ không thuộc về mình. Bà ấy phải biết rằng con là người giết chồng bà. Rồi bà sẽ kể lại cho đứa con trai biết. Như thế, bà sẽ không bao giờ quay lại, và con sẽ được giải thoát.”
Don Camillo lắc đầu.
“Không, Milco. Nếu anh thật sự có lương tâm, thì anh không được tìm cách trốn tránh đau khổ. Ăn năn thôi chưa đủ, anh còn phải đền bù. Nếu việc thấy mặt người phụ nữ ấy làm anh đau đớn, thì anh phải tạ ơn Chúa vì đã cho anh thấy bà ấy. Và tại sao anh lại muốn gây thêm tổn thương cho bà? Anh chưa hài lòng với việc đã giết chồng bà hay sao?”
Milco vùng vằng vung tay:
“Tất nhiên là con không muốn làm bà ấy đau lòng!”
“Thì chính điều đó anh sắp làm. Bà ấy tin tưởng anh, xem anh như người trong gia đình, còn anh thì định tước đi ảo tưởng cuối cùng ấy. Nếu sự hiện diện của bà khiến anh đau đớn, càng tốt. Ta sẽ cầu nguyện cho anh.”
Milco đi rồi, Don Camillo vào nhà thờ để cầu nguyện cho anh ta. Nhưng đó là một lời cầu nguyện rất lạ lùng.
“Lạy Chúa,” Don Camillo thưa với Đức Chúa trên bàn thờ, “trên mảnh đất ô uế này, có hàng chục ngàn người đã giết hàng chục ngàn người khác. Và họ chẳng hề ăn năn. Trái lại, họ còn lấy làm tự hào. Họ đòi huy chương, chức tước, muốn làm nghị sĩ quốc hội, thượng nghị sĩ, làm chủ các nhà xuất bản; họ muốn hình ảnh mình được in trong sách giáo khoa!… Còn đây là một kẻ khốn khổ, chỉ vì đã giết một người mà chịu đựng suốt mười năm, và chúng con lại không thể giúp gì được. Chúng con không thể nói với Milco rằng: ‘Này Milco… Khi Fritz bắt gặp anh với cái máy phát vô tuyến, ông ta gọi anh là phản bội, đúng không? Nhưng anh cũng có thể gọi ông ta như thế! Trong lúc anh ở trong chuồng bò làm việc cho phong trào kháng chiến, thì vợ anh, với sự tiếp tay của Trung sĩ Fritz, lại phục vụ cho nước Đức… hoàn toàn không có chút kháng cự nào!’ Không, lạy Chúa, chúng con không thể nói điều đó với Milco, bởi vợ anh đã tiết lộ điều đó trong lời trăn trối, và một linh mục không thể tiết lộ bí mật tòa giải tội. Lạy Chúa, Ngài biết rõ mọi sự, nhưng con xin hỏi: có công bằng không?”
“Công bằng, Don Camillo ạ,” Đức Chúa trả lời. “Tội lỗi của người vợ không xóa được tội của người chồng. Mỗi người phải tự chịu phần mình…”
Ngày 28 tháng Ba lại đến, và cùng với ngày đó là sự trở lại của người Đức. Vừa nghe tin họ đến, Don Camillo lập tức ra La Torretta, nơi Milco tiếp đón ông như một người bạn cũ lâu ngày gặp lại. Đó là một ngày nắng đẹp, và trong lúc cậu bé con chơi đùa với con chó ngoài sân, mẹ cậu, Milco và Don Camillo cùng nhau đi dạo ra cánh đồng, những thửa ruộng vừa bắt đầu bừng tỉnh sau giấc ngủ đông dài.
“Bà trông hơi nhợt nhạt,” Don Camillo nói với người phụ nữ Đức.
“Tôi làm việc trong một nhà máy ở thành phố lớn, nơi khói bụi dày đặc,” bà giải thích.
“Thế thì không ổn rồi,” Don Camillo nói nghiêm nghị. “Mà bà phải chắt bóp cả năm chỉ để làm chuyến đi này, đúng không?”
“Tôi không ngại chuyện chắt bóp,” bà mỉm cười đáp.
“Sao bà không đến sống ở đây, gần Fritz?” Don Camillo nói. “Fritz chắc chắn sẽ vui lòng lắm.”
Bà ngạc nhiên nhìn ông chằm chằm.
“Bà không thích chỗ này à?” Don Camillo hỏi.
“Ồ, thích lắm! Ý là nơi tuyệt vời nhất!” bà đáp. “Nhưng tôi có nhà cửa, công việc ở bên đó…”
Don Camillo phẩy tay về phía căn nhà của Milco:
“Sao lại không có nhà và việc ở đây?”
Don Camillo không giỏi nói vòng vo, nên ông đi thẳng vào chuyện:
“Bà lấy anh ấy… anh ấy lấy cô… ta làm lễ cưới… thế là ai cũng vui vẻ!”
Người phụ nữ ba mươi bảy tuổi, nhưng vẫn còn biết đỏ mặt — và lúc đó bà quả thật đỏ mặt. Milco bốn mươi hai, quá tuổi để đỏ mặt, nhưng mặt anh tái xanh. Don Camillo không phải tay mai mối, và lúc này chính ông cũng bắt đầu ngượng ngùng.
“Thôi được,” ông nói. “Cứ suy nghĩ đi. Khi nào xong thì tìm ta trong văn phòng. Guten Abend.”
Nói rồi ông quay lưng bước đi.
Rõ ràng họ đã suy nghĩ kỹ, vì ba ngày sau Milco tìm gặp ông.
“Thưa cha, vậy là cha được toại nguyện, chúng con sẽ làm đám cưới.”
“Chính xác hơn là anh được toại nguyện, ta nghĩ vậy chứ?”
Milco thở dài:
“Chỉ mong là sống với cô ấy suốt ngày không khiến con đau đớn nhiều hơn nữa. Nếu lương tâm con vẫn còn cắn rứt…”
“Phải nói rõ điều này, Milco,” Don Camillo nói. “Về phía Fritz, mọi chuyện vẫn y nguyên. Anh đã cướp đi mạng sống của anh ta, và anh không thể lấy lại được. Chuyện đó sẽ mãi là gánh nặng lương tâm của anh. Nhưng với người phụ nữ và đứa trẻ thì khác. Anh đã lấy mất chồng của cô ấy, nhưng nay anh đang cho cô ấy một người chồng khác… và sẽ không còn một đứa trẻ mồ côi cha nữa. Đừng nhầm lẫn sổ sách của mình!”
“Cầu Chúa giúp con, con chỉ biết nói vậy thôi!” Milco kêu lên.
“Ngài đã giúp rồi đó, anh bạn ạ!” Don Camillo đáp.
G.G.
