ĐỒNG CHÍ CAMILLO (TẬP 3): Kỳ 11- TỔ ĐẢNG ĐI XƯNG TỘI

T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI

LỜI TÁC GIẢ

Kỳ 11- TỔ ĐẢNG ĐI XƯNG TỘI

Chuyến tàu đi Moscow hôm đó khá vắng khách, nên chẳng mấy chốc Don Camillo đã có nguyên một toa riêng cho mình. Khi Peppone thấy ông lôi ra cuốn sách trích dẫn nổi tiếng của Lenin, hắn chán ngán bỏ đi, tìm đồng chí Nadia Petrovna và đồng chí Yenka Oregov – hai người đang lập “bộ chỉ huy tiền phương” ở đầu toa.

Don Camillo đút cuốn breviary cải trang trở lại túi, rồi rút sổ tay ra.

“Thứ Năm, 8 giờ sáng. Kolkhos Tifiz. Stephan Bordonny. Nghĩa trang chiến tranh. Lễ Cầu Hồn. Đồng chí Tavan. 3 giờ chiều. Khởi hành bằng tàu hỏa.”

Thứ Năm ư? Mới thứ Năm thôi sao? Ông khó tin rằng mình mới chỉ ở Liên Xô được… bảy mươi chín tiếng đồng hồ.

Một lần nữa bóng tối lại phủ xuống, không một bóng cây hay mái nhà nào phá vỡ cảnh quạnh hiu trải dài trên cánh đồng gió. Chỉ có những cánh đồng lúa mạch bất tận – và trong tâm tưởng, Don Camillo tưởng tượng chúng rì rào xanh tươi dưới nắng hè. Nhưng không một hình ảnh nào đủ làm ấm lại lòng ông. Ông nghĩ đến cảnh đồng mùa đông ở quê hương Bassa: sương mù đặc quánh, đồng ruộng sũng nước, đường sá lầy lội. Ở đó, không cơn gió lạnh nào có thể dập tắt hơi ấm tự nhiên mà con người để lại. Người nông dân dù lầm lũi cày bước, vẫn không cảm thấy bị tách biệt. Những sợi dây vô hình nhưng sống động gắn họ lại với nhau. Ở đây thì khác – không có sợi dây nào cả. Con người ở đây như một viên gạch trong bức tường: cần thiết, nhưng có thể bị thay thế bất cứ lúc nào. Khi bị ném ra khỏi hệ thống, anh ta không còn lý do để tiếp tục sống. Ở đây, con người bị cô lập đến mức tuyệt vọng.

Don Camillo rùng mình. Rồi một ý nghĩ vụt đến trong đầu ông:

“Tên Peppone chết tiệt kia biến đi đâu rồi?”

Cửa toa kêu lên kẽo kẹt, và khuôn mặt dò hỏi của đồng chí Tavan ló vào.

“Có làm phiền đồng chí không?” Tavan hỏi.

“Vào đi, ngồi xuống,” Don Camillo đáp.

Tavan ngồi vào ghế đối diện. Anh lấy ra một ống bìa cuộn tròn từ túi áo, ngần ngừ một chút rồi chìa ra cho Don Camillo xem.

“Chỉ còn vài ngày nữa thôi, rồi chúng sẽ không phải chịu đựng nữa,” anh nói, chỉ vào chiếc ca nhôm bên trong, nơi ba bông lúa đang được bảo quản. “Tôi để hở đầu ống để chúng còn hít thở. Nhưng theo đồng chí, tôi có nên đục thêm vài lỗ bên hông không?”

“Không cần,” Don Camillo đáp. “Chúng ổn rồi. Quan trọng là đừng để chúng bị hấp hơi, nóng quá.”

Tavan dựng ống bìa dựa vào thành ghế.

“Nhưng sau đó thì…” anh ngập ngừng.

“Sau đó? Ý anh là khi nào?”

“Khi tôi về lại nhà…”

Don Camillo nhún vai:

“Đồng chí, tôi không thấy việc trồng lại ba nhánh lúa mạch là chuyện gì khó cả.”

“Khó là chỗ mẹ tôi,” Tavan nói. “Tôi sẽ phải nói sao với bà? ‘Đây là vài bông lúa…’? Rồi anh lặng thinh, nhìn ra cửa sổ. “Trong cả cái đất nước rộng mười một triệu dặm vuông này, tại sao họ lại phải gieo lúa ngay chỗ đó?”

Don Camillo lắc đầu.

“Đồng chí, nếu một quốc gia đã có hai mươi triệu người chết trong chiến tranh, thì họ không thể bận tâm nhiều về năm chục hay một trăm ngàn người chết từ phe địch nằm lại đất mình.”

“Tôi không thể nói vậy với mẹ tôi,” Tavan phản đối.

“Tôi cũng không khuyên vậy,” Don Camillo đáp. “Cứ để mẹ anh tiếp tục tin vào cây thánh giá gỗ như trong bức ảnh chụp mộ em trai anh. Hãy kể với bà rằng anh đã thắp nến dưới chân nó. Còn ba bông lúa – hãy để trái tim anh dẫn đường. Nếu anh giữ được chúng sống và trồng lại được, thì từ hạt giống ấy, ký ức về em anh sẽ tiếp tục nảy mầm.”

Tavan lặng lẽ nghe, khuôn mặt đăm chiêu. Don Camillo chuyển đề tài.

“Đồng chí,” ông nói, “sao anh cứ đặt ra mấy câu hỏi tình cảm, uỷ mị kiểu tư sản thế hả?”

“Tôi thích bàn về mấy chuyện đó,” Tavan đáp, cầm lại ống bìa, đứng dậy định đi. Trước khi rời đi, anh lại nhìn ra cửa sổ thêm một lần nữa.

“Mười một triệu dặm vuông đất, vậy mà họ lại phải gieo lúa đúng ngay mảnh đất đó…” Tavan lặp lại, giọng u uất.

Don Camillo chưa kịp suy nghĩ gì thêm thì cửa toa lại mở ra. Đồng chí Bacciga từ Genoa bước vào. Là người thẳng tính, đầu óc thực tế, hắn không vòng vo.

“Đồng chí,” hắn nói, “tôi đã nghĩ kỹ rồi, và tôi thấy đồng chí đúng. Đây không phải là nơi để làm mấy vụ đổi đồ, buôn lậu áo lông với vớ nylon. Tôi xin lỗi vì đã nói những điều ngu xuẩn hôm trước, sau khi bị đồng chí chỉ mặt.”

“Tôi cũng nợ đồng chí một lời xin lỗi,” Don Camillo đáp. “Lẽ ra tôi nên nói riêng với đồng chí như hai người đàn ông, chứ không nên đưa ra giữa cuộc họp tổ. Nhưng thực tế là đồng chí Oregov đã bắt đầu để ý đến chuyện đó rồi, nên tôi muốn xử lý trước khi ông ta ra tay.”

Bacciga lẩm bẩm vài câu rồi nói:

“Hắn thì có được khăn lông, dù thương vụ đó có phạm quy đi nữa…”

“Ít nhất thì câu chuyện cũng không lan rộng thêm,” Don Camillo an ủi.

“Ừ thì, nhưng tôi mới là thằng ôm phần thiệt,” Bacciga gắt.

“Coi như đồng chí đã trả giá cho chút vui nho nhỏ, thế thôi,” Don Camillo nói.

“Nhưng tôi sẽ nói sao với người đã đưa tôi đôi vớ, rồi dặn phải mang khăn lông về đổi lại?” Hắn tiếp tục càu nhàu, rồi thở dài: “Nói thật đi, đồng chí – đêm qua tôi thấy tay Thượng nghị sĩ giở trò với đồng chí, còn buông lời chê bai ‘bà vợ ghê gớm’. Tôi nói thật, vợ tôi còn khủng khiếp gấp mười lần! Chính mụ ấy lôi tôi vào vụ này. Mà nếu tôi không mang món hàng về thì ngay cả đồng chí Togliatti cũng không cứu nổi tôi. Tôi cũng không thể lôi mụ ra trước chi bộ được – vì mụ ta là một tên Phát xít thối tha. Còn con gái thì theo phe mẹ – mà tụi nó còn tệ hơn cả bà già nó.”

“Cũng là Phát xít thối tha à?” Don Camillo hỏi, giọng nghiêm nghị.

“Không – tệ hơn! Chúng nó theo đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo. Tôi gọi bọn đó là quân xung kích phản động hạng nặng!”

“Tôi hiểu,” Don Camillo gật đầu. “Tôi có thể giúp gì?”

“Đồng chí, tôi làm ở bến cảng, nên cũng lận lưng được vài đồng đô. Mỹ thì thối thật đấy, nhưng đô thì vẫn thơm. Đồng chí hiểu ý tôi chứ?”

“Chưa rõ lắm,” Don Camillo đáp tỉnh bơ.

“Vì hòa bình trong gia đình, tôi sẵn sàng xì đô ra. Có gì sai trái không?”

“Chi tiền tiêu xài à? Không sai. Liên Xô đang cần ngoại tệ đô-la.”

“Biết ngay mà!” Bacciga thở phào. “Nhân tiện, đồng chí có biết tỷ giá đô thế nào không?”

Don Camillo rành rọt trả lời:

“Tỷ giá chính thức là bốn rúp một đô, nhưng khách du lịch thì được mười. Báo phản động đồn rằng chợ đen đổi được tới hai mươi, nhưng tất nhiên đó là luận điệu chống cộng cũ mèm.”

“Dĩ nhiên rồi,” Bacciga gật đầu. “Vậy khi đến Moscow, tôi cứ thoải mái tiêu tiền, phải không?”

“Hoàn toàn hợp pháp, đồng chí.”

Bacciga rời đi trong tâm trạng mãn nguyện. Nhưng Don Camillo chưa kịp ghi lại vụ này vào sổ thì cánh cửa lại mở ra – lần này là đồng chí Salvatore Capece.

Miếng gạc lạnh đã phát huy tác dụng, mắt trái của anh ta giờ chỉ còn viền tím nhạt.

“Đồng chí,” anh nói khi ngồi xuống đối diện Don Camillo, “tôi không hiểu ông làm sao mà nốc vodka như thể đó là brandy. Nhưng vodka vẫn là vodka. Không biết nó sẽ làm gì sau khi thấm, mà khi xong chuyện rồi thì chẳng sửa được nữa.”

Don Camillo gật đầu, và Capece nói tiếp:

“Thượng nghị sĩ bảo rằng sẽ tính sổ với tôi sau. Trong khi chờ, tôi đã có một con mắt bầm tím và một cục u to bằng quả óc chó sau gáy. Hắn còn muốn gì nữa? Vợ tôi là đảng viên tích cực ở chi bộ địa phương, và nếu chuyện này bị đồn ra thì thế nào cũng đến tai cô ấy. Mà cô ấy thì máu nóng và ghen nổi tiếng. Tôi không cần nói thêm, vì nghe nói đồng chí cũng từng trải qua tình huống… tương tự.”

“Yên tâm đi, đồng chí,” Don Camillo đáp. “Tôi sẽ tự nói chuyện với Thượng nghị sĩ.”

Capece đứng bật dậy, mặt rạng rỡ như được cứu tử.

“Salvatore Capece – tôi đấy!” anh tuyên bố. “Nếu có dịp ghé Naples, cứ hỏi Salvatore Capece. Cả thành phố đều biết tôi!”

Lúc này, mọi chuyện đã xảy ra quá nhiều đến mức Don Camillo thấy mình nhất định phải ghi lại vài dòng. Nhưng số mệnh thì không để yên như vậy. Trước khi ông kịp lôi sổ tay ra, thì đồng chí Peratto đã ào vào toa. Là người Piedmont chính gốc từ Turin, hắn không vòng vo chi cả.

“Đồng chí,” hắn nói, “hôm qua ta chơi cũng khá hăng. Chuyện thường thôi – rượu vào là thế. Nhưng giờ vodka tan rồi, đầu óc tỉnh táo trở lại. Đồng chí Thượng nghị sĩ có thể nói gì tùy ý, chứ tôi là nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, không phải tay máy nghiệp dư. Đây là cuộn phim chứa tất cả ảnh tôi chụp tối qua. Muốn làm gì thì làm.”

Don Camillo nhận lấy cuộn phim.

“Tôi cảm ơn, đồng chí. Đồng chí làm vậy thật đàng hoàng.”

“Vì danh dự nghề nghiệp,” Peratto nói, chỉnh lại cổ áo chuẩn bị rút lui. “Và vì tình đoàn kết giữa những người đàn ông với nhau. Vợ tôi cũng đang ghen lên từng ngày. Tôi sẽ nói với Thượng nghị sĩ rằng phim bị cháy sáng.”

Sau khi Peratto rời đi, Don Camillo ngước mắt lên trời:

“Lạy Chúa, sau tất cả chuyện này, con bắt đầu thấy xấu hổ vì mình không có… một bà vợ hay ghen.”

Rồi ông mở sổ tay, viết một dòng:

“Vợ là thuốc phiện của nhân dân.”

Chưa kịp viết thêm thì đồng chí Scamoggia lại xuất hiện ở cửa toa. Hắn phóng xuống chiếc ghế đối diện Don Camillo, châm thuốc hút rồi để lủng lẳng nơi mép môi như diễn viên Ý thập niên 50. Gương mặt nghiêm trọng một cách bất thường. Rõ ràng hắn đang vật lộn với điều gì đó. Don Camillo nhìn hắn chờ đợi, nhưng thấy hắn vẫn lặng thinh, ông định viết tiếp thì—

“Đồng chí!” Scamoggia ngắt lời. Don Camillo lập tức cất sổ tay đi.

“Có chuyện gì vậy?” ông hỏi, tỏ vẻ ngây thơ.

“Đồng chí biết rõ chuyện xảy ra tối qua mà,” Scamoggia mở đầu.

“Đừng lo,” Don Camillo trấn an. “Capece vừa tới đây, mọi thứ đã được dàn xếp ổn thỏa.”

“Capece? Hắn thì liên quan gì?” Scamoggia ngạc nhiên.

“Hắn ăn cú đấm mà, phải không?”

“Ờ, có lẽ,” Scamoggia lơ đễnh nói. “Nhưng tôi không tới vì chuyện đó.”

“Vậy thì tôi chịu, chẳng hiểu gì hết,” Don Camillo nói.

Scamoggia từ tốn nhả khói.

“Tối qua, trong một phút yếu lòng, tôi đã tát một người.”

“Vâng, tôi biết,” Don Camillo ngắt lời, bắt đầu mất kiên nhẫn.

“Tôi không nói Capece. Tôi nói là… cô gái.”

Don Camillo chết lặng.

“Ý anh là – anh đã tát đồng chí Petrovna?! Sao lại làm chuyện như vậy?”

Scamoggia giơ hai tay lên như thể chính hắn cũng chẳng thể hiểu nổi chính mình.

“Đồng chí Petrovna là người thông minh,” Don Camillo nói. “Cô ấy sẽ hiểu – chắc chắn là tại vodka thôi.”

“Nhưng tôi đâu có uống, và cô ấy biết rõ điều đó,” Scamoggia nói. “Chính điều đó mới là rắc rối.” Hắn dụi điếu thuốc dưới chân. Don Camillo chưa từng thấy hắn trông u uất đến vậy.

“Thôi nào, đừng làm quá lên, đồng chí. Cô ấy là cô gái tuyệt vời.”

“Chính xác,” Scamoggia gật đầu. “Cô ấy đáng giá từng đồng vàng. Và tôi không thể đối xử với cô ấy như với một cô gái qua đường. Tôi không có quyền dẫn cô ấy đi lạc.”

Don Camillo – xuất thân từ miền đồng bằng La Bassa – không sao hiểu nổi cái kiểu tâm lý thành thị lắt léo của dân Rome như Scamoggia.

“Dẫn đi lạc? Ý anh là sao?”

“Đây không phải chuyện đùa!” Scamoggia gần như hét lên. “Nanni Scamoggia mà tát một người phụ nữ thì phải có lý do. Tôi có vẻ là loại đàn ông ra tay với phụ nữ chỉ vì vui thú sao?”

Don Camillo lắc đầu.

“À, tôi hiểu rồi. Anh lo rằng cô ấy tưởng anh nghiêm túc.”

“Đúng vậy.”

“Anh không muốn cưới cô ấy, và sợ phải nói ra.”

“Chuẩn không cần chỉnh.”

“Vậy thì đơn giản thôi. Cứ để mọi chuyện trôi qua, ba hôm nữa là anh về nước, cô ấy sẽ hiểu là phải quên đi.”

“Nhưng tôi thì không quên được – đó mới là vấn đề.”

Don Camillo nhận ra sự việc phức tạp hơn mình tưởng.

“Trong trường hợp đó, tôi không có lời khuyên nào.”

“Không, đồng chí có. Đồng chí biết suy nghĩ đàng hoàng, và tôi đang đặt niềm tin vào đồng chí. Tối qua chúng tôi đã nói chuyện rất lâu, sau khi mọi chuyện kết thúc. Tôi buộc phải giải thích.”

“Anh làm đúng.”

“Vài tháng nữa, cô ấy sẽ tới Rome làm thông dịch cho một đoàn du lịch. Và…”

Hắn ngập ngừng một chút rồi nói tiếp:

“Đồng chí, tôi có thể tin tưởng đồng chí không?”

“Cứ xem như đang nói chuyện với cha giải tội đi.”

“Tôi mà bước vào tòa giải tội thì thà chết còn hơn!”

“Chuẩn luôn,” Don Camillo gật gù. “Nhưng dù sao, vẫn có những linh mục thà chết chứ không tiết lộ lời xưng tội. Nếu tôi là linh mục, tôi sẽ thuộc loại đó. Nên cứ nói thoải mái.”

“Khi cô ấy đến Rome, có thể cô ấy sẽ muốn ở lại, để được gần tôi. Vậy tôi có nên khuyến khích chuyện đó không?”

“Không,” Don Camillo đáp dứt khoát. “Như thế là không danh dự. Một đồng chí Scamoggia không thể cư xử kiểu đó. Nhưng vẫn có giải pháp khác – hợp lý và xứng đáng hơn nhiều.”

“Là gì?”

“Cô ấy giỏi việc, chắc được lòng Đảng. Khi tới Moscow, cô ấy có thể xin phép để anh ở lại Liên Xô. Đất nước này cần người có lập trường và chuyên môn vững. Ở lại đây, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn – cả trái tim lẫn lương tâm của anh đều được trọn vẹn. Tốt hơn nhiều so với việc kéo một cô gái trong sáng, mù quáng vì yêu, vào một cuộc phiêu lưu tình ái giữa đất khách quê người.”

Gương mặt của Scamoggia bỗng bừng sáng.

“Đồng chí à, đầu óc tôi vừa rồi đúng là rối như canh hẹ, nhưng giờ thì nhờ đồng chí, tôi đã trở lại đúng đường ray. Như đồng chí nói, chuyện đơn giản thôi. Tôi thật sự nhẹ lòng khi được trút hết với đồng chí.”

Nói rồi, anh bắt tay Don Camillo một cách thật lòng, rồi quay người bước đi.

“Lạy Chúa,” Don Camillo lẩm bẩm, “người mục tử cách mạng phải có nhiệm vụ đưa những con chiên lạc trở lại với đàn Đảng.”

“Không phải thế đâu,” một giọng nói trả lời. “Đó là việc của… đồng chí Quỷ!”

Nhưng có lẽ đó không phải là tiếng Chúa, mà là tiếng gió hú rít qua những cánh đồng hoang Siberi. Don Camillo không kịp suy xét thêm vì Peppone đã xuất hiện, đứng chặn ngay trước mặt.

“Sao ông không ra ngoài trò chuyện với tụi tôi,” Peppone gắt, “mà cứ ngồi lì ở đây, nhìn ra ngoài cửa sổ thế hả?”

“Đồng chí,” Don Camillo đáp với vẻ mặt nghiêm túc, “một tổ trưởng Đảng thì có cả núi việc phải làm nếu muốn xứng đáng với trách nhiệm chính trị của mình.”

Peppone nhìn ông đầy nghi ngờ, rồi nhún vai. Dù kẻ thù có ma mãnh đến đâu, thì… nhốt trong một toa tàu giữa lòng nước Nga Xô Viết thế này, hắn cũng chẳng thể làm được chuyện gì ghê gớm cho cam.

G.G.

Bài Mới Nhất
Search