T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
Kỳ 15-MỘT CÂU CHUYỆN KHÔNG CÓ HỒI KẾT
“Lạy Chúa,” Don Camillo thưa với tượng chịu nạn trên bàn thờ, “đã hai tuần trôi qua kể từ ngày con trở về lại nơi thân thuộc này, vậy mà nỗi ray rứt cứ đeo bám lấy con như chiếc áo dạ ướt sũng. Mà xin Người hiểu cho, đó là nỗi ray rứt chứ không phải sợ hãi. Con chẳng có gì phải sợ. Nhưng con xấu hổ lắm, như một người lính già quen đánh trận ngoài mặt trận, bỗng bị đẩy vào vai kẻ cải trang, lén lút thâm nhập doanh trại địch chỉ để làm nội ứng. Cây thánh giá giấu trong bút máy, cuốn kinh nhật tụng đội lốt sách ‘Trích dẫn Lenin’, rồi những Thánh lễ chui trước cái bàn đầu giường—ôi, nhục thay!”
“Đừng dằn vặt bản thân, Don Camillo,” Đức Chúa trả lời bằng giọng hiền từ. “Con đâu phải kẻ hèn nhát núp sau lưng người khác để đâm dao. Con chỉ muốn cứu giúp họ thôi mà. Nếu một người sắp chết khát, mà con buộc phải gian dối để đưa nước đến cho họ, con có nỡ từ chối không? Lòng quả cảm của người lính Chúa không nằm ở kiếm hay gươm, mà ở lòng khiêm hạ. Kẻ thù thật sự của họ là sự kiêu ngạo. Phúc cho ai hiền lành…”
“Lạy Chúa, nhưng Người đang nói từ cây Thánh Giá vốn rạng rỡ như ngai vàng vinh quang. Người đã chiến thắng trong trận chiến công khai, không cần khoác áo kẻ khác hay đeo mặt nạ như con. Người đâu có mạo danh làm quỷ để cứu người!”
“Don Camillo, con có nhớ rằng Con Thiên Chúa đã hạ mình xuống làm người trần, sống kiếp người, rồi chết như một tên tội phạm hèn mọn? Hãy nhìn kỹ Chúa của con đi, thân thể rách nát, mão gai đội đầu, máu chảy ròng ròng—đó là vinh quang sao?”
“Lạy Chúa, con nhìn thấy Người,” Don Camillo vẫn khăng khăng, “nhưng con chỉ thấy ánh sáng thiêng liêng từ hiến tế tối thượng của Người. Còn ‘Đồng chí Don Camillo’ thì tối tăm đến mức chẳng le lói được một tia sáng nào, dù chỉ là đóm diêm lập lòe.”
Đức Chúa mỉm cười.
“Thế còn ánh sáng mà con đã thắp lên trong mắt bà cụ nông dân ở Grevinec? Còn ngọn nến con cắm trên nấm mộ vô danh của người lính trẻ, để một gia đình nơi xa được yên lòng, biết rằng có ai đó đã nhớ đến con họ? Hay là đêm bão trên biển, lúc những người đồng hành của con kinh hoàng tưởng chừng như tận số. Khi con giơ thánh giá lên và cầu xin Ta tha tội cho họ, họ có nhạo báng gì không? Không. Họ quỳ sụp xuống, cố hôn lấy hình tượng bé nhỏ đó—một cây thánh giá mini có tay gập được! Chưa bao giờ con tự hỏi sao họ lại làm thế à?”
“Nhưng… thưa Cha,” Don Camillo lí nhí, “nếu là linh mục nào khác, họ cũng sẽ làm như vậy thôi mà…”
“Con quên là chỉ có Peppone biết con là ai. Với những người kia, con vẫn là ‘Đồng chí Tarocci’. Vậy sao họ lại quỳ? Sao họ lại tin?”
Don Camillo dang tay, cứng người ra vì bàng hoàng. Mãi đến lúc này ông mới nhận ra đó là một khoảnh khắc quá đỗi kỳ diệu.
“Thấy chưa,” Đức Chúa nói, “cũng có chút ánh sáng toát ra từ ‘Đồng chí Don Camillo’ đấy chứ.”
Trong suốt hai tuần kể từ khi trở về, Don Camillo đã gắng sắp xếp lại những ghi chép trong chuyến đi của mình để trình lên Đức Giám mục xem xét. Việc này không hề dễ dàng, bởi dù ngài Giám mục tuổi cao và hay quên, ngài lại có tiêu chuẩn khắt khe đến đáng sợ về ngữ pháp.
Từ sau cái bắt tay chia tay ở ga Milan, Don Camillo chẳng hay tin gì về Peppone. Người thợ hớt tóc gốc Napoli thì biến mất ở Tây Berlin; đồng chí Tavan, mang theo ba nhánh lúa, xuống tàu tại Verona, còn Don Camillo cùng với đồng chí Bacciga và đồng chí Peratto rời tàu ở Milan.
“Không đi cùng bọn tôi thêm đoạn về Parma hay Reggio Emilia à?” Scamoggia hỏi. Nhưng Don Camillo lấy cớ có việc khẩn ở Milan. Mà thực ra đúng là như vậy—ông để lại bộ áo lễ ở đó và đang nóng lòng được mặc lại. Peppone lúc ấy đếm đầu người trong nhóm, và ngay khi Don Camillo vừa bước xuống tàu thì ông nghe thấy Peppone hô hớn:
“Từ giờ chỉ còn sáu ta! Cầm lấy tiền này, mua sáu chai rượu. Ta mời!”
Tiếng cười vang dội của Peppone còn lảng vảng bên tai Don Camillo suốt mấy hôm, khiến ông trăn trở mãi không hiểu vì sao hắn lại vui đến thế.
Tối ngày thứ mười bốn kể từ lúc về nhà, Peppone bất thần xuất hiện để giải thích lý do. Don Camillo thoạt đầu không nhận ra người bạn cũ. Lần cuối gặp, Peppone vẫn còn diện bộ complet xanh đậm hai hàng nút, sơ mi trắng, cà vạt lụa xám bóng bẩy; vậy mà giờ đây, hắn đứng đó, khoác lên người bộ đồ xưa cũ: áo nhung tăm, quần nhàu nhĩ, mũ kéo sụp xuống gáy, khăn tay buộc quanh cổ, và choàng ngoài là chiếc áo choàng đen bằng len dày như nông dân chính hiệu.
Don Camillo nhìn trân trân một lúc rồi lắc đầu:
“Thiệt tình, tôi đúng là lẩm cẩm. Quên khuấy mất rằng đại diện của giai cấp công nhân thì ở Rome phải khoác áo nghị sĩ, còn về làng lại phải mặc y chang ông thị trưởng. Cái khổ của người cách mạng là phải sống hai kiếp trong một đời. Ngồi đi chứ?”
“Tôi nói đứng cũng được,” Peppone gầm gừ. “Tôi tới để trả nợ.” Hắn rút ra một cây nến và đặt lên bàn viết của Don Camillo. “Cây này là để tạ ơn Chúa đã cứu tôi khỏi chết đuối.”
“‘Trong cơn nguy khốn, con người nhớ đến Chúa’—như ông thuyền trưởng Nga đã nói,” Don Camillo đáp. “Thường thì sau cơn nguy khốn, người ta lại quên Chúa. Tôi chúc mừng trí nhớ tốt của ông.”
“Và cây này là để cảm ơn Chúa đã cứu tôi khỏi một linh mục nào đó mà quỷ đã sai đến hành hạ tôi,” Peppone nói tiếp, giọng não nề, rồi rút ra một cây nến khổng lồ dài cả mét, to gần bằng cái chum.
Hàm dưới của Don Camillo rớt xuống gần chạm cổ áo.
“Tôi đặt riêng đấy,” Peppone giải thích. “Nó to thật, nhưng nếu phải xứng tầm với sự nguy hiểm của tay linh mục kia thì tôi phải làm cây gấp bốn lần cỡ này.”
“Ông tâng bốc tôi quá rồi,” Don Camillo đáp. “Một cha xứ nhà quê không đáng được lưu tâm như vậy đâu.”
“Cũng có những cha xứ nhà quê nguy hiểm không kém gì Đức Giáo hoàng,” Peppone vặc lại. Hắn ném lên bàn một gói đồ và ba lá thư, rồi nói: “Người ta gửi tôi mấy thứ này, nhờ chuyển cho đồng chí Tarocci. Tôi không thích làm cái việc đưa thư cho linh mục. Báo trước, lần sau tôi sẽ đốt sạch!”
Don Camillo mở gói, thấy bên trong toàn là ảnh. Một bức thư viết bằng nét chữ quen thuộc đi kèm.
“Chúng là…” ông định nói.
“Tôi không xía vô việc riêng của cha đâu,” Peppone ngắt lời.
“Nhưng chúng liên quan đến đồng chí Tarocci, mà cương vị bí thư chi bộ bắt buộc tôi phải báo cáo lên cấp trên. Đây là ảnh đồng chí Peratto gửi, bảo tôi muốn làm gì thì làm. Nhìn xem, có bức chụp cả hai ta đứng hàng đầu đây này. Không tò mò à?”
Peppone giật lấy tấm ảnh, ngắm nghía rồi nghiến răng:
“Ông mà giở trò gì là ông chết với tôi!”
“Đừng lo, Thượng nghị sĩ. Đồng chí Peratto còn gửi thêm một bộ ảnh khác—phi chính thức—nhờ tôi đem rao bán mà không tiết lộ tên. Bên báo chí tư bản họ trả cao, còn Đảng thì keo kiệt.”
“Cha định giở chiêu bẩn như vậy à?”
“Còn tùy. Nếu chúng ta không giúp anh ta tiêu thụ, lỡ đâu anh lại gửi tấm ảnh nào có mặt tôi cho một tờ báo Đảng thì sao?”
Peppone ngồi phịch xuống ghế, lau mồ hôi. Trong lúc hắn lật đống ảnh, Don Camillo đọc lá thư thứ hai và thông báo:
“Thư này của đồng chí Tavan. Anh ấy cảm ơn tôi về lời khuyên, nói mẹ anh ấy nhờ đó mà bình tâm trở lại. Ba nhánh lúa đã được trồng và mỗi ngày anh ấy đều ra thăm. ‘Nếu chúng héo đi,’ anh viết, ‘em trai tôi như thể lại chết thêm một lần nữa’. Anh ấy gửi lời chào thân ái tới đồng chí Thượng nghị sĩ.”
Peppone chỉ ừ hữ.
Lá thư thứ ba rất ngắn, có kèm theo tiền.
“Của đồng chí Gibetti,” Don Camillo nói. “Về tới nhà, anh ấy nảy sinh nghi ngờ về nội dung bức thư tiếng Nga kể chuyện cô gái anh từng yêu. Cuối cùng, anh ấy thuê người dịch và biết rằng cô ấy đã chết. Anh ấy gửi tôi một ngàn lire để xin lễ cầu hồn cho cô ấy. Tôi sẽ gửi lại tiền và báo rằng tôi sẽ dâng lễ cho cô ấy mỗi tháng.”
Peppone đập tay xuống bàn cái rầm.
“Ai chết tiệt đã hé lộ cho mấy ông kia biết cha là linh mục hả?” hắn gầm lên. “Tôi muốn biết cho ra lẽ!”
“Không ai nói cả. Họ tự nhận ra thôi.”
“Nhưng làm sao mà nhận ra?”
“Cái đó gọi là giác ngộ,” Don Camillo đáp. “Tôi không phải thợ điện nên không thể giải thích.”
Peppone lắc đầu.
“Có khi do lỗi tôi. Lúc trên tàu, có khi tôi buột miệng gọi cha là ‘Cha’.”
“Tôi không nhớ ông có làm vậy.”
Peppone giơ lên một bức ảnh có Comrade Oregov đứng rõ mồn một.
“Lần cuối tôi thấy hắn,” hắn nói, cúi đầu, “là khi cơn bão đã qua. Sao lại có thể có chuyện một con sóng cuốn hắn xuống biển? Có chuyện gì xảy ra trên boong sau khi tụi tôi xuống dưới?”
“Chỉ có Chúa biết,” Don Camillo đáp. “Và chỉ mình Ngài hiểu vì sao hình ảnh người ấy cứ ám ảnh tâm trí tôi hoài.”
Peppone thở dài thườn thượt rồi đứng dậy.
“Đây là những tấm hình tôi chọn,” hắn nói.
“Đồng ý,” Don Camillo gật đầu. “Còn mấy cây nến thì sao?”
Peppone nhún vai.
“Cây to thì để tạ ơn vì thoát khỏi chết đuối,” hắn lầm bầm.
“Ông nói câu đó cho cây nhỏ mà,” Don Camillo nhắc.
“Cây nhỏ thì để tạ ơn vì thoát khỏi ông linh mục!” Peppone hét lên rồi bỏ đi, chẳng buồn chào tạm biệt.
Don Camillo sang nhà thờ. Không giá nến nào đủ to cho cây nến khổng lồ kia, nhưng ông khéo léo đặt được nó vào một bình đồng lớn. Khi đã thắp sáng cả hai cây trên bàn thờ, ông nói:
“Lạy Chúa, Peppone vẫn nhớ đến Ngài.”
“Và nhớ cả con nữa, nếu Ta đoán không lầm,” Đức Chúa mỉm cười trả lời.
***
Khi Đức Giám mục đọc xong bản tường trình của Don Camillo, ngài cho gọi ông lên.
“Nào, giờ thì kể hết cho ta nghe đi,” ngài bảo.
Don Camillo kể một mạch trong mấy tiếng liền, không ai ngắt lời. Khi kết thúc, Đức Giám mục kêu lên:
“Không thể tin được! Cải hóa đồng chí Tavan và Gibetti, giải phóng một anh thợ cạo Napoli, ban Thánh Thể cho bà cụ người Ba Lan, gả con gái bà ấy cho một cựu binh Ý, rửa tội cho sáu đứa cháu, nghe xưng tội và phục hồi tinh thần cho chàng rể, làm lễ cầu hồn giữa nghĩa trang bị lãng quên, và ban phép giải tội cho mười tám người đang lâm nguy! Mà tất cả chỉ trong sáu ngày, ngay giữa lãnh thổ của tên phản Chúa! Ta khó mà tin nổi!”
“Thưa Đức ngài, ngoài lời con còn có ảnh và thư làm bằng chứng. Con còn có cả một thượng nghị sĩ làm nhân chứng nữa.”
“Một thượng nghị sĩ!” Đức Giám mục rên lên. “Vậy thì thiệt hại không sao cứu vãn được rồi.”
Don Camillo ngơ ngác.
“Con ơi, con không thấy là trong tình huống thế này, ta buộc phải phong con làm đức ông sao?”
“Domine, non sum dignus…” Don Camillo khẽ thì thầm, mắt ngước nhìn lên trời.
Đức Giám mục lắc đầu.
“Y như ta năm xưa. Nhưng chẳng ai nghe đâu. Xin Chúa phù hộ cho con!”
***
Suốt tháng sau đó, Don Camillo dần gác lại cuộc phiêu lưu nơi đất Nga. Nhưng một buổi sáng nọ, khi bước ra khỏi nhà thờ, ông thấy thằng Smilzo đang dán một tấm áp phích lên tường giáo xứ. Don Camillo lặng im quan sát, và khi Smilzo từ thang bước xuống suýt đụng phải ông, thì bị chặn ngay:
“Đồng chí, nếu có kẻ nào đó xé cái áp phích còn dính hồ này rồi nhét vào họng cậu thì sao?”
“Thưa cha, trên đời không ai dám làm thế!” Smilzo cười đáp.
“Giả sử có người như vậy, và người ấy đang đứng trước mặt cậu thì sao?”
Don Camillo vẫn nắm chặt ve áo khoác rách tươm của Smilzo, chưa buông tay.
“Ờ… chuyện đó thì… khác hẳn,” Smilzo lắp bắp.
Don Camillo đổi giọng, nhẹ nhàng hơn:
“Nói nghe coi: cha có bao giờ dán áp phích lên ‘Cung Văn hóa Nhân dân’ của mấy người không? Sao lại phải mang mấy trò chính trị đến đây?”
“Không phải chính trị đâu, thưa cha,” Smilzo giải thích. “Đây là một sự kiện văn hóa.”
Don Camillo vẫn chưa buông ve áo, nhưng nhìn lên, đọc thấy dòng chữ thông báo rằng tối mai Thượng nghị sĩ Giuseppe Bottazzi sẽ diễn thuyết về chuyến đi Liên Xô vừa rồi. Sau phần nói chuyện sẽ là phần hỏi – đáp.
“Cậu nói đúng,” Don Camillo thả ve áo ra. “Rõ ràng là một chương trình mang tính học thuật. Vậy tôi có thể lấy vé ở đâu?”
“Không cần vé, ai tới cũng được,” Smilzo vừa nói vừa chỉnh lại áo. “Và hỏi gì cũng được hết.”
“Kể cả tôi hỏi?”
“Cả Đức Giám mục cũng được,” Smilzo đáp, giọng dè dặt. “Bọn tôi muốn giáo dục giới giáo sĩ mà!”
Smilzo đã lùi quá xa để Don Camillo có thể túm lấy, mà thật ra cha xứ cũng còn nhiều chuyện khác bận tâm hơn. Ông quay vào nhà xứ và cầm lấy cây bút. Nửa tiếng sau, một cậu bé đưa cho Peppone một lá thư, với nội dung như sau:
“Kính gửi Đồng chí Thượng nghị sĩ: Tôi nôn nóng chờ đến buổi nói chuyện tối mai. Cho phép tôi được gửi trước một câu hỏi: Tại sao đồng chí cứ thích chuốc rắc rối vào người thế? Thân ái — Đồng chí Tarocci.”
Chiều muộn hôm đó, Peppone bị gọi gấp về Rôma, và sáng hôm sau, Smilzo buộc phải thêm dòng tái bút vào tấm áp-phích: Vì lý do bất khả kháng, buổi nói chuyện của diễn giả xin hoãn lại vô thời hạn.
Khi trèo xuống khỏi thang, Smilzo lại một lần nữa chạm trán Don Camillo.
— Tiếc quá! — cha xứ nói — Ai mà biết hàng giáo sĩ sẽ còn phải ngụp lặn bao lâu nữa trong màn sương u tối của thời Trung cổ?
Smilzo nhanh chóng vác thang chạy về phía an toàn.
— Cha đừng lo! Rồi ta sẽ mở mắt cho họ ra thôi!
Nhưng ngày “sáng mắt ra” ấy không bao giờ được ấn định lại. Mưa gió cuốn trôi tấm áp-phích, và chẳng ai còn nhắc đến buổi nói chuyện ấy nữa. Sáu tháng trôi qua. Don Camillo, vì không có dịp nào để kể về chuyến đi Liên Xô, bắt đầu tự hỏi phải chăng mọi thứ chỉ là một giấc mơ. Nhưng một buổi sáng nọ, đang lúc sắp xếp giấy tờ, ông được người giúp lễ báo rằng có khách lạ tới. Và thật bất ngờ, Don Camillo thấy qua vai cậu ta chính là gương mặt của Đồng chí Nanni Scamoggia.
— Sao anh tìm được đến đây? — ông hỏi.
— Trên đời vẫn còn có tàu hỏa đấy chứ! — Scamoggia đáp tỉnh bơ. — Tôi thuyết phục được đồng chí Bottazzi cho tôi địa chỉ của cha.
— Tôi hiểu rồi, — Don Camillo đáp, dù thật ra ông chẳng hiểu gì cả. — Vậy lý do anh đến là gì?
Scamoggia vẫn là tay liều lĩnh như xưa. Rõ ràng từ cách anh ta châm thuốc rồi ngả người xuống ghế. Nhưng cái vẻ bất cần ấy không qua mắt được Don Camillo, người vẫn nhớ những giọt nước mắt trong mắt Comrade Nadia Petrovna.
— Tôi có vấn đề này, Đồng chí… à không, cha xứ. Là chuyện của cô gái đó…
— Phải rồi. Cô ấy sao rồi?
— Cô ấy sang Rôma hai tháng trước cùng một đoàn phụ nữ Liên Xô. Đoàn về thì cô ấy ở lại.
— Rồi anh làm gì?
— Với vị trí trong Đảng, tôi không thể dính dáng gì đến kẻ phản bội Tổ quốc Xô Viết.
— Thế rồi sao?
— Tôi muốn cưới cô ấy nên phải rút khỏi Đảng, — Scamoggia nói rồi búng tàn thuốc vào lò sưởi.
— Vấn đề là vậy à?
— Không. Vấn đề là: chúng tôi đã kết hôn được một tháng, nhưng ngày nào cô ấy cũng nói lễ cưới dân sự là chưa đủ. Cô ấy muốn cưới trong nhà thờ!
— Tôi không thấy gì đáng lo ở đây, — Don Camillo nói tỉnh rụi.
— Cha thì dĩ nhiên không rồi! Nhưng cha quên là tôi nổi da gà mỗi khi thấy linh mục đấy à?
— Tôi hiểu, đồng chí. Anh có quyền giữ quan điểm riêng. Nhưng nếu vậy, sao anh còn đến tìm tôi?
— Vì nếu bắt buộc phải có cha đạo, tôi muốn đó là người không quá khó ưa. Và cha… thì cũng gần giống một đồng chí cũ như tôi. Cha từng là bí thư chi bộ của tôi mà!
— Ý tưởng không tệ, — Don Camillo gật đầu.
Scamoggia ra mở cửa và gọi:
— Nadia!
Một giây sau, Comrade Petrovna bước vào. Vừa thấy Don Camillo, cô lập tức lao tới hôn tay ông.
— Trời đất ơi! — Scamoggia lầm bầm. — Mới sang đây có bao lâu mà đã học đủ nghi thức rồi!
Giấy tờ đầy đủ, hôn lễ được cử hành nhanh chóng. Peppone phải nhận làm người đại diện gia đình bên cô dâu, nhưng anh ta làm điều đó với nụ cười. Trước khi đôi trẻ rời đi, Don Camillo kéo cô dâu sang một bên và hỏi về chuyện thật sự đã xảy ra với Comrade Oregov.
— Đó là một vụ rất tệ, — cô thì thầm. — Khi mọi người xuống khoang dưới, Comrade Oregov ra lệnh cho thuyền trưởng khóa chặt chúng tôi lại, còng tay cha và cả đồng chí Bottazzi. Ông ta điên cuồng nói về phản bội, về gián điệp Vatican và ủy ban điều tra. Rồi ông ta đánh nhau với thuyền trưởng, bị xô vào lan can. Đúng lúc đó, một con sóng quét qua và mang ông ta đi. Đó là toàn bộ sự thật, chỉ có cha, tôi và thuyền trưởng biết chuyện này. Buồn lắm…
***
Sau khi đôi vợ chồng trẻ rời đi, Don Camillo và Peppone ngồi bên lò sưởi, sưởi ấm đôi tay. Họ im lặng một lúc, rồi Don Camillo thốt lên:
— Phải ghi lại ngay, không lại quên mất.
Ông rút cuốn sổ tay nổi tiếng ra và vừa viết vừa đọc to:
— Thêm hai cuộc hoán cải và một cuộc hôn nhân nữa…
— Cha cứ viết hết vào đó đi! — Peppone gầm lên. — Rồi đến ngày Cách mạng Vĩ đại, ta sẽ tính sổ một lượt!
— Không giảm giá cho đồng chí cũ à? — Don Camillo giả vờ nài nỉ.
— Cho chọn chỗ để treo cổ cũng là quá tử tế rồi! — Peppone quát.
— Tôi chọn rồi đấy, — Don Camillo mỉm cười. — Treo cạnh ông luôn!
Đó là một ngày đông lạnh giá, và làn sương mù từ sông dâng lên che lấp đoạn kết của một câu chuyện vừa mới kết thúc — mà thực ra, đã cũ hơn cả thời gian.
(HẾT)
G.G.
