HƯƠNG QUÊ
Ăn Tết quê nhà –Ký sự vui, 2004.
Hương Quê, tên thật là Nguyễn Văn Quế, sinh năm 1939, quê ở Giáo xứ Hà Hồi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Từ Hà Hồi theo quốc lộ số 1, có đường xe lửa chạy xuyên Việt, tới Ngã Ba Nguộn (từ ngày sáp nhập vào thành phố Hà Nội, nơi đây gọi là Phố Nguộn), cách Hà Hồi 12 cây số. Tính từ Hà Nội thì cách 30 cây. Còn từ chỗ này đi vào làng quê tôi, giáo xứ Lường Xá, xưa gọi là Kẻ Lường, cách 3 cây số. Huyện tôi là Phú Xuyên, giáp với Hà Nam.
Năm 2003, gần cuối năm, tôi đến thăm anh Hương Quê. Anh rót nước trà mời tôi và ăn bánh đậu xanh. Vui chuyện, anh nói Tết này anh về quê ăn Tết, nhân dịp kỷ niệm 50 năm di cư. Đột nhiên, tôi “À” lên một tiếng, như tán đồng với quyết định của anh.
Sau này, tức là cái Tết Giáp Thìn, 2004 qua đi khá lâu, anh Hương Quê tặng tôi tập Ký sự Ăn Tết quê nhà. Đây là tập ký sự thứ 3 Hương Quê viết về quê hương Hà Hồi của mình. Hai tập khác, 1 là Lễ khai mạc Năm Thánh 2003 Giáo xứ Hà Hồi. 2 là Lễ bế mạc Năm Thánh 2003 Giáo xứ Hà Hồi. Trong quyển Những nhà thơ Công Giáo Việt Nam hiện nay, 2022, chúng tôi đã kể đến ông qua tập Trường thiên Quê hương. Như vậy cũng đủ để nói Hương Quê vừa là một nhà thơ vừa là một nhà văn chuyên viết ký sự. Tuy nhiên, ông không phải là một người viết ký sự chuyên nghiệp theo như cách hiểu thông thường trong giới làng văn. Bởi ông chỉ viết khi ông thích, chứ không vì cơm áo. Ông viết để trao tặng, để gửi đồng hương ở hải ngoại, trong Sài Gòn và tại quê nhà ông. Cho nên các bút ký của ông chân thực, dể đọc và dễ thương. Đó là điều rất quý và hiếm ở thời đại nặng nề về tuyên truyền và giả dối. Điều này nó phá hoại con người trầm trọng, khiến con người lấy giả làm chân. Cái chân thực bị bôi đen, thóa má, miệt thị!
Ở quyển Những nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay, cũng có vài tác giả tương tự như Hương Quê ở bên đó cũng như ở đây, những bài thơ của các tác giả này không phổ biến hay chưa phổ biến. Có lẽ họ cũng có một tí khó tính, bởi có sự khác biệt về nội dung, về tinh thần của các sáng tác.
Thế nhưng, cái gương của Chúa Giêsu để lại là Ngài không loại trừ một ai. Còn những gì người đời coi là kín đáo hay chỉ nói ra ở nơi kín đáo, hoặc như “men Pha-ri-sêu” là cái men giả hình, thì Chúa Giêsu chỉ ra: “Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết. Vì thế, tất cả những gì anh em nói lúc đêm hôm, sẽ được nghe giữa ban ngày, và điều anh em rỉ tai trong buồng kín, sẽ được công bố trên mái nhà.” (Lc, 12, 2-3)
Chúc tết họ đương Hà Nội và ăn chả cá Lã Vọng
Nói đến đi thăm họ hàng trong ngày tết, mà không đề cập đến việc đi Hà Nội tết các cụ trong họ là còn thiếu xót to. Thật vậy, họ nội nhà tôi trước kia có một chi tộc chuyên sinh hoạt làm ăn ở Hà Nội nhưng vẫn gắn bó với quê hương, nhất là trong các dịp lễ, tết, giỗ chạp hiếu hỉ thì luôn được thông báo cho nhau cẩn thận và không í tai mà không chu toàn việc này nên đây là một truyền thống rất tốt đẹp trong họ Nguyễn nhà tôi. Đó là sự gắn bó mật thiết keo sơn vô cùng quý giá từ nhiều đời mà nay chúng tôi còn giữ gìn được nguyên vẹn.
Từ Hà Hồi làng tôi ra Hà Nội cũng độ gần 20 km trên đoạn quốc lộ số 1 này là đường huyết mạch để nhập vào thành phố các nông sản từ các vùng ven đô mới thoát khỏi ảnh hưởng nông nghiệp và đang chuyển mình về hướng kinh doanh thương mại, kinh tế thị trường.
Đa số các gia đình đều thu vén ruộng đất sang nhượng, cho thuê hoặc đổi chác để tạo vốn buôn bán làm ăn ở khu vực chợ làng. Chỉ còn rất ít gia đình chuyên canh và còn lại tí vườn tược trong nhà thì cải thiện, trồng hoa màu, rau thơm hay su hào bắp cải phục vụ bà con tại chợ nhà.
Chúng tôi có thông lệ phải đi thăm và tết các cụ trong họ từ trước tết mấy ngày, cho nên năm nay để thuận tiện cho việc tết nhất, anh em chúng tôi 4-5 người cùng rủ nhau kéo ra Hà Nội. Tôi lại được nhận trách nhiệm đại biểu miền Nam một lần nữa nhưng lần này không phải là đồng hương mà là gia tộc. Thế là cả đoàn khăn gói ra xe bus chèo lên. Lễ vật của chúng tôi toàn là nông sản lấy ở vườn nhà. Nào là khoai tây, nào là bắp cải, su hào, súp lơ v.v… Riêng tôi từ miền Nam về từ trước lễ bế mạc Năm Thánh đến nay là gần một tháng nên chẳng có món quà tết nào mang theo cả. Toan ghé qua chợ tết sắm một tí gọi là, nhưng được cả đoàn nhất trí giải quyết cho miễn. Tôi mừng quá và xin chấp hành nghiêm chỉnh, không dám bày vẽ sự gì khác ngoài việc đem đầu về tết các cụ.
Các gia đình Các Cụ trong họ nhà tôi đa số tọa lạc rải rác tại các phố hàng Đào, hàng Ngang, hàng Đường, Đồng Xuân và phần nhiều các gia đình còn cụ Ông, thiếu cụ Bà, có gia đình còn cụ Bà, thiếu cụ Ông và có gia đình không còn cụ Ông cụ Bà mà chỉ còn các con cháu nhưng đều do gốc một tổ sinh ra. Trước kia theo nghề của một cụ tổ, các hộ này có tay nghề làm hoa vải, hoa cưới rất tinh vi mà mỹ thuật nên làm ăn rất phát đạt. Sau này những hậu duệ có chiều hướng thay đổi chuyển sang các ngành kinh doanh khoa học xem ra lại càng khấm khá và thành đạt bội phần.
Chung tôi đến từng nhà, thắp nhang bàn thờ tổ, chúc mừng, thăm sức khỏe và tết Các Cụ. Từ Cụ cao niên nhất, nhà nào cũng trò chuyện và giữ ở lại, nhât là năm nay lại có cả miền Nam về ăn tết rất quý hóa và vui vẻ.
Sau khi đã đi khắp một lượt, chúng tôi cáo lỗi ra về thì một cụ Bà ở phố hàng Đường nhấc telephone lên gọi một Cụ khác ở phố Ngô Thì Nhậm. Chẳng hiểu Các Cụ kế hoạch ra sao, thế là Cụ ở Ngô Thì Nhậm ra lệnh cho chúng tôi phải trở lại ngay phố hàng Cân chờ Cụ ở đấy.
Chúng tôi đoán là cụ lại gửi tí quà về quê cho các cháu nên đành phải chấp hành như ý cụ. Theo hướng dẫn của một ông em, là thổ địa, chúng tôi vừa đi dạo vừa chơi chợ tết ra phố hàng Cân, tưởng ra đấy nhận quà, nào ngờ vừa đến đầu phố thì cụ bà ở Ngô Thì Nhậm cũng vừa xuống taxi một lượt với 2-3 cụ khác trong họ và các cụ kéo chúng tôi vào một cửa hiệu ăn gần đấy. Tôi nhìn lên bảng thì thấy hàng chữ to “Chả cá Lã Vọng”. Rồi một cụ có lời: “Hôm nay là tất niên, các bác lên tết chúng tôi, vậy chúng tôi xin yêu cầu các bác dùng bữa ở đây với chúng tôi xong rồi hãy ra về”. Anh em chúng tôi thật cảm động vô cùng và không thể nào mà khước từ được, đành phải thực hiện “Đức vâng lời” để được thỏa lòng các cụ và cùng các cụ đánh chén món ăn đặc sản “đất Thăng Long ngàn năm văn vật” mà các cụ đã nhất trí khoản đãi đám cháu ở nhà quê lên trong cuộc điện đàm vừa qua.
Trong khi chung tôi cùng Các Cụ đang loay hoay chờ xem có bàn ăn nào trống, thì chú em thổ địa đã tìm được hai bàn trống bên trong và ra đón Các Cụ cùng chúng tôi vào ngồi phía trong cho đỡ ồn ào… Các Cụ và chúng tôi ngồi được một lúc thì nhà hàng đã đem các gia vị ra bày ở bàn ăn, nào là rau thơm, xà lách, nào là thìa là, hành dăm, nào là mắm tôm nặn chanh pha loãng, có mì chính và đường, rồi củ kiệu, dưa hành, dưa món, cà rốt ngâm, bánh đa chiên dòn, rồi còn nhiều thứ phụ tùng gia vị lỉnh kỉnh khác, tôi chẳng nhớ hết được. Phần uống thì tùy nghi, ai thích bia, nước ngọt, rượu tây, rượu ta, rượu tàu đều có người phục vụ đến nơi đến chốn. Phần Các Cụ thì chỉ chuyên dùng nước lọc. Chú em thổ địa thì khoái nhất là thứ rượu trắng, trong ngần như rượu tăm ở quê ta vậy. Chúng tôi cũng nhất trí dùng thứ rượu từa tựa như là rượu Tăm ở làng.
Các Cụ nhà ta rât cẩn thận, tuy là ở cửa hiệu ngoài phố xá, Cac Cụ vẫn cứ làm dấu đọc kinh trước khi ăn, làm cho chúng tôi cũng lấy làm hãnh diện vì có Các Cụ làm gương sang để chúng tôi noi theo mà bảo ban con cháu.
Sau khi làm dấu, ông em “thổ địa” rót rượu mời Các Cụ và chúng tôi nâng ly chúc mừng cho buổi gặp mặt hôm nay thì nhà hàng cũng kịp mang những đĩa chả cá ra bày lên trên hai bàn…, tôi thấy toàn là thịt cá được lạng ra, gỡ sạch xương và ướp gia vị, rồi xào xáo lên cho nóng thơm, khác với chả cá trong Nam, là phải chiên (rán) lên từng viên hay từng bánh…
Các Cụ thấy chúng tôi đã đáp lại yêu cầu của Các Cụ rất là nhiệt tình rồi thì vui vẻ và tươi cười lắm. Các Cụ còn nói là: “Mấy khi có dịp tập trung đông đủ như hôm nay. Tạ ơn Chúa. Cám ơn các bác có lòng quý chúng tôi lên thăm hỏi, tết nhất rồi lại dự bữa thân mật hôm nay. Hẹn gặp lại tất cả ở quê trong ngày tảo mộ đầu năm mới”. Lúc đó dã 1 giờ trưa. Sau khi chia tay Các Cụ Bà, chúng tôi đã toan gọi taxi về thẳng Thường Tín nghỉ ngơi cho khỏe, nào ai ngờ chú em “thổ địa” nhất định không nghe và đòi chiêu đãi chúng tôi một chầu cà phê. Lấy cớ: “Vừa rồi là của Các Cụ, bây giờ mới đến em, các bác mà không nhận lời thì không taxi nào dám chở các bác đâu”. Thế là mấy chiếc taxi định chở chúng tôi đều bị chú xua đi hết. Chúng tôi đành lại phải cùng nhau giải quyết nguyện vọng thiết tha của ông em quý hóa này…
Sau khi các cụ bà lên xe về nhà, còn lại một cụ ông và chúng tôi, chú em mời vào một quán cà phê ở góc đường gần phố hàng Cân. Nói là vào quán cà phê nhưng không nhất thiết phải dùng cà phê mà tùy ý. Chúng tôi còn đang loáng choáng chân nam, chân xiêu, nhìn chai rượu còn lại độ 1/3 chú cầm trên tay, tôi sợ chú ép uống hết nên hoảng và giả vờ mượn xem rồi định cất đi cho khuất mắt, nhưng chú không chịu đưa và nói: “Em để dành mang về nhà”. Thế là chúng tôi yên tâm. Chú rất tỉnh táo và hỏi chúng tôi: “Các bác dùng gì để em gọi nhà hàng làm”.
Chúng tôi nhất tri đá chanh, thế là sáu cốc nước chanh tươi được thực hiện, vừa giải khát lại giải được cả màu đỏ mấy ông mặt trời. Khi chúng tôi tỉnh táo và cụ ông cũng sốt ruột cần về nghỉ ngơi thì chú tự động gọi hai xe taxi lại, một mời chúng tôi lên xe để về Thường Tín (mà chú đã thanh toán tiền xe với bác tài), một để chú đưa cụ ông về nhà ở phố Đồng Xuân. Ôi, sao chúng tôi lại có được một ông em thật là chu đáo và cẩn thận quá đến như vậy. Có lẽ đây cũng là một trong những nguyên nhân đã hấp dẫn tôi luôn tưởng nhớ đến anh em, họ hàng, bạn bè thân thiết ở cội nguồn quê hương mà chẳng tết năm nào tôi lại không muốn về thăm để được hưởng những hạnh phúc chứa chan, tình làng nghĩa xóm, máu mủ ruột thịt và lộc tổ phúc tiên, hồng ân Thiên Chúa ban cho lớn lao cả thảy, nồng ấm, dạt dào không bao xiết kể như hôm nay. Quả là: Hồng ân Thiên Chúa bao la. (Trích trong: Ăn tết quê nhà, tr. 9-14)
Đi thăm các giáo xứ vùng ven sông Hồng
Với tập ký sự hơn 100 trang sách khổ 14,50 x 20 cm, Hương Quê đã có 50 tiểu mục, là những nơi ông đã viếng thăm và ghi lại những hình ảnh của thực tại và cảm nghĩ của ông về những nơi đó. Nơi ông đến, có khoảng hơn 10 giáo xứ ở cả nơi xa như Bái Xuyên và khu vực Hà Nội. Như các giáo xứ vùng ven sông Hồng như Cẩm Cơ, Xâm Thụy, Xâm Động, Vĩnh Lộc, Nội Thôn, Ninh Sở, Bằng Sở…, tất cả các xứ đạo, họ đạo đều đang có những chương trình chỉnh trang, tu bổ nhà thờ, nhà nguyện cho khang trang và rộng rãi để giáo hữu có nơi lui tới kinh hạt nhất là những dịp lễ lớn như Giáng Sinh, Phục Sinh. Riêng xứ Bằng Sở thì rất đặc biệt vì nơi đây có cha thánh Tùy tử đạo được rất nhiều người có đạo và cả ngoại đạo đến để cầu xin cùng ngài cầu bầu giúp đỡ, về ốm đau, bệnh tật và những trắc trở, khuất mắc, rất nhiều người được ơn một cách rõ rệt nên hàng ngày vẫn có khách từ các nơi kéo đến, nhất là vào dịp chính lễ giỗ của Cha Thánh thì thật là đông như đại hội (Trích trong: Ăn Tết quê nhà, tr.38).
Chúng tôi cũng được biết, hiện nay giáo xứ Bằng Sở được coi như một Trung tâm hành hương, Tòa Giám mục Hà Nội đã thiết lập tại đây một Học viện, lấy danh xưng là Học viện Thánh Phêrô Lê Tùy. Linh mục đặc trách Học viện này là cha Antôn Trần Văn Phú, giáo sư Triết tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, người quê Lường Xá, một giáo xứ cũng được tác giả Hương Quê đến thăm.
Ngoài một số giáo xứ và họ đạo, tác giả còn du xuân Hà Thành, đi thăm các nơi như: Văn Miếu, Mỹ Đình, thăm chợ Tết Hà Hồi, ăn Tết tại nhà dòng Mến Thánh Giá Hà Hồi, tảo mộ, kỷ niệm Đống Đa, hồi tưởng xa xưa, ga Hàng Cỏ chia tay, trên tàu chia sẻ Lời Chúa…
Đi thăm cha xứ tại giáo xứ Bái Xuyên – Chuyện kể về “cây đa giời ơi”
Để đến Bái Xuyên, khách phải đi qua “cây đa giời ơi”. Nơi đây có lưu truyền một câu chuyện về cướp của giết người. Tác giả của tập ký sự vui đã kể như sau:
Xe tiếp tục đi nhanh về mạn xuôi thì lại thấy xuất hiện hai bên đường cái một số tháp nhà thờ. Tôi hỏi ra thì đó là các tháp nhà thờ của của các xứ Sổ, Nghệ, Hà Thao, Tân Độ…Tôi thấy trong lòng rất được an ủi vì cũng từa tựa như thấy các ngọn nhà thờ ở hai bên đường đi Hố Nai, Đà Lạt, tôi thầm hiểu là các giáo xứ cũng vẫn được duy trì và phát triển. Đi một lúc nữa thì thây biển đề ranh giới huyện Phú Xuyên-Thường Tín. Từ Phú Xuyên xe chạy một đoạn dài, có lẽ gần đến cầu Guột thì rẽ trái, và từ đây vào đến Bái Xuyên cũng còn phải chạy trên 10 km đường trường. Trên đoạn đường này có một điểm nổi tiếng từ trước đến nay giữa đồng không mông quạnh, đó là một cây đa cổ thụ, lúc nào cũng xanh um và tỏa bóng mát. Khách bộ hành và những nông dân địa phương làm lụng mệt nhọc buổi trưa thường đến nghỉ giải lao và ăn uống dưới bóng cây này. Nhưng nếu khách lạ có việc cần phải đi qua khu này, nhất là vào ban đêm thì thật không an toàn. Theo chuyện kể ngày xưa, đây là điểm hẹn hò của bọn trộm cắp. Sau những buổi làm ăn phi pháp chúng gặp nhau ở đây để chia chác, tính toán và trấn lột, “hỏi thăm sức khỏe” người đi đường, và nạn nhaq6n lúc đó cũng chẳng có ai xung quanh để cầu cứu, chỉ có nước kêu trời, nên người dân vùng này gọi cây này là “cây đa giời ơi”. Ở gốc đa người ta có làm một cái miếu để nhang khói cho các oan hồn. Từ “cây đa giời ơi” đến giáo xứ Bái Xuyên cũng phải độ 5 cây số nữa. Xe cứ chạy theo đường hương lộ, có đoạn đã trải đá tốt, đoạn thì đang dang dở và có đoạn còn là đường đất gập ghềnh sống trâu nhưng được cái may là vào mùa này không có mưa nên không bị lầy lội…
Bái Xuyên đây rồi! Chúng tôi tất cả xuống xe và nhìn đồng hồ tay thấy đã 11 giờ trưa. Trong khi chờ đợi một vị đại diện vào gặp Ban chấp hành giáo xứ để trình bao cha có khách, thì chúng tôi đi một vòng chung quanh nhà thờ. Vườn trên, ao dưới, cây cảnh thật là xum xuê. Dưới ao thây nhiều đàn vịt bơi lội tung tang. Trên sân vườn lại thấy đông đảo vài chục con họ hàng nhà gà, trống mái, lớn bé đang lững thững bách bộ bên cạnh những luống rau thơm, rau cải đã được bảo vệ bằng lớp rào tre thấp. Xen kẽ có cả những luống hoa huệ, hoa mân côi, hoa thược dược, hồng tía, xuân sang đủ mặt. Thêm một cảnh vui mắt nữa là đàn chim bồ câu bay lượn, nhảy nhót trên mái nhà xuống nóc bể chứa nước mưa ở sân nhà xứ. Ngần ây cảnh vật đã báo hiệu cho chúng tôi biết rằng giáo xứ Bái Xuyên của cha Duẩn chẳng phải là một giáo xứ nghèo nàn. (Trích trong: Ăn Tết quê nhà, ký sự vui. Tr. 28-30)
Sau đó tác giả Hương Quê cùng với một số vị trong Ban hành giáo của Hà Hồi được cha chính xứ Bái Xuyên là cha Duẩn tiếp đón rất cởi mở. Nhưng, quý vị ấy cũng có món quà mừng xuân kính tặng ngài. Hương Quê viết:
Chúng tôi cùng nhau khiêng cây quất từ trên xe vào đến trước cửa nhà xứ. Chợt nhìn thấy hai bên cổng vào phòng khách giáo xứ đã được trang trí theo phong cách ngày tết cổ truyền bằng một đôi câu đối chữ vàng trên nền vải điều thắm, nội dung giống như câu đối tôi mua ở Văn Miếu Hà Nội:
Gìn giữ thủy chung xuân bất tận
Duy trì nhân nghĩa tết trường tồn.
Tiến vào phía trong, thấy một đôi khác mang nội dung đặc biệt để diễn tả tinh thần sinh hoạt của giáo xứ và giữa chủ chăn và đoàn chiên. Ông phó BHG dẫn chúng tôi tiến vào phòng khách, thấy Cha cũng đang bít bùng trong bộ áo ấm và ngài vui vẻ chào đón, bắt tay chúng tôi. Vị đại diện có lời kính chào và chúc mừng năm mới đến Cha, quý chức và toàn thể bà con giáo dân xứ Bái Xuyên. Hương đậm đặc của trà Bắc Thái quyện với vị ngọt ngào bánh mứt ngày xuân, cùng với tình cảm Cha con lâu ngày gặp lại trong dịp xuân về đã làm ấm áp thêm tình cảm nồng nàn sẵn có trong những thời gian trước đây, khi mà Cha còn đảm trách giáo xứ Hà Hồi. Sau tuần trà, Cha con đã chúc mừng năm mới, chúng tôi xin phép Cha ra về, ngài bảo chúng tôi: “Ai lại như thế, thôi đã đến giờ, chúng ta cùng nhau xuống nhà ăn”. Thế là ngài “lùa” chúng tôi đi phía cửa sau phòng khách, xuống phòng ăn của giáo xứ. Tại đây đã được dọn sẵn một dẫy cỗ bàn.
Một dịp nữa, tập thể chúng tôi lại thực hiện câu: “Vâng lời hơn của lễ” để cùng nhau ngồi vào bàn tiệc. Tôi nghĩ thầm, bản thân mình là xa lạ, nên tôi chọn chỗ ngồi tận phía dưới cùng, còn tiếp theo là một số các em thiếu nhi nam nữ, lễ sinh (trong tương lai sẽ có thể trở thành các cô nhà mụ, các chú nhà thầy) của Bái Xuyên thì ngồi phía dưới nữa để nhường chỗ cho quý khách Hà Hồi và Ban hành giáo sở tại ngồi gần cha xứ.
Tưởng rằng như vậy là đã tạm xong, chỉ còn chờ cha làm phép của ăn là đánh chén, ai ngờ đâu chính cha Duẩn lại phát hiện ra tôi là người miền Nam mới ra, tôi thưa cha: “Sao cha nhận ra con?”, cha bảo: “Hôm khởi công xây dựng nhà hội giáo xứ Hà Hồi, ông chẳng xúc 3 xẻng cát là gì!” Thế là tôi phải cảm tạ cha đã nhận ra tôi, và chức danh “đại biểu miền Nam” lại gắn liền với tôi như một vật bất ly thân, không thể khước từ được.
“Ăn gian không xong, đành phải bỏ”, kẻ ngồi dưới lại được lôi lên trên, và rất may là không có ai được mời xuống vì ghế cạnh cha còn trống…
Cơm no, rượu ngà ngà say, cha lại hướng dẫn chúng tôi trở lại phòng khách giáo xứ. Tại đây, cha con cũng cạn hết tuần trà và tráng miệng bằng thanh bông hoa quả, cũng là đặc sản trong vườn nhà xứ.
Thấy trên bàn có hai trái bưởi thật to mọng, chúng tôi vô tình khen là loại bưởi quý, sao mà cha khéo chọn giống. Thế là như trúng ý, ngài kể vanh vách lai lịch của cây bưởi và nhắc khi ra về thì tặng Ban hành giáo một quả để ngày tết dâng của lễ, còn một quả thì tặng ông đại biểu miền Nam.
Ngài lại kèm cả cho tôi một tấm card-visit, trong đó có ghi một vế câu đối và tôi sẽ phải trả lời vế thứ hai cho ngài. Tới nay tôi vẫn cất kỹ và rất mong có dịp về thăm cha rồi mới trả nợ cha vế thứ hai. Thế là tôi vẫn mắc với cha một món nợ văn chương rất đáng được vinh dự để đáp lễ cha trong một dịp có thể…
Chúng tôi tạ ơn Chúa, bái chào cha, quý chức sở tại, bai bai Bái Đô, Bái Xuyên để lên xe ra về, trong lòng còn được hiểu thêm là giáo xứ Bái Xuyên cùng với cha xứ chẳng những phong phú về mặt vật chất, mà còn giàu có cả về mặt văn hóa, tình cảm…
Xe đi ngang nhà thờ Hoàng Nguyên, tôi cố ý nhìn chăm chú một lần nữa để bái biệt địa danh giáo xứ này, nơi đã đào tạo và hun đúc biết bao linh mục từ trước đến nay để giáo hội có được những thợ gặt trải dài khắp cánh đồng truyền giáo của quê hương và của tổ quốc Việt Nam thân yêu. Nhìn xa xa, tôi lại nhận ra nhiều ruộng lúa đông xuân đã ngả bông vàng trĩu. Tôi liên tưởng đến ngay lời Chúa phán: Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt. Tôi thầm mơ và khấn nguyện Thiên Chúa đoái thương quê hương Việt Nam, cho hưởng nhiều hồng ân thiên triệu để còn gieo rắc hạt giống cho các vùng sâu, vùng xa, chưa được nhận biết ánh sáng phúc âm (Trích trong: Ăn tết quê nhà, ký sự vui, tr.28-33)
Đi thăm thân hữu Hà Hồi tại giáo xứ Lường Xá
Trong các giáo xứ tác giả Hương Quê đến thăm, có giáo xứ Lường Xá (tên cũ là Kẻ Lường) là quê chúng tôi. Cái Tết Giáp Thân, 2004 này, tôi cũng về Ăn Tết ở nhà để kỳ niệm 50 năm ngày di cư, rời xa bấy nhiêu năm. Thực sự là nỗi nhớ quê và người thân khôn nguôi. Vì thế chúng tôi có hẹn gặp nhau ở quê tại nhà tôi. Ngày 18-01-2004 nhằm ngày 27 Tháng Chạp Quí Mùi 2003, đúng 05 giờ sáng con tàu tôi về, vào ga Hàng Cỏ, thì chiều ngày hôm sau, 28 Tháng Chạp, Hương Quê đi với hai người nhà nữa xuống thăm tôi. Sau lúc vào nhà nghỉ chân, ông mới giới thiệu với tôi hai người đi với ông là Nguyễn Hữu Hiệp và Nguyễn Văn Yến. Cả hai đều là người nhà của ông và cả hai đều là con của cha già Đỗ Đức Hanyh, thời kỳ ngài về Hà Hồi làm chính xứ, cho đến ngày Chúa cất ngài về. Cho nên ba ông đều là anh em linh tông với nhau. Thật sự là một bất ngờ và chúng tôi mừng lắm, cả ba chúng tôi đều đứng bật dậy, vừa bắt tay vừa ôm choàng lấy nhau. Ông Hương Quê rút trong túi áo ra mảnh giấy có viết sẵn 4 câu thơ ông làm vào dịp này. Ông đọc:
Xuân Hạnh Ngộ
Năm mươi năm mới có một lần
Một phần hai thế kỷ được gần quê hương
Yêu thương xuân nở mai đào
Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn
Dưới đây là lời của Hương Quê ghi lại cuộc đi thăm xứ Lường Xá quê tôi:
Trời rét đậm, lại có bổ sung gió bấc với mưa phùn, chúng tôi trang bị rất cẩn thận, trên đầu đội mũ len tu-lờ, có mũ bảo hiểm chụp bên ngoài, cổ quấn khăn len, chân đi bít-tất, giầy tây, áo quần bốn năm lớp, đó là chưa kể ba-đờ-suy khoác ngoài. Thế mà vẫn cảm thấy bị cóng đơ tay. Anh cháu tôi lái xe, tôi ngồi phía sau. Thấy tôi nép sát nên anh hỏi tôi: “Chú có chịu lạnh nổi không?” Tôi trả lời: “Vô tư. Ngoài này các anh không quý báu gì chứ trong miền Nam chúng tôi thì ao ước lắm cũng chẳng được. Nếu ai có đủ điều kiện thì phải mua máy lạnh và tốn phí tiền điện nhiều lắm mới được lạnh một tí trong phòng. Còn quê ta thì tha hồ, cả một bầu trời bát ngát bao la hưởng suốt mùa lạnh miền phí vô tư, tha hồ”. Hai chú cháu tôi mải nói chuyện đến quên lạnh, thế mà đã đến ngã ba Nguộn lúc nào không biết. Chúng tôi rẽ vào bên phải, đi theo con đường đổ đất đá lẫn lộn, nhiều ổ gà, ròi qua nhiều bờ ruộng, bờ ao trên đoạn đường khoảng 3 km thì tới xứ Kẻ Lường hay còn gọi là làng An Mỹ (Lường Xá), một xứ đạo thuộc vùng ven quốc lộ 1, đặc biệt là xứ đạo toàn tòng Công giáo. Nhà thờ được xây dựng cách đây gần 100 năm do cụ già Đốc làng ta (Hà Hồi) vẽ kiểu. Sở dĩ tôi biết được vậy là do người bạn cùng ở trong Nam, hàng xóm với tôi và cùng về vào dịp Tết này. Ông là đồng hương gốc Kẻ Lường. Chính ông đã cho tôi mượn tấm ảnh cha già Đỗ Đức Hanh để chụp lại làm tư liệu lịch sử gửi về Hà Hồi trong dịp khai mạc Năm Thánh 2003 tại nhà truyền thống. Ông kể cho tôi nghe việc cụ già Đốc làng ta đã vẽ và điều hành công việc xây dựng ngôi nhà thờ Lường Xá, được các cụ thời trước truyền lại. Ông hỏi thăm tôi cả lý lịch cụ già Đốc để phổ biến ở quê ông và để cầu nguyện theo các vị ân nhân của giáo xứ Lường Xá. Khi chúng tôi ngừng xe ở cuối ngã ba đường để hỏi thăm đến nhà thì ông bạn tôi ở trên nhà gác nhìn xuống và nhận ra chúng tôi ngay. Chúng tôi chạy xe vào sân, ông bạn từ trên lầu xuống vội, tay bắt mặt mừng. Ông bạn ở Lường Xá ngày xưa là nghĩa tử của cha Hanh. Sau năm 1954, cha Hanh về Hà Hồi làm chính xứ, thì hai người nhà của tôi (Nguyễn Hữu Hiệp và Nguyễn Văn Yến), lúc ấy còn bé, cũng là con thiêng liêng của ngài. Cả ba người này đều có những đặc điểm về tâm linh như nhau, ngồi đàm đạo với nhau rất ăn ý.
Bốn chúng tôi gặp gỡ, hạnh ngộ tại quê hương An Mỹ vào một buổi chiều đông cuối năm trong bầu không khí gió bấc lạnh lùng, nhưng được sưởi ấm bằng tinh thần đồng đạo, đồng hương, đồng chí hướng, cộng với bầu khí chuẩn bị đón xuân Giáp Thân và chắc rằng có sự sưởi ấm thiêng liêng của cha già Phaolô Đỗ Đức Hanh. Riêng tôi tuy chẳng được diễm phúc là một nghĩa tử, song lại được may mắn là làm cái công việc kết nối giữa hai thân nhân của tôi với ông bạn An Mỹ (nhà văn Khải Triều). Sự gặp gỡ thân thiện giữa chúng tôi chắc chắn cũng chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên, mà nói theo chiều hướng của Đức Hồng y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, nghĩa là: Chúa cứ thích vẽ đường thẳng bằng đường cong như thế! Đó là ý Chúa, đó là đường đi của Chúa Thánh Thần, một nẻo đường cong khó hiểu, diệu kỳ để rồi có ngày hôm nay, trở về cố hương hạnh ngộ trong hồng ân Thiên Chúa.
Chiều xuống dần, trời mỗi lúc một thêm lạnh, nhưng chúng tôi cảm thấy thật là ấm áp và vui sướng, trước mắt chúng tôi hiện ra quang cảnh truyền thống là sự rộn rã chuẩn bị đón tết trong các gia đình và ngoài đường ngõ. Thân nhân của ông bạn cố mời chúng tôi ở lại dùng cơm chiều, song vì thời gian quá ít, nên chúng tôi đã cáo lỗi chia tay và hẹn gặp lại nhau trong ngày đầu xuân mới tại giáo xứ Hà Hồi và sẽ cùng nhau viếng mộ cha già Phaolô trong vườn thánh (Trích trong: Ăn Tết quê nhà, tr. 36-37)
Những đoạn văn trích dẫn ở trên, một phần nào phản ảnh phong cách và bút pháp của Hương Quê trong ký sự. Đấy chỉ là mấy nơi ông đến mà chúng tôi nhận thấy nó thiết thân với ông. Như trên chúng tôi đã nói, tập ký sự vui Ăn tết quê nhà, có đúng 50 mục. Ngoài những nơi Hương Quê đã đến trên đây, ông còn đến nhà thờ lớn Hà Nội dự lễ tất niên của Tổng Giáo phận, đi Dòng Chúa Cứu Thế ở Thái Hà, thăm Dòng Mến Thánh Giá Hà Hồi và ăn tết tại đây. Ông đến giáo xứ Đồng Trì, chúc tết xứ La Phù v.v…Ông cũng tham gia nấu bánh chưng, chuẩn bị đón giao thừa, xông đất giao thừa, bắc cầu điện thoại chúc xuân mới. Bước sang năm mới, Hương Quê chúc tết Xóm Mơ, chúc tết chư huynh và cầu nguyện đầu năm, thánh lễ đầu năm mới, tảo mộ, kỷ niệm Đống Đa, ga Hàng Cỏ chia tay…Đó là lúc tác giả phải rời xa quê nhà Hà Hồi thân yêu của ông một lần nữa, sau một buổi liên hoan chia tay giữa những người trong thân thuộc. Tác giả ghi lại ngày ông lên tàu trở về Sài Gòn: “Vì là còn sớm, những người về quê ăn tết chưa vào lại Sài Gòn nên tàu cũng trống khách. Thế là tôi lại trở thành dân sang trọng, một mình mà đi gần hết một toa tàu. Thứ huynh và một số bà con, các cháu chia tay tôi lần nữa ở sân ga. Đúng 7 giờ tàu chạy… (Trang 90)
Rất đặc biệt và cũng rất là Hương Quê khi ông có những khoảnh khắc dành để kinh nguyện trên tàu: “Nhờ cơ hội chuyến tàu vắng khách nên tôi có dịp tâm tư với Chúa nhiều hơn, lại cả lần hạt nữa. Vừa cầu nguyện, vừa lần hạt đúng hết Năm Sự Vui thì tàu đậu ga Nam Định. Tôi kiểm tra lại các hành lý và sắp xếp lại những thứ xung quanh cho khách mới lên họ có chỗ ngồi. Khi tàu chạy, trưởng toa mới đi soát vé và thấy nhiều hành lý để tên tôi, anh soát vé toan làm khó dễ để đánh cước hành lý của tôi. Vừa lúc ấy cũng có xe dẩy nước giải khát và thức ăn phục vụ khách, thế là tôi mời anh một lon bia với lại một tô cháo gà cùng với tôi đồng hành đồng ẩm. Thế là mọi việc đã giải quyết xong. Tôi cảm ơn anh và bắt tay để anh tiếp tục công việc. Còn tôi ngả ghế ra và nằm ngủ một mạch đến 5 giờ sáng mới thức dậy đã thấy đang ở ga Đông Hà, tôi chợt nhớ đến mấy câu Thánh vịnh trong sách Phụng vụ:
Đất nhẩy mừng khi bình minh đến
Tỏa ánh vàng tô điểm không trung
Trời mây rực rỡ nắng hồng
Cỏ cây khen ngợi vầng đông trầm trồ
Người công chính hãy reo hò mừng Chúa
Kẻ ngay lành nào cất tiếng ngợi khen. (SPV. 485)
Với người bạn đồng hành mới
Tôi còn đang tha thẩn xem các hàng hóa ở sân ga thì tiếng còi báo hiệu đã hết giờ. Tàu chuẩn bị chạy. Tôi leo lên xe lửa thấy một số khách lạ đã ngồi kín những ghế trống. Một vị ngồi gần tôi vẻ mặt vui tươi xem ra rất muốn làm thân. Vì cùng là nam giới với nhau nên tôi không ngại ngùng và hỏi: “Anh mới lên ở ga này à?” Ông khách mới được thể vanh vách kể: “Tôi ở La Vang về nhưng ga ấy tàu không đỗ, phải về đây lấy vé vào Sài Gòn”. Chúng tôi bắt đầu thân thiện với nhau, trò chuyện mãi cuối cùng vị này cũng là đồng hành, đồng đạo và mới ra La Vang để tạ ơn Đức Mẹ vì đã được Mẹ ban ơn riêng đặc biệt.
Tôi lại có dịp kể cho ông bạn mới nghe, tôi đã đến La Vang lần thứ nhất vào năm 1961 cách đây trên 40 năm để cầu xin cũng được Đức Mẹ ban ơn cho bằng yên cả gia đình Nam Bắc. Cho đến năm 2001 tôi lại cùng vợ và con trai út đi hành hương chung với đoàn của giáo xứ địa phương. Năm ấy chúng tôi tổ chức khá cẩn thận. Thuê riêng cả một xe bus 50 chỗ. Có trưởng đoàn và ban tổ chức, có sinh hoạt văn nghệ và chương trình cầu nguyện trên suốt các chặng đường cả lúc đi lẫn lúc về, ghé nhiều nơi tham quan thắng cảnh quê hương, vừa thăm viếng các địa danh của các xứ đạo như nhà thờ Nha Trang, tu viện Sao Biển, nhà thờ Trà Kiệu-Đà Nẵng, chợ Đông Ba-Huế, lăng tẩm, Ngọ Môn. Sau đó lượt về lại tham quan Kẻ Bàng, động Phong Nha v.v…
Trong chuyến đi này, tôi đã di chuyển được bức tranh Chúa Kitô Vua (cỡ lớn 1m x 1,4m) do chính tay tôi vẽ bằng sơn dầu, từ Sài Gòn ra Quảng Bình để nhờ thân nhân ở đây di chuyển về quê Hà Hồi, chuẩn bị mừng Năm Thánh 2003 và đặc biệt trong chuyến viếng Đức Mẹ La Vang kỳ ấy, tôi đã thực hiện một cờ ảnh có hình Đức Mẹ để khi đến Trà Kiệu và La Vang thì đoàn hành hương sẽ đi theo hàng ngũ và cờ Đức Mẹ đi dẫn đầu. Đến La Vang chúng tôi viếng Đức Mẹ xong thì để cờ ảnh lại lưu niệm, hiện nay tại La Vang vẫn còn lá cờ đó ở phòng truyền thống và đoàn chúng tôi cũng chụp nhiều ảnh kỷ niệm có lá cờ Đức Mẹ ấy mang theo tại La Vang. Chúng tôi cũng được sự giúp đỡ đặc biệt của một nữ tu về việc ăn uống, nhà trọ. Sau này mới biết nữ tu ấy chính là đồng hương Hà Hồi gốc Tam Hà. Trên đường về, chúng tôi cũng không quên ghé Đà Lạt để tham quan du lịch viếng nhà thờ Đà Lạt, viếng nhà thờ Saint Domaine và các cảnh quan ở đây : đèo Ngoạn Mục, cao nguyên Lâm Viên, thác núi Đức Mẹ và khu dồn điền sản xuất trà Bảo Lộc, trà Trâm Anh… thăm cả quý vị đồng hương ở Đà Lạt.
Trên tàu, chia sẻ Lời Chúa
Thế là từ đây vào Sài Gòn tôi đã có được một ông bạn đồng hành, đồng đạo để tha hồ mà trao đổi những vấn đề liên quan đến sinh hoạt tôn giáo, tâm linh tín ngưỡng. Lúc ăn và trước khi ngủ, chúng tôi bảo nhau đọc kinh và cầu nguyện chung cho thêm lòng sốt sắng vì ở đâu có 2,3 người họp nhau lại mà cầu nguyện thì dễ được Chúa nhận lời. Chúng tôi lại đồng thanh tương ứng, dồng khí tương cầu, lấy cả Thánh Kinh ra để chia sẻ với nhau trên tàu, không phải là giết thời gian mà là tận dụng thời gian Chúa ban cho để phụng sự Thiên Chúa và để cùng nhau mở mang nước Chúa. Sự chia sẻ Kinh Thánh của chúng tôi đã gây chú ý cho một số khách đồng hành. Tuy họ lặng thinh nhưng hình như họ cũng lắng nghe và theo dõi những trao đổi của chúng tôi về đoạn Kinh Thánh Tám Mối Phúc Thật mà Chúa đã giảng trên núi. Cho đến khi chúng tôi chia sẻ tiếp về doạn Tin Mừng…của thánh Luca nói về người con hoang đàng trở về…thì họ rất chăm chú và tham gia vấn nạn chúng tôi. May quá, chúng tôi cũng giải thích được những vân nạn đột xuất nên lấy được cảm tình của vị khách này. Ông hỏi thăm tên cuốn sách là gì, mua ở đâu? Thế là chúng tôi phấn khởi vô cùng và sẵn sàng tặng ngay cho ông một cuốn Thánh Kinh bỏ túi để làm hành trang cho ông từ đây về sau. Chúng tôi lại có dịp trao đổi địa chỉ với nhau và hẹn hò nhiều dịp gặp gỡ khác…(Trích: Ăn tết quê nhà, tr. 92-93)
Một người không quen với tác giả Hương Quê, nhưng nếu đọc tập Ký sự vui Ăn tết quê nhà, chắc chắn cũng nhận ra lời văn của tác giả chân thật, giản dị đến mức nếu khắc khe thì có thể nói rằng nó thiếu tính văn chương lãng mạn. Tuy nhiên, viết tập ký sự, còn phụ chú là “vui”, nên tác giả nhắm vào cái thực chất của những nơi ông đến, những người ông găp, chứ không nhằm “làm văn chương”. Như thế, cũng là một việc làm đáng trân trọng ở cái thời, làng quê đang mất dần “hồn quê” của thời xa xưa. Hương Quê, với tập ký sự vui, Ăn tết quê nhà, có thể là một đại biểu cuối cùng còn quyến luyến, còn mặn nồng và còn giữ nơi mình những gì gọi là hương hồn của thôn làng xưa yêu dấu. Với hai điều này, cũng đủ nói rằng, Hương Quê viết tập Ký sự này một phần không nhỏ là do cái chất văn chương còn tiềm ẩn trong cõi sâu của ông, nó bộc phát vào đúng dịp của nó, đó là dịp làng quê anh mừng 100 năm xây dựng ngôi nhà thờ cổ kính, 1903-2003.
Khải Triều
