Là tên tập sách dày 300 trang, tính luôn phần Phụ Bản. Cảm nhận ban đầu đầy ấn tượng là cấu trúc sách rất lạ! Theo phần mục lục, sách có 4 phần riêng biệt:
– Ngoài lời tựa được thay bằng bài viết Thơ Tôi, Cuộc Đời Tôi, Trần Vấn Lệ, Ông Là Ai? Những phần ấy lần lượt là:
Phần 1: Gia Đình, Quê Hương- Suối Nguồn Tình Yêu. Gồm 16 bài.
Phần 2: Bạn bè Với Thơ Của Lệ. Gồm 30 tác giả, 48 bài.
Phần 3: Tình Thân Mến Dành Cho Mọi Người, Cho Quê Hương. Là những bài viết của chính tác giả Trần Vấn Lệ. Gồm 49 bài.
Phần 4: Thơ Bay Theo Từng Nốt Nhạc. Gồm 14 bài.
Cuối cùng là phần Phụ Bản. Gồm 3 nội dung.
Trước khi có đôi điều bàn luận về Sách, Nghĩa- Lý kính gửi đến Tác Giả Trần Vấn Lệ và Nguyễn Thiên Nga, người đã dày công sưu tầm và biên tập nên tác phẩm để đời này lời cám ơn chân thành cùng sự quý mến! Cầm tập Sách trên tay mà sự cảm động dâng tràn: sách được Thiên Nga gửi về, do chính tác giả ký tặng, điều đó đồng nghĩa: Sách đã vượt qua ngàn trùng Đại Dương, đi một vòng Đà Lạt sương mù cuối cùng đã về với Phan Rang đầy nắng và gió. Thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao!
Lần đọc từng trang, trong lòng tôi thốt nhiên nghĩ rằng:
Trần Vấn Lệ là một nhà thơ đã thành danh, thành danh từ lâu rồi. Trước Ông và cùng thời hoặc sau nữa vẫn có, sẽ có những Thi Sĩ như Ông, nhưng để có được một tác phẩm “để đời” như Tập Thơ Và Cuộc Đời thì không phải ai cũng có. Điều “không có” ở đây không phải vì kém tài, mà vì không có được những người bạn yêu thương, chân tình bao gồm những Thi Sĩ, Văn Sĩ, Nhà Báo, nhà Phê Bình, Hoạ Sĩ, Nhạc Sĩ, có khi kiêm ca sĩ và cả những người bạn không là gì cả, bạn và chỉ bạn mà thôi cuối cùng đó là người bạn vong niên Nguyễn Thiên Nga mà theo tôi rất đáng gọi là Tri Kỷ.
Xin mời các bạn lướt nhanh phần Thay Lời Tựa: Thơ Tôi, Cuộc Đời Tôi: ở đây, chúng ta sẽ biết khái quát cuộc đời của tác giả. Chẳng trách sao Ông yêu thơ, sống bằng thơ, có khi chết cùng thơ, bởi như Ông đã bộc bạch:
Tôi sinh ra ở Phan Thiết, vào một ngày cuối tháng 5 năm 1942.
Chừng như chưa đủ, ông thêm:
Phan Thiết quê tôi là xứ Thơ.
Có lẽ vì vậy, tâm hồn Ông cũng đầy chất Thơ, nói đến thơ, người ta thường hình dung đó là một tâm hồn lãng mạn, và vì lãng mạn nên:
“Đêm ngắm trăng không tròn đầy thời tôi thơ dại, nhớ lại không rõ ràng, mênh mang trong lòng tôi nỗi niềm gì đâu xa xăm một thời quá khứ tỏ mờ … Mờ hơn là tỏ.
Tôi nhìn trăng ở tuổi tôi biết buồn. Biết cả cõi đời hoang vu tịch mịch. Chẳng có gì ngoài mấy chút đọng lại trong đầu.”
Trăng đã đồng hành cùng Thi Sĩ như nỗi buồn đi theo… với Thơ, cùng Thơ.
“Những đêm trăng sau đó, bao nhiêu đêm, tôi không còn nhớ được nữa.
Từ khi em là Trăng, từ khi Trăng là Nguyệt, tôi cứ trôi theo dòng đời…” và thực sự ông cũng đã trôi theo dòng đời mải miết mà ông thường cay đắng rằng: Thiên Đường đã lạc…
Về câu hỏi: Trần Vấn Lệ, Ông là ai?”, theo Ông Nguyễn Hữu Thời đã nói:
“Tôi thiết nghĩ, không cần phải tìm hiểu nhiều. “Ý tại ngôn ngoại”. Những áng văn xuôi, những bài thơ mang tính tự sự của chính nhà thơ Trần Vấn Lệ, hay những bài viết của bạn bè từng gắn bó, từng gặp gỡ và quý mến ông đã trả lời cho câu hỏi ấy”.
Chúng ta cùng đi vào nội dung:
PHẦN 1: Gia Đình, Quê Hương- Suối Nguồn Thương Yêu:
Là những bài văn xuôi, bài thơ mang tính tự sự về gia thế, cuộc đời của nhà thơ. Đọc từng bài thơ, người đọc sẽ ít nhiều thấy và hiểu được tấm tình của ông với quê cha đất tổ, với Cha Mẹ, với từng kỷ niệm, từng mùi hương thật thấm đẫm tình và không thiếu nước mắt. Như trong bài Phan Thiết Phan Thiết Phan Thiết, 4 câu cuối- trang 15:
“Sáu mươi năm lạc đường – tôi lạc đường Thế Giới.
Phan Thiết không chờ đợi/ tôi về nữa, phải không?
Quả thật tôi đau lòng / ai mới nhắc Phan Thiết –
nơi tôi yêu không ghét… mà trọn đời tôi xa!”
Những ký ức êm đềm với tình yêu của Má, của Ba, ông xót cho phận mình bầm dập.
Ở trang 16, bài “Má Ơi Má, Con Về Đây Má Ơi”, là những trải lòng tha thiết khiến người đọc thật khó cầm lòng. “Đất Mẹ Đất Mộ” lại một lần nữa chứng minh điều đó, ông về thăm nhà xưa đất cũ trong sự ngỡ ngàng, lạ lẫm: Tôi thấy rồi, những ngôi mộ trong tường rào. Tôi gọi cha ơi, má ơi… trong nước mắt ràn rụa. (Trang 22). Thăm, chỉ thăm thoáng qua cho thoả lòng thương nhớ, rồi lại vội vàng ra đi, ra đi trong nỗi ngậm ngùi lưu luyến, để tự cảm nhận: “Chỗ nào trên quê hương tôi, cũng có một điều lạ với tôi: mùi đất quá thơm. Để rồi người bạn đồng hành nhắc “Mùi Đất Mẹ đó anh!”; để cho ông cảm nhận: “Tôi nghe trong nắng thơm ngát. Tôi nghe trong gió thơm ngát. Hình như mùi tóc ai cũng thơm… Ông kết luận:
“Trong đời tôi, từ đây và mãi mãi, đất có hai tên: Đất Mẹ và Đất Mộ. Tôi bất chợt buồn sao mình xa xôi hoài, đi hoài trên những vùng đất hoang? Mình đi trên đất hoang mà gió trùng dương cứ rì rào… Muốn khóc!” (trang 23). Bàng bạc trong thơ ông là nỗi buồn xa xứ, luôn hướng vọng về để nhớ thương và trăn trở. Trong những bài Nước Mắt cho Cha Mẹ, ông thổ lộ:
“Tôi nói thật nhỏ nhẹ/ cho trái tim tôi nghe. Nhớ Việt Nam là quê, nhớ Cha Mẹ ở đó/ từ ngày tôi còn nhỏ… bây giờ tôi xa xăm, Mẹ Cha về cõi âm, tôi- Thiên Đường… đã lạc!”. (Trang 25).
Để kết thúc phần này, tôi xin trích đăng trọn vẹn bài Mother’s Day Ngày Của Mẹ.
Hôm nay, Ngày Của Mẹ. Mỹ gọi Mother’s Day. Tôi ngó lên trời mây: Mẹ… còn hình bóng đó!
Tôi biết những luồng gió… đã thổi trôi Mẹ tôi. Tôi biết tôi mồ côi, nhiều năm nay tứ xứ…
Tôi biết tôi rất nhớ, Mẹ ơi, con làm gì? Ngày con chào Má đi, Má nói…” Con Đi Hả?”
Một câu nói, ít quá, hai dòng lệ đã nhiều. Đất nước tôi rất yêu, Mẹ Cha còn đâu nữa?
Tôi đi có lời hứa: “Rồi Thì Con Sẽ Về”. Ba năm thật não nề, tin nhà qua: “Má Mất!”
Tôi buồn thêm, chất ngất. Tôi buồn thêm chất ngất. Tôi buồn thêm… bao la!
Xứ Thái Lan tôi qua, Philippines tôi ở, Hawaii lớ ngớ… rồi nước Mỹ, lạc loài!
Hàng năm cứ tới ngày Mother’s Day… muốn khóc. Hai dòng lệ hàng dọc, đâu nữa đời dọc ngang?
Hàng năm, mùa lá vàng, mây trời trôi bàng bạc… (*). Má ơi, lòng con nát, biển kia… rồi tro trôi!
Càng nhắc càng ngậm ngùi. Ôi chao Ngày Của Mẹ! Ngày nào tôi con bé… mà bây giờ già nua!
Má ơi, người Lính thua không nói gì thêm nữa. Có cái gì tan vỡ mà hàn gắn được đâu!
Mây đã bay qua cầu. Nước vẫn chảy qua cầu. Chỉ nỗi sầu đứng chựng. Ngày Của Mẹ… Trời ơi!
Cắn cỏ kêu Trời hoài, Trời nghe không Trời hỡi? Ba năm Mẹ hết đợi, bao năm tôi còn đây?
(Trang 30-31)
Cuộc đời Ông sao buồn quá! Đầy những bi thương- Thơ bảo sao không buồn- càng đọc càng đau xót.
PHẦN 2: Bạn Bè Với Thơ Của Lệ.
Trong một sự tình cờ, ông về thăm Quê Hương, ghé Lạc Lâm thuộc huyện Đơn Dương để nhìn lại ngôi trường cũ nơi con gái ông đã dạy mấy tháng trước khi rời quê, ông đã có một hội ngộ không ngờ, mang đến cho ông mối quan hệ mới, ông ra về với những lời hẹn thân tình, trước lúc chia tay, ông được món quà từ gia chủ là quả khóm và ông cũng không quên để lại chút tình với gia đình:
“Tôi nặng tay với trái khóm, nhưng nhẹ lòng biết mấy Quê Hương ơi!”
Nhiêu thôi, đủ thấy ông sống đầy tình nghĩa, rất chan hoà, tinh tế trong từng ứng xử. Với những người bạn mới đã vậy với Quê Hương sâu nặng đã đành và cả với những tà áo dài tha thướt cũng đầy ắp trong ông một tình yêu khó tả, ông bày tỏ: Tôi thích nhìn áo dài! Tôi nhớ quá học trò tôi, những tà áo dài trắng muốt bốn mươi năm hơn gió mưa phiêu dạt về đâu? Ôi, tình Thầy Trò càng là nỗi nhớ thương da diết.
Nói về Bạn Bè, Thiên Nga đã thu thập, sưu tầm nhiều bài viết hay của nhiều tác giả đưa vào trong tập sách, trong chừng mực bài viết, tôi khó thể trích lại để giới thiệu cùng bạn đọc. Chỉ xin được lược trích vài ý, của vài tác giả:
* Nhà Văn Võ Phiến: trong “Tiếng Cựa Mình Của Trang Giấy”, đã được đăng trong tập “Cuối Cùng”, ông đã viết:
“Một câu thơ của ông Trần Vấn Lệ ám ảnh tôi. Ông Trần than thở: “Mỗi ngày là một ngày xưa… Ấn tượng quá! Và:
“Tôi lại nghĩ tới ông Trần Vấn Lệ:
Đà Lạt ơi! Đà Lạt ơi!
Những cây thông nói với trời điều chi?
Hồ Xuân Hương, liễu thầm thì
Phải chi thông đã nói gì mà quên?
(Tôi Về Thăm Chỗ Tôi Đi)- Trang 44.
* Đặng Xuân Xuyến: tác giả lại khai thác thơ TVL với tình quê hương. Theo ông đó là cảm xúc rất thật, không có chút phô diễn nào. Ông đúc kết: “… Nhưng rồi Thơ và cả “Em” nữa cũng trở thành thứ yếu, không đủ sức làm mát dịu nỗi đau, nỗi buồn, nỗi nhớ… khi tuổi ông đã dần ngã về chiều, khi trái tim ông ngày đêm thêm quặn thắt hướng về Cố Hương:
“Liệu còn về được hay không? Quê Hương nhật nguyệt hay vòng khói nhang? Khói vòng rồi khói cũng tan, cây nhang cắm đất mà tàn không bay…”
(Giấc Mơ Hồi Hương)- Trang 54.
* Đỗ Hồng Ngọc:
Năm 2016, tác giả có dịp về thăm quê, gặp người bạn cũ từ những ngày thơ dại: BS Đỗ Hồng Ngọc. Tay bắt mặt mừng, để rồi cùng nhận ra:
“Ôi bạn tôi… giống tôi: Già! Xa nhau từ năm 1955 đến năm 2016 mới gặp lại, ai còn sống mà không già khú đế? Tay bắt mặt mừng, và khách sáo như không khách sáo. Cả hai đều ứa nước mắt. Cả hai đều gọi tên nhau như… hồi nhỏ: Ồ Ngọc! Ồ Lệ! … và tôi, chỉ là một đọc giả cũng ứa nước mắt trước sự hội ngộ đầy cảm động, nơi giao hoà của Tình Quê Hương và Bạn Hữu. Vậy nên không chút ngạc nhiên khi cả hai người bạn đều quên hết xung quanh để đắm chìm vào những hỏi han, nhắc nhở về những người bạn nhỏ của ngày xưa, cái ngày còn bơi lội trên dòng sông Cà Ty của quê hương yêu dấu, dưới bóng đỏ rực rỡ của hoa vông…
* Kiều Minh Hạnh:
Tôi rất thích nhận định của KMH:
“… Thơ ông lạ, nhưng ông làm thơ dễ dàng như hơi thở, câu từ bình dị, câu tứ giản đơn, dễ tìm được sự đồng cảm. Trần Vấn Lệ suy nghĩ bằng thơ, hoài niệm thành thơ, khóc cười cũng nên thơ… “
Thật quả không sai, không hề sai!
* Nguyễn Hữu Thời:
Với ông, Trần Vấn Lệ là một người bạn văn nghệ mà ông đã “gặp” trên nẻo đường đời mịt mù gió bụi… Biết quá ít, thế nhưng, những câu thơ được ông lược trích lại ít nhiều cũng đủ để thấy tấm lòng của Thi Sĩ Trần Vấn Lệ đã để lòng yêu mến từng miền đất, thương tiếc thành quả người xưa. Đôi khi thơ lại là lời than đau xé lòng:
“Tôi sinh ra đời, ầm ầm tiếng súng; tôi sống cuối đời, như chim lẻ loi… Có Tổ Quốc sao đành xa Tổ Quốc? Có Quê Hương sao chịu kiếp lạc loài?”
(Mưa Trắng Núi Và Đầu Ta Trắng Tóc)- Trang 109.
Do vậy, “Buồn” đã thành thương hiệu của thơ ông:
“Thơ tôi… một cõi tứ bề
Buồn trăm phương cứ đổ về một phương”.
(Thơ Tôi Độc Thoại)- Trang 109.
Cuối cùng, tôi vô cùng đồng cảm với lời “tóm gọn” của ô. Nguyễn Hữu Thời, dù chắc chắn tôi không đọc nhiều bằng ông:
“Tôi đã đọc nhiều người viết về thơ Trần Vấn Lệ, và tôi nghĩ bài viết này của tôi dù có hay có dở có đúng có sai thế nào cũng không bao giờ là đủ; mà vẫn là thiếu; vì làm sao có thể nói, viết cho hết cái mênh mông trong hồn thơ Trần Vấn Lệ?”.
Ôi, quả nhiên là như vậy! Đây cũng chính là “tâm sự” của tôi khi viết về TS đa sầu, đa cảm này!
*Đọc hết phần này, quý vị sẽ biết thêm nhiều ý kiến, nhiều trích dẫn tuyệt vời của rất nhiều tác giả. Thú thật, ban đầu tôi định giới thiệu cho bằng hết, nhưng giờ xem ra… điều ấy thật khó trong phạm vi bài giới thiệu này. Và thế là tôi xin dừng lại, sau khi trích thêm một vài câu thơ hay của:
+ Nguyễn Thiên Nga:
“Hè rồi… Phan Thiết đỏ hoa vông, tôi ở xa xôi nhớ quá chừng! Nhớ chỗ mình sinh, mình được lớn, một thời thơ dại vượt con sông.”
Rồi nghẹn ngào:
“Từ nay hỡi nhành hoa vông cũ, có nhớ gì ai Phan Thiết xưa? Một chặng thời gian không cắm mốc, tình Quê Hương lấy thước nào đo?”.
(Mùa Vông Phan Thiết Cũ)- Trang 118.
Với ông Quê Hương là Tổ Quốc. Làm sao đo đếm được khi nỗi nhớ Quê Hương của ông ngày càng thật đầy, thật dài; đến độ: ông cứ đưa bàn tay ra, cả năm ngón đều chạm vào nỗi nhớ thương vời vợi:
“… Từng nhớ thương ngàn năm mây bay…/ ôi thương như thế là chưa đủ/ mà phải rừng cây bao nhiêu cây?”.
(Chắc Có Một Ngày)- Trang 119.
+ Dương Điền Nguyên:
Ở một tâm tình khác, tâm sự của người lính chưa làm xong nhiệm vụ đã “tan hàng”:
“… Tôi lang thang gặp… tôi bình tĩnh
Ôi dễ gì trong buổi sáng nay!
Hỡi bạn hỡi bè chưa Giải Ngũ
Sao là bầy sáo sổ lồng bay?”
(Ba Mươi Tháng Tư Hai Ngàn)- Trang 151.
+ Trần Minh Hiền:
Đã giới thiệu hai bài:
– Nam Mô A Di Đà Phật.
– Hỏi Cho Hoa Mỉm Cười.
Trang 176-177.
Với nhận xét: Một bài thơ thật là lạ từ đầu cho đến toàn bài, lạ từ cách diễn đạt đến từ ngữ, ý tứ, ẩn dụ và phúng dụ… Thơ của thi sĩ TVL đôi khi là cho tất cả mọi người đọc nhưng đôi khi chỉ cho một người. Đôi khi rất dễ hiểu, đôi lúc lại rất kén độc giả, khó hiểu. Nhưng có lẽ nhà thơ không cố ý làm điều đó. Ông chỉ viết và viết. Tôi yêu thơ của TVL ở chỗ đó.
(…)
Thơ của thi sĩ TVL chạm đến tận cùng của tâm tư người viết và người đọc, và những vần thơ nhạy cảm, mẫn cảm vô cùng. Cám ơn thi nhân đã dâng hiến cho đời những tâm huyết của mình.
Cuối cùng, như Ôn Mãn Giác lúc còn sống đã nói: “Thơ Lệ lúc nào cũng buồn!”, trong khi trong lời thưa của tập thơ mới nhất “Mờ Trong Bóng Chiều”, ông vẫn một mực khăng khăng thơ mình “không buồn, không vui. Chỉ lặng lẽ như một ngày trôi qua”. Sự khẳng định này đã làm tôi chột dạ thi sĩ à! Tôi rất đồng tình với Ôn Mãn Giác. Liệu có mếch lòng chăng? Nếu có thì tôi xin lấy câu thơ sau mà biện hộ cho mình! Ai biểu thi sĩ nói:
“Đôi lúc làm thơ mà muốn khóc. Ném vào chữ nghĩa trái tim đau… “
(Tiền Đình Tạc Dạ)- Trang 184.
PHẦN 3:
Tình Thân Mến Dành Cho Mọi Người. Cho Quê Hương.
Trong phần này, bạn đọc sẽ đọc được nhiều bài viết, bài thơ hay của tác giả, về Thầy về bạn, về cả quê hương… tình thương chan chứa. Phần nhiều là các bài điếu văn của thi sĩ Trần Vấn Lệ. Viết cho ai cũng đầy đặn một tấm lòng. Cách dùng từ, hình ảnh phù hợp với từng đối tượng nhưng khó tìm được sự khách sáo, qua quýt; luôn tạo cho người đọc sự ngậm ngùi, thương cảm. Một nỗi buồn mang 3 tâm tình cùng chợt hiện: Tổ Quốc- Quê Hương yêu thương và nước mắt cùng hoà quyện trong một thi nhân giàu lòng trắc ẩn. Nếu đọc cho hết, ta sẽ thấy rằng: nội dung trong bài ai điếu đầy chia sẻ, tiếc thương, tỏ một tấm lòng thành kính thật sâu sắc nhưng ngôn từ thì có sự khác biệt, sự khác biệt không vì khinh trọng mà vì thân sơ, sự khác biệt không làm xô lệch tính nghiêm túc mà khi đọc ta sẽ thấy mối tương quan giữa hai người: tác giả và người khuất. Là bè bạn thân thiết từ nhiều năm, bằng vai phải lứa, hay là những người bạn lớn, từ những ngày còn ở Đà Lạt, những người bạn mới nơi đất khách quê người, những người bạn có thể là nhạc sĩ, là văn sĩ, hoạ sĩ… Nhất là ông không quên người Thầy ở Nha Trang, Thầy Trần Quý Tuệ với một ý thả lửng:
“Tôi biết không tự nhiên cũng không tự dưng tôi nhớ Thầy tôi, ai đó mới là… vang bóng một thời. Và nhạt nhoà. Ơ hay, tôi làm sao vậy, hỡi Nha Trang?”- Câu hỏi gợi cho người đọc, là tôi đây, chú ý tới nhân vật thoáng qua: cô con gái của Thầy, mỹ danh Trần Thị Trang… Một hình bóng…
Điếu văn ông viết thật nhiều, tôi chỉ xin giới thiệu vài khổ thơ được trích ra thôi để minh hoạ cho nhận xét của mình. Ví dụ như:
+ Thư Riêng
– Gửi bác Việt Trang
Bác đi trong lúc tuổi già
Cũng vui Bác nhỉ! Coi là cũng vui!
Nói chao ôi! Khóc hay cười?
Còn chung trà cũ, mất người ngày xưa…
Ngày xưa… Đà Lạt, trời mưa
Bác mời tôi đọc bài thơ mới làm
Tôi khen, Bác mặt rỡ ràng
Tay nâng quản bút ký ngang một đường:
“Tôi làm thơ tặng người thương
Anh trong tiếng gọi từ hồn tôi vang Ngày xưa Giả Đảo lỡ làng
Nay tôi có bạn một bàn ngồi chung!”
Ba mươi năm trước, mịt mùng
Ba mươi năm, nhớ, tôi rùng mình, đau Bác đi rồi? Bác đi sao?
Tôi không tin, lệ cứ trào, tự nhiên!
Bác Triếp à, Bác hãy quên
Tôi đi xa lắm, còn trên xứ người Bác đi, nhang đốt cho Trời
Tôi tay bụm mặt, nhớ rồi… có quên?
*
Viết cho người bức thư riêng
Gửi đi, ai nhận, tôi bèn xé thôi!
Còn nhau, cuối biển đầu trời
Mất nhau trong cái tuyệt vời Âm Dương!
(Trang 220)
+ Vĩnh Biệt Võ Phiến
Tối đó trăng tròn, trăng tròn đầy, người đi tan khuất tựa làn mây! Cali đưa tiễn mưa không hạt, tôi nóng ran người thương tiếc ai…
Con hạc vàng bay trong trăng vàng. Con hạc vàng bay về Quy Nhơn. Tôi đưa tay hứng gì, không biết. Một chiếc lá rơi. Một nỗi buồn!
Tôi khóc. Trời ơi tôi bật khóc. Từ nay tôi mất một Tình Yêu. Từ nay, vĩnh viễn… người-tro-bụi, còn lại Người… trang sách lật theo!
Còn lại Người… Non Nước mỏng manh. Mừng Người rời được chốn hôi tanh. Mừng Người, lòng vẫn nguyên lòng dạ. Mà quạnh hiu đời. Tôi ngó quanh…
Từ nay… cánh cổng nhà ai mở? Cánh cổng nhà tôi đứng bấm chuông. Con quạ lặng thinh… không thấy Bác, không thấy gì… gì nữa, ngoài sương!
Bác Võ Phiến ơi, thôi vậy… hết! Trăm năm, Bác thiếu nợ mười năm. Tách trà bay khói thơm thơm phức, con nhớ Bác hoài những tối trăng…
(Trang 236)
(*) Nhà văn Võ Phiến mất lúc 7 giờ chiều 28 tháng 9 năm 2015. Trăng 16 tháng Tám năm Ất Mùi đang lên. Thọ 90 tuổi. Tôi từng chúc Bác sống tới trăm tuổi, mà thôi! Xin gửi những giọt nước mắt lăn theo tiễn Bác…
+Vĩnh Biệt Anh Đinh Cường
Họa sĩ Đinh Cường đã qua đời
Anh đi vào buổi tối tại Burke Virginia Tuyết nở hoa
Tặng anh một Vòng Hoa Vĩnh Biệt!
Anh Đinh Cường anh không còn biết Những giọt nước mắt màu gì
Tôi nhất định không lau
Để yên cho màu tê tái!
Cái mà anh để lại
Là Đà Lạt của tôi! Nơi anh ra đời
Lại là không chỗ đó!
Bây giờ chỗ nào cũng chỗ nhớ
Những bước anh đi qua
Huế rất xa
Và Sài Gòn trong hơi thở… không còn nữa!
Ở Dran hoa quỳ đang nở
Anh hứa về, sau Tết, mà thôi
Tuyết đang bay nơi anh ngủ tuyệt vời
Tôi xin trải thêm nước mắt cho anh trôi về Tổ Quốc!
Anh Đinh Cường!
Tôi, Trần Vấn Lệ, tôi đang khóc…
Thôi anh đi đi đường xa khổ nhọc
Tôi xa xôi không kề vai vác chút xíu quan tài…
(Trang 235).
+ Vĩnh Biệt Bà Việt Trang
Thôi! Không còn ai nữa! Đà Lạt hết người thân, người già nhất, ân nhân của tôi… vừa nhắm mắt!
Bà Việt Trang vừa mất! Đám mây cuối cùng tan… Ôi những buổi chiều vàng, nắng tàn rơi cuối ngõ…
Tôi hẹn lần hẹn lữa, ba mươi năm chưa về, thăm Đà Lạt, thăm quê, ba mốt năm tình nghĩa…
Tôi nhớ lắm bụi mía xanh um trước nhà Bà. Bao nhiêu người đi qua Trần Nhật Duật đều ngó…
Một mình tôi được gỡ từng lá mía cầm chơi. Ông Việt Trang từng cười tôi già như con nít…
Hỏi sao tôi chẳng thích: giữa phố thấy nhà quê, thấy Phan Thiết tôi, kia, xa xôi đường xuống núi…
Nhớ Má tôi lầm lũi trên đồng mía, nắng, mưa. Nhớ Huế nữa, ai vừa tuổi mới lên mười bảy!
Một thời xa xưa ấy, ba mươi năm ôi Trời! Hai Bác Việt Trang ơi… cảnh còn mà người mất!
Cái gì là Tổ Quốc? Cái gì là Quê Hương? Cái gì là Yêu Thương? Cái gì là… nước mắt?
Bà Việt Trang vừa mất! Chén cơm tôi cầm, rơi… Những hạt cơm rã rời, tôi nhặt từng hạt lệ…
(Trang 238)
+ Chuyến Đò Thời Gian
Nguyễn Xuân Hoàng
Một năm tưởng chậm mà mau, Nguyễn Xuân
Hoàng mất hôm nào, đã năm! Bạn xa, tôi chửa lần
thăm, đây xa bạn có đôi lần đến đây…
Hôm qua bữa rượu tao mày, bỗng dưng ai nhắc
ông-thầy-giáo-xưa… Chỗ ngồi người đó, bài thơ
của tôi còn gắn trên gờ cửa gương. Một năm,
gương lược sáng trưng, cố nhân đâu nhỉ tóc bồng bềnh bay…
Mọi người ngưng một phút giây. Mọi ly rượu vẫn
để đầy đợi nâng. Mọi câu chuyện bỗng như thầm,
mọi con mắt hướng xa xăm, rồi thì…
Hoàng ơi này rượu của mi!
Hoàng ơi này rượu cạn đi rồi dìa…
Nha Trang, Phan Rí, ngày kia
Chân tao ghé được đốt mi nén trầm…
Đồng hương, đồng nghiệp xa xăm, hồn trong cát
bụi thân nằm bình tro, nếu mà… đó một câu thơ,
lát tôi đem chất xuống đò thời gian…
(Trang 232)
Thú thật, Sách viết cũng khá là độc đáo; bài giới thiệu Thơ của thi sĩ ở phần này hầu hết là những Điếu Văn, tuy buồn lắm, những là Thiên Thu với Vĩnh biệt không à, mà lại rất hay, vì hay nên đọc cũng đâm ghiền, ghiền rồi thì lại ước, một điều ước thật vớ vẩn mà người kỹ tính và tỉnh táo sẽ chẳng ai dám: tôi ước gì có chút gì đó thân quen với thi sĩ Trần Vấn Lệ, hay là được ở trong mối quan hệ nào đó, thí dụ như là nhỏ học trò Tiểu Học, đã lâu giờ gặp lại, tuy già chát nhưng chợt nhớ ra rồi: Ôi Thầy!- Ôi Trò! vậy thì dù thân dù sơ nhưng cũng đủ thuyết phục để xin ông “tạm ứng” cho bài điếu văn (!?). Liệu có được chăng? Kiêng kỵ gì nữa khi mình đã ngoài bảy mươi, đã vượt mốc “thất thập cổ lai hy” rồi chớ!
PHẦN 4: Thơ Bay Theo Từng Nốt Nhạc:
Trong phần này, các bạn sẽ được đọc thơ và cả nghe thơ đã được phổ nhạc, những cung bậc bổng trầm sẽ đưa các bạn vào một thế giới âm nhạc thơ mộng trữ tình nhưng cũng không thiếu vắng sự trầm tư; giàu tưởng tượng một tí, ta sẽ thấy Thơ và Đời Thực quả thật là một thể khó tách rời một khi đã được kết hợp, thơ nhạc một khi đã hoà quyện sẽ nâng cánh cho nhau và cảm xúc trong ta sẽ càng thăng hoa trong những phút giây thật sự đầy chất trữ tình, huyễn mộng.
Dù rất muốn, tôi cũng không thể “tải” nhạc về trên sách để chúng ta cùng thưởng thức. Vậy nên, tôi xin giới thiệu tên vài nhạc phẩm mà mình đã được nghe qua Youtube, hoặc đã được thi sĩ giới thiệu trên trang FB Vấn Lệ Trần, như:
– Bao Giờ Anh Đưa Em Đi Chùa Hương.
– Giấc Mơ Dã Quỳ.
– Nghĩa Của Tình Yêu.
– Nhà Ai Có Giàn Bông Giấy.
– Thơ Lệ.
Riêng bản nhạc này, sách cũng có trích đăng bài Chia Sẻ Của Nhạc Sĩ Châu Đình An. Tôi xin trích đăng hai khổ thơ mà theo nhạc sĩ đã tạo nên cái Duyên gọi là “duyên thi nhạc”. Đó là các câu:
“Ôi một bài thơ lệ mấy dòng
Mấy dòng thơ lệ hoá con sông
Em bơi thuyền nhỏ đùa con sóng
Vớt bọt bèo xem những mảnh lòng”
Rồi thi sĩ than thở, nghe rất thương:
“Những mảnh lòng anh, em ghép lại
Thấy gì lạnh buốt bóng trăng trong
Ngày xưa Lý Bạch ôm trăng chết
Trăng nhớ người thơ, khóc dưới sông”
(Trang 289)
Cuối cùng là phần Phụ Bản, ở đây các bạn sẽ được đọc:
1, Bài thơ của Trần Vấn Lệ được tuyển chọn và đăng trong cuốn “Tuyển Tập Thơ Tình Việt Nam Thế Kỷ 20”
2, Một số tác phẩm của Trần Vấn Lệ được lưu trữ trong thư viện trường Bùi Thị Xuân, Đà Lạt
3, Một số bìa sách của Trần Vấn Lệ từng được xuất bản.
Dù cố gắng, tôi cũng không thể giới thiệu hết được nội dung của sách.
Thú thật với các bạn, tôi không biết gì về Thi Sĩ, hoặc biết rất ít, thường chỉ là qua những bài thơ của ông mà tôi đọc được trên FB sau lần đầu tiên được đọc trên trang Tương Tri của Tôn Nữ Thu Dung. Ấn tượng ban đầu là thơ buồn, ý thơ hay dễ đi vào lòng người, cảnh thơ đẹp như bức hoạ được vẽ bằng thơ, bởi tôi vốn cũng hơi, hơi thôi “đa sầu đa cảm”, sau đó là cái tên, tên đọc lên nghe ngồ ngộ: Trần Vấn Lệ! Tôi tự nhủ, để xem xem “Lệ có nghĩa gì?”, có đẹp người không? Nếu đẹp thì “Lệ là đẹp- là mỹ lệ” đó! Nhưng nhìn qua ảnh đại diện thì “chắc gì?”, nhưng thơ sao bài nào cũng buồn, cũng thấy “khóc” cũng thấy “rưng rưng”, cũng “sương mờ, sương rụng”, những “hoàng hôn” mà còn “tim tím, tím rịm” thì thôi chắc chắn “Lệ” là nước mắt rồi! Cái tên đã vận vào đời, “chơi với nước mắt thì thôi rồi”! Nhưng…
Có những khi nhưng mà vui lạ! Chính nhờ tập THƠ VÀ CUỘC ĐỜI mà tôi đã ít nhiều thoả mãn khi biết về nhà thơ mà mình mến mộ từ bấy lâu nay. Biết về một người đồng nghiệp của vợ chồng tôi nhưng là một bậc Thầy về mọi mặt, về một người Lính cho đến tận hôm nay vẫn còn trăn trở vì đã buông súng, tan hàng khi chưa rời quân ngũ, hơn hết là một đồng hương của ông xã tôi, quê nhà Phan Thiết với dòng sông tuổi thơ Cà Ty và màu hoa vông đỏ thắm, là xứ sở của nước mắm trứ danh… Cuộc đời ông nhìn lại quả thật buồn nhiều hơn vui; nhưng nếu xếp đặt lại thì rõ ràng ông vẫn có những trang đời thơ mộng với phấn bảng trường xưa, với phấn thông vàng bay trong gió với những cô học trò áo dài phất phới toả sáng sân trường, làm mát rượi dãy hành lang đầy gió và nhất là hình ảnh ngôi nhà màu xanh trên sườn đồi lộng gió, nơi gia đình ông một thời ấm áp, hạnh phúc bên nhau!
Trước khi kết thúc bài viết, Nghĩa Lý xin gửi lời Chúc Mừng đến Tác Giả Trần Vấn Lệ, theo chúng tôi Ông Là Người Thi Sĩ Hạnh Phúc- Rất Hạnh Phúc khi có được những Tình Bạn chân thành, những người ái mộ Ông về Thơ cũng như Cuộc Đời Ông. Xin gửi lời Chúc Mừng đến Nguyễn Thiên Nga, biên tập viên duyên dáng, tài năng vừa có Tâm vừa có Tầm!
Kính gửi lời chúc sức khoẻ đến nhị vị. Mong rằng trong một tương lai gần, thật gần bạn yêu thơ gần xa sẽ được tiếp tục đón nhận những thi phẩm tuyệt vời. Trân trọng kính chào.
Nghĩa Lý.
