Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 258)

Bắn sẻ

Do chữ “xạ tước”, nghĩa là bắn…con chim sẻ.

Do tích Đậu Nghi vẽ con chim sẻ trên tấm bình phong và hứa ai bắn được trúng chim sẻ gả con gái cho. Lý Uyên, tức vua Đường Cao Tổ sau này, bắn trúng và…được vợ. Cung oán ngâm khúc có câu “Làng cung kiếm rấp ranh bắn sẻ – Khách công hầu ngấp nghé mong sao”.

Sau này người ta dùng chữ “bắn sẻ” để nói việc…kén rể.

Người trong nước “bắn sẻ” là…bắn tỉa (cho chết luôn).

Khem

Khem: kiêng cữ

(ăn khem)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Văn mình vợ người

Tố Mai kể rằng nhà thơ Hà Thượng Nhân viết bài khen bài Bát Phở Đầu Đời của Nguyễn Tử Đóa như sau: “Chỉ với bài thơ nhỏ tôi dám nghĩ rằng Nguyễn Tử Đóa có cái phong cách của Bạch Cư Dị lẫn Đỗ Phủ. Bạch trong sáng và Đỗ thẳm sâu”.

Nghe đã thấy mê ly ngây ngất chưa?

Trong Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ Thư Hiên kể Kim Lân có một truyện ngắn nhan đề Thằng Câm và so sánh Kim Lân với văn hào Nga Tourgueniev cho rằng nhà văn Nga này khó vượt nổi được Kim Lân. Nếu không lầm thì hình như Kim Lân chỉ có một tác phẩm khá là Vợ Nhặt. Bây giờ mới thấy Vũ Thư Hiên ca tụng Kim Lân với truyện Thằng Câm viết…nhưng chưa bao giờ đăng báo, còn ở trong vòng bí mật.

Khi viết lời giới thiệu cho tập truyện mới xuất bản, Trần Bích San cũng liên hệ tới nhà văn Nga Chekhov và viết: “…Anton Chekhov để lại cho nhân loại những truyện ngắn hoàn hảo đến độ một ngự sử văn học danh tiếng Tây phương cho là không ai có thể thay đổi một chữ, dù chỉ một chữ thôi, trong các đoản thiên của ông…”.

Thói quen dẫn chứng quá nhiều bằng văn học ngoại quốc, vọng ngoại, ít tự tin vào văn tài của mình, mà thích dựa vào bóng một cây cổ thụ sẵn. Khi không muốn dẫn chứng bằng văn phẩm ngoại quốc để so sánh, lại chủ quan thổi phồng giá trị tác phẩm.

(Đặng Trần Huân – Cũng đủ lãng quên đời)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Tình trong như đã mặt ngoài còn lâu.
Vừa quen nhau đã ôm nhau làm bừa.

Âm và ý

Ông Ðàm Quang Hậu đã chú ý đến khả năng gợi tả của các âm trong Việt ngữ: Tóe, xòe, loe, toe, toét, loét, khoe…:

Âm oe đọc lên gợi ra hình ảnh một cái gì mở rộng: Eo, teo, quắt queo, cheo leo, lèo khèo v.v.: Âm eo diễn tả cái gì thắt lại. Khi đọc âm ong thì môi phải cong miệng phải phồng; nên tiếng quả bóng, cái lọng, cái nong, chiếc vòng v.v. đều ngụ ý cong và phồng.

Khi đọc âm oi thì phải hắt hơi ra; cho nên các tiếng thòi (ra), lòi (ra), cái ngòi, cái vòi, nhoi (lên) v.v. đều ngụ ý ngoi ra.

Các tiếng quát, quạt, quất, quật, quăng, quẳng v.v. đều hàm ý cứng cỏi, không phải là không liên quan với phụ âm nổ qu.

Các tiếng mềm mại, mịn, mượt, mướt, mơn mởn, mỡ v.v. đều hàm ý mềm, không phải là không liên hệ với ) phụ âm lỏng m.

(Võ Phiến – Chúng ta qua tiếng nói)

Càn khôn

Càn: trời. Khôn: đất. Nghĩa trời đất.

Thơ Nguyễn Đình Chiểu:

“Làm người trung nghĩa đáng bia son – Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn”.

Kheo khảy

Kheo khảy: thanh cảnh, mỏng manh

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền

Lễ vấn danh

“Lễ vấn danh” là lễ nhà trai đến nhà gái để hỏi tên tuổi cô gái, ngày nay gọi là lễ “Chạm ngõ” hay là lễ “Dạm” (có nơi kiêm cả lễ dạm và hỏi cùng một lúc gọi là lễ dạm hỏi). Truyện Kiều có câu “Tiện đưa canh thiếp trước cầm làm ghi”. “Canh thiếp” là giấy ghi họ tên, tuổi, quê quán, con ai.

Trước 1945, ở nhà quê, con gái từ khi sinh đến khi lấy chồng vẫn chưa đặt tên, nếu như gia đình không cho con gái đi học. Con gái không cần vào sổ họ, sổ làng, không đi học nên cũng không cần dặt tên vội. ở trong nhà con gái mới sinh ra được gọi là con Hĩm, con Mực, con Chắt em… Đến làm lễ vấn danh, ông bác hoặc bố mới đặt cho cái tên để ghi trong giấy hôn thú, có khi chính người mang tên cũng không biết mình mang tên gì trong giấy hôn thú, vì khi về nhà chồng lại gọi theo tên chồng, khi có con gọi theo tên con, có cháu đích tôn gọi theo tên cháu. Lễ vấn danh không phải để hỏi tên mà chủ yếu là hỏi tuổi, để hai họ quyết định đôi nam nữ hợp tuổi nhau thì lấy được nhau, tuổi xung khắc thì thôi.

Trong hôn nhân xưa chỉ chú trọng có môn đăng hộ đối hay không, có hợp tuổi hay không, gia đình nào thận trọng mới tìm hiểu kỹ “Công, dung, ngôn, hạnh” (thường là các gia đình gia giáo). Chẳng những các chàng trai, trước khi cưới chưa biết mặt vợ, mà có những ông bố chồng là người chủ động đi hỏi dâu cũng không biết mặt con dâu, do đó trong gia đình sau này mới xảy ra nhiều chuyện oái oăm:

– “Cảm ơn ông bà thương đến, tôi xin đồng ý gả, nhưng xin thưa chuyện trước: con tôi mồm mép chẳng bằng ai!”

Tưởng như vậy là mình tìm được con dâu hiền hậu, không đanh đá chua ngoa, ai ngờ cưới về mới biết con dâu sứt môi!. Nhưng đã nhỡ việc, biết tính sao?

Lại có trường hợp đánh tráo: Khi đi hỏi thì cho thằng em nhanh nhẹn và “sạch mặt” hơn đóng vai chàng rể, đến khi cưới thì lại cưới cho thằng anh đần độn, xấu xí.

Giai thoại làng văn

Một lần tôi đến thăm Nguyên Hồng. Không thể tưởng tượng được nhà ở của một cán bộ giảng dạy đại học mà lại khốn khổ đến thế. Như một cái lều vịt, dựng trên một bãi rác, sau lưng là một dãy nhà xí, cái nào cũng mất cửa.

Nguyên Hồng đang ngồi uống rượu. ông nhắm rượu với một đĩa rau củ cải luộc (ngọn rau, lá rau chứ không phải củ cải). Vậy mà ông cũng nhắm nháp ra vẻ đắc ý lắm. Nguyễn Đình Thi còn nói với tôi, có lần còn bắt gặp ông nhắm rượu với cơm nguội. Ấy là cái hồi ông phụ trách trại bồi dưỡng nhà văn trẻ ở Quảng Bá. Ông dặn mọi người, sau 10 giờ tối, ông đóng cửa phòng, làm việc riêng, không tiếp khách. Hôm ấy, Nguyễn Đình Thi có việc gì đó khẩn cấp cần gặp ông. Anh đẩy cửa phòng Nguyên Hồng sau 10 giờ tối, thấy ông đang nhắm rượu với cơm nguội.

Nguyễn Đình Thi cười: “Đấy, nhà văn Việt Nam ăn chơi thế đấy!”

(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)

Thành ngữ và danh ngôn

Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ…Nay con cháu mai sau đời sau chế tác “lung tung, trống kèn” những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ :
• Không phải người đàn bà nào cũng đẹp và không phải người đẹp nào cũng là đàn bà.
• Không có người phụ nữ xấu, chỉ có người phụ nữ…không đẹp.
• Bạn đừng bao giờ nên tán tỉnh 1 người phụ nữ đang….đi với chồng cô ta
• Nếu bạn mặc quần áo ra đường mà bị chê xấu thì tốt nhất bạn không nên mặc quần áo nữa.

Trích…“Tập làm văn”

Đề: Tả anh bộ đội   

Anh bộ đội cao khoảng 1,20m, súng AK dài 1m rưỡi.

Chữ Việt gốc Tầu

Có thể nói đa số những chữ trong tiếng Việt là tiếng Hán Việt. Hiện nay cho đến đầu thế kỷ 21, trong bộ môn nghiên cứu và biên khảo, tiếng Hán Việt chiếm 30%, truyện 9%, và báo chí 29%…

Còn chữ Việt gốc Tầu (hay tiếng Việt gốc Tầu) là những chữ, những âm mà ta dùng thẳng từ của người Tầu hiện tại và dùng âm của mẫu tự quốc ngữ viết lại (có khi hơi nói trại đi một chút vì không có chữ tương đương). Và khi ta nói lên tiếng đó, người Tầu “liên hệ” có thể hiểu được.

Thí dụ hai chữ xíu mại là chữ Việt gốc Tầu Quảng Đông.

Nhưng xí lắt léo là chữ Việt gốc Tầu. Chữ nguyên thủy Hán Việt là “tử liêu”. Tiếng Triều Châu có nghĩa là…”chết”.

Ta đọc trại đi là…xí lắt léo.

(Nguyễn Hữu Phước – đặc san Phù Sa Sông Cửu)

úp ngoại tôi  hàn gắn được những vết  nức nẻ để ngày hôm nay 

Cá mè đè cá chép
Trong tiếng Việt, bên cạnh những câu tục ngữ chỉ có một nghĩa là nghĩa đen (Ví dụ: Trời nắng, cỏ gà trắng thì mưa) hoặc nghĩa bóng (Ví dụ: Gió Sơn Tây trúc cây Hà Nội) là những câu có hai nghĩa, tức cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Như:

Nghĩa đen: Cá mè ăn nổi ở tầng trên, cá chép sống ở tầng giữa.
Nghĩa bóng: – Cùng họ hàng, đồng loại mà đè nén, chèn ép nhau.

(Phan Trọng Hoa – Tính nhiều nghĩa hay đa nghĩa của tục ngữ)

Lão bạng sanh châu

Bạng: con trai. Châu: ngọc.

Ý già (như ngao, trai) rồi mà vẫn còn có con.

Nhà Nho

Năm Ất Mão (1075), Lý Nhân Tông (Càn Đức) mở khoa thi tuyển “Minh kinh bác học” – Bắt đầu khảo thí học trò bằng ba kỳ thi. Trước đó, khi chưa có khoa cử, những người được cất nhắc, bổ dụng ra làm quan đều phải tiến thân bằng con đường Phật giáo. Đây là khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử nước ta.

Đỗ đầu khoa đó (trong số hơn 10 người trúng tuyển) là Lê Văn Thịnh người xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi đỗ, ông được vào cung hầu vua (lúc đó mới 7 tuổi) học tập. Hơn một năm sau – Tháng Chạp năm Bính Thìn (1076) – Từ chức Nội cấp sự, ông được phong làm Binh bộ thị lang. Trong cuộc đời 21 năm làm quan dưới triều Lý Nhân Tông, Lê Văn Thịnh đã có một đóng góp to lớn trong lịch sử bang giao. Đó là lần ông được cử đi sứ sang nhà Tống vào tháng 6 năm Giáp Tý (1084) để bàn định về việc cương giới.

(Phùng Thành Chủng – Người khai khoa nền khoa cử nước ta)

Chữ nghĩa làng văn

Trước kia có giai thoại học trò xứ Quảng ra Huế thi mang theo con “cá gỗ” để chấm với nước mắm ăn cơm.

Sau người miền Nam có thành ngữ “Bắc Kỳ ăn cá cá rô cây” chỉ người miền Bắc nghèo nàn cũng chấm với nước mắm ăn cơm.

Từ con “cá gỗ” để có “cá rô cây”?

Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao

 Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là “lộng ngữ” và giải thích: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe. Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có:nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. Nhiều khi cách chơi chữ đồng âm này tránh được cái tục, một sự nói tránh hết sức tinh tế:

Sáng trăng em nghĩ tối trời

Em ngồi em để sự đời em ra

Sự đời  em bằng lá đa

Đen như mõm chó chém cha sự đời 

Cái sự đời mà câu ca dao đề cập bằng việc dùng nghĩa lấp lửng nước đôi như trên chắc chắn rằng ai cũng biết đó là cái gì rồi!

(Trần Minh Thương – Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Việt Nam)

Chữ nghĩa làng văn

Lỗ Ban, còn gọi là “cung ban” là thợ mộc danh tiếng người nước Lỗ thời Xuân Thu, sau được tồn làm tổ nghề mộc.

Tương truyền khi làm nhà cho ai, Lỗ Ban thường dán bùa trừ tà cho gia chủ hay ngược lại, ếm nhà gia chủ cho điên đảo sau này.

Bùa ấy gọi là bùa Lỗ Ban.

(Bút Chì – Hiểu đúng thành ngữ, tục ngữ, điển tích)

Chữ và nghĩa

Văn học trong nước, chúng ta cũng có thể tìm thấy những kết cấu theo dạng “… như nó đã là.” hay “như nó đã từng.” để chấm dứt một câu văn. Kết cấu này chính là từ cụm “… as it was.”

Hoặc “… as it had ever been.”, một đặc điểm trong lối viết của cú pháp Anh, Mỹ. Như trong: “Hãy trả ngôn ngữ về vị trí độc lập như nó đã từng.” , hay “Cần phải trả ngôn ngữ về với ngôn ngữ, về đúng vị trí và chức năng của nó, như nó đã từng.”

So với kết cấu “được mô tả là” đã nói ở trên, kết cấu này có nhiều phần xa lạ hơn. Hiện tại, nó chưa có nét Việt lắm.

(Bùi Vĩnh Phú – Trên những đường bay của chữ)

Sự phát triển của tiếng Việt I

Trong bài Miền Nam Khai Phóng, chúng tôi đã đề cập đến Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ cũng như một số khai phá tiên phong về văn học báo chí mở đường cho nền văn học bằng chữ quốc ngữ như ngày nay.

Sau đó chúng tôi khám phá thêm công trình nghiên cứu Lục Châu Học, dựa vào Văn, Sử bằng chữ quốc ngữ xuất bản ở miền Nam Việt Nam 1860-1930, tìm hiểu con người vùng đất mới.
Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cuốn Sấm Truyền Ca, cuốn sử Ðại Nam Việt Quấc Triều Sử Ký và Truyện Ông Gioang Ngô Kim Thạch cũng như một vài khám phá khác về những đóng góp văn học và văn hóa của miền Nam; từ đó chúng tôi sẽ nêu một số ý kiến về sự phát triển của tiếng Việt.

(Nguyễn Vy Khanh – Tiếng Việt một số tác phẩm mới phát hiện)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

©T.Vấn 2023

Bài Mới Nhất
Search