Lâu lắm rồi không đọc Tư, vì Tư viết truyện ngày càng tệ, viết xọ văn Bắc, quan trọng là tâm lý Tư bất ổn nên tâm lý nhân vật ngày càng cuồng loạn vô giá trị trong vọng ảo.
Thí dụ Cánh Đồng Bất Tận. Dù khen, dù nói rằng cuộc sống dân nghèo Miền Nam trong trận cúm gia cầm quả thiệt khổ. Nhưng tôi lên án cái “ý tưởng” lấy keo dán sắt 502 của Tư “dán” vô cửa mình người đàn bà như Tư làm. Dân Nam Kỳ không ác tới mức nghĩ ra cách ti tiện và nhỏ nhen như vậy.
(Nhớ trên VTV, một phim tài liệu về Côn Đảo, một nữ cán bộ tù hồn nhiên kể là Mỹ Nguỵ lấy chai bia đập ra rồi nhét vào “cửa mình” các chị, hậu quả các chị không đẻ đái gì được (??).
Xin lỗi! Nếu có, cái “cửa mình” của mấy bà nó bị nhiễm trùng máu chết tám đời rồi, còn đâu lấy hơi đi kể này nọ.)
Trong lịch sử Miền Nam chuyện đánh ghen nhiều hà rầm, có một vụ dầu hôi đốt chồng, có những vụ tạt axit. Nhưng quả tình, lấy keo dán sắt dán cửa mình đàn bà thì chỉ có Tư độc quyền.
Trong Cánh Đồng bất tận Tư xây anh Út Vũ đẹp trai hận vợ mà dụ dỗ những người đàn bà có chồng rồi bỏ giữa đường cho vui cũng là hình ảnh không phải của Miền Nam. Đàn ông Miền Nam xưa rày không có mất dạy kiểu ti tiện bịnh họan nhân cách dơ dáy như vậy!
Tư có 4 cái, một là Dòng Nhớ, nhì là Cánh Đồng Bất Tận, ba là Cải Ơi, bốn là Cuối mùa nhan sắc.
Rồi xong.
Còn tất cả đều lạt và gượng gạo. Nguyễn Ngọc Tư có níu kéo vài cuốn sau, nhưng Gia Việt không có đọc. Là vì nó quá lạt và đầy sự tưởng tượng trong tâm lý đè nén trầm uất tới kiểu tâm thần, thêm thắt kiểu kịch của Thành Lộc.
Bà Tư mang danh đặc sản Nam Kỳ nhưng sau này bả toàn tưởng tượng. Đọc vài hàng là biết chắc chắn điều đó.
Còn bị liệu, dính con chữ văn Bắc thì nhiều vô kể.
Suy cho cùng, Nguyễn Ngọc Tư mới học tới lớp 11 và chữ nghĩa, không gian Miền Nam gói gọn trong số 11.
Không có mạnh tay, không có đè nặng, tui nói thiệt.
Tro Tàn Rực Rỡ lên phim, phim đạo diễn Bắc làm nữa! bạn kêu cho ý kiến. Tui lụi cụi đọc, đọc xong lắc đầu! Tư ơi là Tư! Lạy Tư!
Tư không rõ thương hay ghét hoặc thù chồng, thù đàn ông ở ngoài đời mà đàn ông Miền Nam trong truyện Tư đều bị bịnh nặng về tính cách.
Lại là đàn ông Miền Nam thôn quê bị bịnh tâm lý, kiểu ức chế tình dục mà Tư đẻ ra. Lần này không như Út Vũ, là ông Tam đốt nhà cho vui và Tư ngồi dùng câu chữ tả những đốm lửa do đốt nhà lãng mạn như lửa hạnh phúc (??)
Trích:
“Ông Tam đốt nhà phải đến năm lần rồi – Em nhẩm tính bằng mấy ngón tay đen kịt mủ chuối.
– Thì lần nào cũng như lần nấy, mắc gì phải coi.
– Nhưng nó cháy lâu lắm, lâu nhất từ trước tới giờ.
– Chị Nhàn không khóc đâu, tỉnh bơ luôn…”
Nguyễn Ngọc Tư viết ra những con chữ sống nhăn, sống sượng, khốn nạn tận cùng kiểu:
“Má Tam bảo Nhàn bỏ thằng trời đánh phứt cho rồi. Bây muốn ở vậy thì ở với má, bằng không lấy chồng khác má cũng cúng heo ăn mừng. Chị kêu trời đất, con mà bỏ ai cất nhà cho ảnh đốt, lỡ đốt nhà hàng xóm, kỳ lắm!”
Và Tư tỉnh bơ viết:
“Phải khóc được thì tôi đâu có đốt nhà. Tam phân trần, mặt hiền queo xẻn lẻn.”
“….mùi cơm sôi do Nhàn đang bắc nồi cơm lên bếp thì đằng trước Tam rê quẹt gas vào mái lá… “
Đoạn này mới ghê: ” chỉ vì con chó hàng xóm sủa dữ quá, và Tam nghĩ “nó khinh ta”, hay vì cái rễ cây me tây gồ lên khỏi mặt đường làm anh ta vấp té.”
Không phải con chó khinh dân Miền Nam, không phải cái rể cây me tây gồ lên làm té đau khinh đâu Tư, có những thứ nó khinh không che đậy, nó coi như rác rến cụ thể đàng hoàng, từng cái rõ ràng. Tiếc quá! Tư lại câm miệng.
Trời hành tụi bây! Cái lũ bịnh hoạn! Cho tụi bây vô nhà thương điên.
Văn hoá Miền Nam, con người Miền Nam là vậy đó hả? Chèn ơi là trời!
Thực tế ra sao? Ông chồng thử đạp mâm cơm lần thứ hai đi? Con vợ nó khỏi cho ăn cơm luôn.
Chúng ta đọc Hồ Biểu Chánh nhận ra con người Nam Kỳ mình trong đó, tiểu thuyết hiện thực mà. Thí dụ như nghèo nhưng từ ban đầu là không làm ẩu, làm bậy, nghèo có danh dự.
Tất nhiên Miền Nam có người này kẻ khác, có trộm đạo, có lưu manh vườn, nhưng chỉ là thiểu số không đại diện.
Trong “Ngọn cỏ gió đùa” nhà Lê Văn Đó đói tới mức không còn cháo mà húp, trước nguy cơ mẹ già và bầy cháu chết đói anh Đó đàng hoàng đi kiếm việc làm, nhưng không ai mướn, túng quá anh đi vô nhà bá hộ Cao hỏi thẳng:
(Trích) “Nhà tôi nghèo quá, tôi đi làm mướn mà không ai chịu mướn tôi làm. Bây giờ nào là mẹ, nào là chị, nào là sắp cháu nhỏ của tôi chết đói hết thảy, tôi đi đến đây, thấy nhà nầy giàu có nên tôi ghé lại mượn một ít giạ lúa về ăn đỡ”.
Cái tánh “danh giá” Nam Kỳ ở chổ đó, nghèo nhưng không trộm cướp, giựt dọc, phải tận sức bình sanh trước, đi làm mướn trước đã.
Đói quá, bần cùng quá thì “mượn”, nhưng cũng công khai đàng hoàng ở cổng chánh.
Lê Văn Đó sau đó bị chủ nhà xịt 6 con chó cắn máu me tùm lum, anh chàng lê lết tấm thân tàn ra ngoài bụi tre ngồi gục mặt xuống, trăng rằm sáng treo trên trời rừng rực mà đời anh tối thui “Cuộc đời đắng cay dường ấy, cảnh trời thanh lịch dường ấy, mà Lê-văn-Ðó ngồi trơ trơ như một cục đá hay là một khúc cây, không buồn, không vui, không lo, không cảm chi hết”.
Cùng đường anh Đó làm bậy, nhưng cũng “sĩ” lắm, chỉ lấy cái trã cháo heo của nhà giàu về cứu đói cho mẹ già và các cháu thôi.
Rốt cuộc anh Đó bị người làm bá hộ Cao lấy cây tre nhắm vô đầu mà đánh, nó đánh vô tay anh làm trã cháo heo rớt xuống bể nát, cháo đổ hết xuống đất.
Bị đánh đau, bị hàng chục người thoi, đạp mà Đó không đau, cứ tiếc nồi cháo heo “Làm giống gì dữ vậy? Ðổ cháo hết uổng hôn!”.
Thương người Nam Kỳ mình.
Xưa Hồ Biểu Chánh viết Ngọn Cỏ Gió Đùa tả anh Đó nghèo mà trộm chả chao heo, bị đánh bị tù, bị bần cùng. Rồi trốn ngục, rồi trộm đồ của chùa, rồi làm giàu, rồi …vô tù tiếp khi đã giàu. Anh Đó khốn cùng phải trộm đồ chùa để sau này hối hận và ray rứt.
Triết lý trong “Ngọn cỏ gió đùa” là sự đề cao phẩm hạnh, lòng nhân ái, và sự kiên định với lẽ phải trước nghịch cảnh của người Nam Kỳ.
Văn hóa Bắc là lũy tre làng bốn góc chôn chặc cái làng ở giữa, làng nào sống kiểu làng đó, cấm giao lưu trai gái, có hương ước ngặc nghèo, có thầy Lý hắc cám, có con Thị Màu lẳng lơ, có chị Dậu bế tắc, có những người con gái chửa hoang bị cạo đầu bôi vôi thả bè chuối trôi sông.
Nam sống mở, làng của Nam dựa vô mé sông, giao lưu với làng khác bằng ghe xuồng, bằng những con lộ, người Nam luôn mời khách xa xôi vô ở chung xóm, giúp đỡ nhau cùng an cư vui vẻ, gái làng thích lấy trai xa xứ và thương chồng đứt ruột đứt gan vì cái quá khứ “trôi sông lạc chợ” đó.
“Nặng nề vì nghĩa vì nhơn
Vì nơi danh giá vì cơn tao phùng.”
Nam Kỳ là vùng đất an vui, sung túc và tự do. Nam Kỳ là cái nền của Việt Nam Cộng Hòa dựng xây lên sự tự do, nhân bản và tôn trọng lẽ phải.
Người Miền Nam không lập gia phả, không nhà thờ tộc, không nhà thờ tổ, không có anh cả, không có trưởng tộc quyền hành kiểu Miền Bắc.
Nam Kỳ khác Bắc phần nhiều. Văn hoá Nam Kỳ không có cụ Lý, không có Thị Màu, không có Chị Dậu. Người đàn bà Nam Kỳ đồng cam đồng khổ khai hoang cùng chồng và cha, họ cũng tay mác tay phảng dày nắng dạn sương.
Xã hội Nam Kỳ đề cao vai trò người đàn bà, đàn bà Miền Nam có một địa vị tự do dân chủ từ trong máu.
Gái Nam Kỳ chịu chơi, dám theo người mình yêu, dám nhận hậu quả do tình yêu đó đem lại:
“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa.”
Các bạn nghiên cứu thấy rằng Nho giáo Bắc Kỳ là đầu môi chót lưỡi, tức thể hiện bằng cái miệng, Nho giáo Nam Kỳ thể hiện bằng cách sống.
Có ai đó nói “Người Bắc cao đạo một cách ngây ngô còn người Nam thì thực tế một cách trần trụi.”
Cái chữ trần trụi hơi quá, nhưng những quy tắc bất thành văn ở Nam Kỳ nó vô hình dữ lắm, thí dụ dân Nam Kỳ mời bạn ăn cơm, mà bạn ăn hỗn trong mâm cơm quá, họ không nói, nhưng lần sau sẽ không mời. Người Nam Kỳ luôn để khách tự giác và không nhắc.
Miệt quê Miền Nam ít xô bồ hơn thành thị, dân trong miệt vườn miệt ruộng cũng an lành.
Người ta chào hỏi nhau theo kiểu ruộng vườn:
-“Anh Tư à! Coi bộ lúa kỳ này thâu bộn, bể bồ à, mừng cho anh chị ăn tết lớn rồi.”
-“Anh Mười, thằng út anh coi bộ nhổ giò lớn dữ dằn à,anh nhắm cho nó học nữa hay hỏi vợ cho nó nè?”
-“Lóng rày con ghệ tui nó muốn bỏ quê về Sài Gòn, tui cản nó thì nó khóc mừ nước mắt rớt lên rớt xuống, ướt nhẹp thấy thương, mà để nó đi là tui mất vợ,thấy ai khổ hơn tui hôn nè?”
Dân quê Miền Nam ngày nay cũng như xã hội Miền Nam sau 1975 bị dồn nén, mất chất, bị túm đầu, bung thùa nát bấy, cũng rượu bê bết, hát karaoke um sùm, trộm cắp, chửi lộn. Nhưng qua ngòi viết của Tư thấy dân quê Miền Nam bị bịnh tâm lý, thần kinh quá.
Còn triết lý của Tư là gì? Là u uẩn, là bịnh hoạn, dồn nén, là tưởng tượng ra bất chấp xã hội.
Bình _nguyên Lộc tả lửa tàn, lửa bếp, mùi lửa Tết như sự linh thiêng ấm áp của người Miền Nam. Còn Tư tả lửa đốt nhà vì bị bịnh tâm lý. Tư tả mùi chuột chết cháy, mùi ni lông do cháy nhà, năm lần năm mùi khác nhau.
Có cảm giác, Tư lái chiều đi cho khác.
Những u uẩn, những khó khăn của dân Miền Nam vì lý do gì đó nhưng thay vì trút vô gì đó, thì Tư lại dạy là …tự trút vô người thân mình đi, tự mình trầm uất điên điên đi!, cho nó gọn. Đập chén đốt nhà, uống rượu, hành hạ nhau cho chết luôn đi!
Và chết thiệt, khúc cuối “Nhàn đã không chạy ra khỏi đống lửa như mọi khi, anh à!”.
Sống kiểu bế tắc một chùm hả Tư? Tư không coi lịch sử hay coi phim cách mạng hả? Người Đẹp Tây Đô còn biết chạy vô bưng tìm “mấy chú” giải phóng bản thân mình mà?
Người phụ nữ Miền Nam rất có duyên và đoan chánh nhã nhặn, ngộ ngộ, khéo léo. Người phụ nữ Nam Kỳ lục tỉnh truyền thống lo nuôi con, nép bên chồng và tham gia hoạt động phụng sự xã hội.
Người phụ nữ Miền Nam nền nã, tam tòng tứ đức, Khuôn mặt cử chỉ nghiêm trang không khoe khoang, không kênh kiệu. Cách nói chuyện kiểu thực thà, thẳng thắn, xởi lởi của người Miền Nam không rào đón trước sau.
Nhưng đàn bà qua cách tả của Tư nhìn như con điên, con khùng, con tâm thần chịu đựng và a dua thằng chồng ba trợn một cách thái quá thụ động.
Đọc xong Tư, coi phim xong, các bạn trẻ vùng khác hay các quốc gia khác sẽ hỏi “Ủa? bộ đàn ông và đàn bà Nam Kỳ bị bịnh tâm thần nặng nề như vậy hả?”
Và các bạn ở vùng khác cũng đã từng hỏi:” Ủa! Sao Miền Tây cuả mày trai cưới trai đông quá vậy? khoe của, quay clip rình rang, ra trước bàn thờ làm um sùm luôn kìa?”
Miền Nam vui ít buồn nhiều. Cái mốc lịch sử, giờ thay đổi nhiều, nhân mãn, dân nghèo không còn cục đất chôi chim, văn hoá bị thay đổi, ngôn ngữ mất từ từ, con người bệ rạc….
Lịch sử có những đoạn cong vòng.
Sau một lễ hội, đường xá để lại một đống rác. Mưa một trận thôi mà thành sông rác. Đường phố dơ dáy mà con người cũng không sạch sẽ. Không biết cám ơn, không biết nhìn ngó, không biết văn minh. Sống thiếu lịch sự không ai nhường nhịn ai hết.
Xã hội giờ ngộ, không biết phải trái, lễ nghĩa gì cả, ra ngoài đường bị đánh tét đầu vì …chó. Người trẻ Miền Nam giờ kêu hủ tíu có nước dùng, kêu trái mãng cầu dai là quả na, khi buồn thì vãi, thì địt.
Ra đường nhìn người già con nít giành nhau bán vé số, nước mắt ràn rụa vì tới giờ xổ mà còn một cọc rồi lắc đầu. Không còn khả năng giúp nữa, vì chúng ta giờ nghèo ngang nhau.
Nhớ ông Lam Phương: “Bao năm giải phóng như thế này phải không anh?”.
Đúng là tâm lý dân Miền Nam dồn nén, lệch đường, u uẩn, có sự thay đổi tới ứa máu.
Nhưng Tư ơi! Xin đừng làm kiểu bịnh hoạn đó, đừng hướng dân Miền Nam vào chỗ tự diệt, tự đày đoạ vợ con mình, tự đập chén dĩa, tự …đốt nhà mình! Cái này ngu đó Tư!
Trút xả thì không có cách gì bịnh hoạn hơn là tự trút vô bản thân và người thân của mình. Xã hội chánh trị thế giới có nhiều cách mà hiền nhơn như Lão Tử, Đức Phật, Nguyễn Trãi, Đào Duy Từ, hay Abraham Lincoln đã viết và dạy, tự tìm và tạo ra con đường chánh đáng và mạnh mẽ hơn nhiều.
“Bạn không thể trốn tránh trách nhiệm của ngày mai bằng cách trốn tránh nó hôm nay.” — Abraham Lincoln.
Hiểu không Tư? Hay là bản thân Tư cũng bít đường không còn lối thoát rồi? Cái đầu lớp 11 của Tư chỉ nhiêu đó thôi hả?
Có những nỗi buồn thân phận, đời người lâm vào những bước ngoặt của lịch sử, đó là nghịch cảnh quê hương mà không có cuốn sách nào, bút mực nào tả xiết.
Nhân loại đã từng hưng thịnh và suy vong qua nhiều thời đại. Miền Nam cũng từng có lúc vui có lúc buồn, khi thao thức, khi trằn trọc. Đôi lúc thân phận con người như cọng cỏ khô mỏng manh trước cơn gió chướng.
Nam Kỳ mình dù trải qua một thời nhiều biến cố, đổi thay, lòng người thay đổi khôn lường. Nhưng nụ cười hồn nhiên, nhơn hậu, chơn chất vẫn chưa bao giờ lịm tắt.
Cười lên để đời mình còn có chút bấu víu đặng mà hy vọng, đặng mà động viên nhau trước trắc trở của thời cuộc, vững tin trước cơn thịnh nộ của đất trời.
Lich sử không ngụy tạo, chỉ có con người mới ngụy tạo lịch sử.
Cũng vậy, trời đất vô tình nhưng sẽ không dồn con người vào bước đường cùng bao giờ, một cánh cửa sẽ mở ra cho những người luôn dằn lòng, nén lòng mình với tình thương tha thiết.
“Tình là tình nồng thắm
Buộc lòng mình vào núi sông
Tình mến quê hương.”
Nụ cười Miền Nam luôn ấm áp và rạng ngời, cười tươi cho ánh bình minh rạng sáng. Lịch sử Miền Nam mà! Không thể quên đặng.
Đời người là dòng sông, những con sông buồn Miền Nam, những năm đau đớn nhưng lòng người Miền Nam vẫn ngời sáng, sáng bừng như mặt trời giữa mùa đông u ám.
Người Miền Nam không bao giờ quên thân phận mình, không bao giờ bỏ cuộc.
“Đò dẫu nặng nề trôi mấy trôi cũng về một nơi” là câu nhắn cuối với thế hệ kế tiếp.
Nơi đó là quê nhà, là Việt Nam, là Miền Nam của chúng ta!
Nguyễn Gia Việt
*Bài do CTV/TVBH gởi
