Tân nhạc trước 1975, nhất là ở miền Nam, lúc trời Tây gặp hồn Việt, lúc lời ca của Chopin hòa vào lời ru của mẹ, lúc cung đàn của Paul Mauriat thả mình trên dòng Hậu Giang, lúc tiếng hát đi ra từ thanh âm hoà nhịp thở của thời cuộc, tâm tư của thế hệ.
Và cũng chính trong không gian ấy, cái hơi thở tưởng chừng vô hình, lại mang một ý nghĩa đạo đức và thẩm mỹ đặc biệt. Giới ca sĩ ngày đó, từ Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, đến Duy Trác, Ngọc Minh… ai nấy đều xem việc “không để lộ tiếng lấy hơi” là một giới luật không thành văn. Chớ dại gì để thiên hạ nghe mình thở, vì đó là dấu hiệu của người chưa tròn nghiệp hát.
Người ca sĩ ngày ấy hát như người hành lễ, lấy âm thanh làm hương, lấy ca từ làm tụng, lấy cái lặng lẽ của hơi thở để đắp nền cho cái long lanh của câu hát.
Vì sao tiếng lấy hơi không được phép lộ?
Thứ nhất, tiếng lấy hơi lộ ra nó kéo người nghe trở về thực tại, phá vỡ ảo ảnh thiêng liêng mà âm nhạc đang dựng nên. Bài hát dựng nên giấc mộng, là khung cảnh. Nếu ta đang chìm trong “Mười năm tình cũ”, hay “Dấu tình sầu”, tự dưng giữa đoạn ngân vang lại nghe một tiếng hít hơi rồn rập, ấy là như đang mơ mà bị ai tạt gáo nước, giấc mộng tan, và cảm xúc gãy đổ.
Thứ hai, tiếng lấy hơi làm bằng chứng của lao lực, của gồng mình. Trong mỹ học cổ phương Đông, cái đẹp là thứ chảy như suối, nhẹ như khói, không phô trương, không cố gắng. Người ca sĩ giỏi là người khiến bài hát như tuôn ra từ trời, không phải như từ cỗ máy rền vang.
Thứ ba, tiếng lấy hơi nếu lộ sẽ kéo tiếng hát từ thượng tầng thi ca xuống cõi phàm tục. Một tiếng “hự” nhẹ, một tiếng “hít” gấp… cũng đủ làm đổ vỡ hình ảnh.
Hãy nhìn Thái Thanh. Bà được gọi là “tiếng hát vượt thời gian,” vì âm sắc lảnh lót cao vút như gió núi, vì người ta chẳng bao giờ nghe thấy bà thở. Người ta bảo, Thái Thanh không lấy hơi như ca sĩ, mà lấy hơi như… chim hót, chẳng ai biết nó thở lúc nào. Từ đầu bài đến cuối, những đoạn lên xuống, ngân dài, vuốt cao đều không có dấu vết của hơi thở con người.
Ca sĩ Mai Hương kể:
“Má Thái luyện hơi như luyện thiền. Bà không thở để hát, bà hát để… thở. Mỗi câu hát là một chu trình sinh học hoàn hảo—mở, giữ, nhả, khép. Mỗi nốt nhạc đi ra như tự nhiên phải thế, chứ không phải từ sự cố gắng.”
Trong nhạc viện Sài Gòn xưa, những lớp dạy thanh nhạc đều có một bài học cốt lõi: “thở trong yên lặng”. Không phải ai cũng làm được. Ca sĩ trẻ thường rơi vào hai lỗi: hoặc gấp gáp, hoặc kịch tính hóa hơi thở để tạo “cảm xúc giả tạo.”
Thầy dạy sẽ phạt: “Con không được kéo người nghe về phía con. Con phải đưa họ đến với bài hát. Mà bài hát là thiêng liêng, không cần thấy thở.”
Bởi vậy, họ luyện. Họ hát từng đoạn như tụng kinh trong lòng, lấy hơi qua bụng, giấu hơi vào lưng, nhả chữ như nước nhỏ từ lá sen. Cái đẹp, khi ấy, được dựng nên bởi cái không nghe thấy.
Khánh Ly mệnh danh là tiếng hát ru cõi nhân gian. Dù phong cách của bà bụi bặm hơn Thái Thanh, Khánh Ly cũng rất kiêng tiếng lấy hơi. Bà nói:
“Tôi từng bị Trịnh Công Sơn rầy hoài vì lỡ hít hơi mạnh trước câu ‘Tôi sẽ đi thăm…’. Anh Sơn bảo, cái tiếng hít đó như người đang sửa soạn nói dối. Mà bài hát thì không được dối.”
Từ đó, bà luyện lấy hơi ở… giữa lòng câu hát, hoặc lén thở trong tiếng nhạc đệm, giống như người nghệ sĩ vẽ thêm một nét chì dưới lớp mực nước mà không ai hay biết.
Đến thập niên 1990 về sau, khi thị trường âm nhạc mở cửa và mô phỏng các phong cách Tây phương tràn vào, tiếng lấy hơi bắt đầu được “tha thứ”, thậm chí còn được khai thác như một kỹ xảo tạo cảm xúc.
Ca sĩ nay dù hát Bolero hay Ballad nhiều người cố tình để lộ hơi thở: như tiếng rên nhẹ, tiếng nấc khẽ… như muốn đánh động trái tim khán giả bằng cách đánh thức giác quan sinh học.
Nhưng cái mỹ cảm cổ điển vốn dựa trên cái tinh tế và ẩn tàng, nay nó là thứ bị thay bằng “cảm xúc dễ dãi.” Người ta gọi đó là lấy hơi phô diễn, người nghệ sĩ xưa gọi đó là phá bùa của bài hát.
Nguyễn Quynh
*Tựa bài do TVBH đặt.
**Bài do CTV/TVBH gởi.
