T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
NỖI SỢ TIẾP TỤC
Sau khi ra mắt số báo đầu tiên của giáo xứ, Don Camillo cảm thấy mình hoàn toàn cô độc.
Vị cha xứ thổ lộ với Đức Chúa. “Con cảm thấy như mình đang sống giữa một sa mạc. Ngay cả khi có hàng trăm người ở chung quanh, con vẫn cảm thấy như có một bức tường rất dầy ngăn chia con với họ. Con nghe họ cười nói mà tưởng như họ từ một thế giới nào khác.”
Đức Chúa ôn tồn giải thích. “Đó là sự sợ hãi. Họ sợ con đó!”
“Sợ con?”
“Họ sợ con, Don Camillo. Và họ ghét con. Họ đang sống thoải mái, ấm áp trong cái vỏ của sự ngu dốt. Họ biết rõ sự thật chứ, nhưng không ai cảm thấy bắt buộc phải nhìn nhận sự thật, vì không có ai công khai nói lên sự thật đó. Con đã buộc họ phải đối diện với sự thật. Vì lẽ đó, họ ghét con và đồng thời sợ hãi con. Nếu có thể, họ sẽ sẵn sàng giết con. Liệu con có ngạc nhiên về những điều này không?”
Don Camillo nhún vai. “Thưa Cha không! Nhưng con sẽ ngạc nhiên về những điều Cha vừa nói nếu như con đã không biết Cha bị đóng đinh vì đã nói cho mọi người biết sự thật. Con chỉ cảm thấy thêm buồn nản vì những điều đó mà thôi.”
Lúc ấy, xuất hiện người liên lạc của đức Giám Mục.
“Cha Don Camillo, Đức Cha đã đọc tờ báo của giáo xứ và hiểu được phản ứng mà tờ báo đã gây ra trong nội bộ giáo xứ. Đức Cha rất hài lòng với số báo đầu tiên, nhưng ngài không muốn số báo kế tiếp có bài ai điếu linh mục Don Camillo. Cha phải để ý đến điều đó.”
Vị cha xứ trả lời. “Điều đó không tùy thuộc vào nhà xuất bản. Do đó, bất cứ yêu cầu nào thuộc loại này cần được gởi trực tiếp đến Thiên Chúa.”
“Chính xác đó là điều Đức Cha đang làm. Và ngài muốn cha biết được sự việc như vậy.”
Viên trung sĩ cảnh sát là một người rất từng trải: tình cờ ông ta gặp Don Camillo giữa đường. “Tôi đã đọc báo của cha và thấy chi tiết mà cha nêu lên về dấu bánh xe tìm thấy trong vườn nhà Pizzi rất đáng để ý.”
“Thế ngài có ghi nhận chi tiết ấy trong bản báo cáo của ngài không?”
Viên trung sĩ trả lời. “Không, bởi vì ngay khi tôi thấy dấu bánh xe trên mặt cỏ tôi đã ngay lập tức cho lấy kích thước vỏ xe. Về lại sở, tôi đem ra so với các lọai vỏ xe sử dụng ở địa phương, thì thấy nó vừa khít với vỏ chiếc xe tải của ngài Chủ tịch xã. Hơn nữa, tôi quan sát thấy Pizzi đã tự bắn vào thái dương trái trong khi tay cầm súng là tay phải, một vị trí thậm vô lý. Đồng thời, khi lục lọi trong lò sưởi, tôi phát hiện viên đạn được bắn ra từ khẩu súng của Pizzi trong khi anh ta ngã xuống vì một viên đạn bắn vào từ phía cửa sổ.”
Don Camillo nhìn viên cảnh sát một cách nghiêm khắc. “Vậy tại sao ngài không ghi tất cả những điều ngài phát hiện được vào bản báo cáo?”
“Tôi có ghi tất cả vào bản báo cáo đấy chứ. Nhưng sau đó tôi được bảo rằng, nếu ngài Chủ tịch xã bị bắt, sự việc sẽ mang một tầm quan trọng khó lường về mặt chính trị. Khi có chính trị xen vào, việc đơn giản đến đâu cũng dễ dàng trở nên phức tạp. Do đó, tôi đã phải chờ thời cơ thuận tiện để hành động và bây giờ, chính cha đã cung cấp cơ hội ấy cho tôi. Tôi không trốn tránh trách nhiệm của mình. Tôi chỉ không muốn vụ việc này bị chìm xuồng vì bị một số người khoác cho nó chiếc áo chính trị mà thôi.”
Don Camillo tỏ ý khen ngợi viên trung sĩ cảnh sát đã hành động hết sức thông minh.
“Nhưng, cha Don Camillo này! Tôi không được phép cử người trông chừng từ phía sau cho cha đâu đấy!”
“Không cần thiết nữa, Trung sĩ à! Thiên Chúa Quyền năng sẽ bảo vệ cho ta.”
Viên Trung sĩ khoát tay. “Hy vọng Đấng Tối Cao sẽ cẩn thận với cha hơn là với Pizzi.”
Ngày hôm sau, các cuộc thẩm vấn được thực hiện trở lại, một số những chủ đất và người thuê nhà được triệu tập để trả lời một số câu hỏi gay gắt. Verola là một trong số bị gọi đến. Khi hắn giận dữ phản đối, viên trung sĩ đã ôn tồn giải thích.
“Thưa ngài rất kính mến: sự kiện Pizzi không hề có quan điểm chính trị riêng, cũng không gia nhập đảng phái chính trị nào; cộng thêm chi tiết anh ta không bị cướp và mới đây nhất, có thêm một số chứng cứ cho thấy đây là một vụ sát nhân hơn là một vụ tự tử, chúng tôi buộc phải loại bỏ giả thuyết về một cuộc đấu đá chính trị hoặc giết người để cướp của. Vì vậy, chúng tôi phải xoáy trọng tâm điều tra vào những người đã từng có quan hệ làm ăn hoặc quan hệ cá nhân với Pizzi để tìm ra kẻ đã thù ghét Pizzi mà ra tay hãm hại anh ta.”
Công việc thẩm vấn kéo dài nhiều ngày. Tất cả những người bị gọi tra vấn đều tỏ ra phẫn nộ.
Brusco cũng phẫn nộ không kém, nhưng anh ta biết giữ mồm giữ miệng.
Cuối cùng, gã chạy tìm Peppone. “Sếp này, thằng cha ấy nó coi chúng ta như những đứa trẻ nít. Rồi sếp sẽ thấy – sau khi cật vấn tất cả mọi người nó nghĩ đến, bao gồm cả bà đỡ đẻ trong xóm, nó sẽ chạy đến gặp sếp với một nụ cười và hỏi sếp có gì phản đối không nếu nó bắt đầu cật vấn người của sếp. Lúc ấy, sếp sẽ khó lòng từ chối. Và rồi kết quả là mọi thứ sẽ phải lộ ra ánh sáng thôi.”
Peppone nạt Brusco. “Đừng có nói vớ vẩn. Nó có rút móng tay tớ cũng chẳng khai,”
“Nhưng không phải sếp mà thằng cha cảnh sát ấy nó thẩm vấn, hoặc tôi, hoặc bất cứ ai đó. Họ sẽ đánh hơi rồi phát hiện thằng nổ phát súng ấy mà tìm cách buộc nó phải khai ra.”
Peppone cười nhạo. “Lại nói tầm phào nữa rồi! Làm sao họ biết được đứa nào bắn trong khi chính trong chúng mình cũng không ai biết đích danh thủ phạm?”
Đó là một câu hỏi chính xác vì không ai thấy trong số 25 người của Peppone có mặt đêm hôm đó ai là người nổ phát súng oan nghiệt. Khi thấy Pizzi ngã quỵ, tất cả đã ngay lập tức leo lên xe tải. Và sau đó, mỗi người đi một đường, không ai nói với ai một lời. Và cũng từ đêm hôm đó, chẳng ai hé môi một lời về những gì đã xẩy ra,.
Peppone nhìn thẳng vào mắt Brusco. “Ai vậy?”
“Ai mà biết được ai? Có thể là sếp đã nổ súng.”
Peppone kêu lên. “Tớ? Làm sao tớ có thể bắn được khi không có khẩu súng trong tay?”
“Sếp bước vào nhà Pizzi một mình sếp và bọn chúng tôi ở ngoài đâu có thấy được sếp làm những gì trong đó.”
“Nhưng viên đạn được bắn từ bên ngoài, xuyên qua cửa sổ. Phải có người biết ai đứng canh tại cái cửa sổ đó chứ.”
“Ban đêm thì mèo đen cũng như mèo xám. Cho dù có kẻ nào nhìn thấy, thì bây giờ kẻ ấy sẽ chẳng còn thấy gì nữa hết. Nhưng có một người chắc đã nhìn thấy đứa nổ súng, đó chính là đứa bé con của Pizzi. Nếu không, mẹ nó đã chẳng khai lúc sự việc xẩy ra thằng bé đã lên giường ngủ. Và nếu đứa bé biết thủ phạm, tất nhiên Don Camillo cũng biết ai là thủ phạm. Nếu không biết rõ như thế, ông ta đã không dám nói hoặc làm như ông ta đã nói và làm.”
Peppone gầm lên. “Cầu cho kẻ nào gây ra vụ rắc rối này chết rục thây trong hỏa ngục.”
Trong khi đó, mạng lưới điều tra ngày một thắt chặt hơn. Mỗi chiều, viên trung sĩ đều đến gặp ngài Chủ tịch xã để báo cáo mọi diễn tiến của cuộc điều tra.
Một hôm, ông ta bảo viên Chủ tịch xã. “Đến lúc này, tôi vẫn chưa có thể nói gì với ngài Chủ tịch, nhưng ít nhất chúng tôi biết mình đang đứng ở đâu. Có vẻ như vụ việc có liên quan đến một người đàn bà.”
Peppone chỉ đơn giản đáp lại: “vậy ư!”, nhưng trong thâm tâm, gã chỉ muốn bóp cổ tay cảnh sát thuộc quyền.
***
Buổi chiều đã muộn, nhưng Don Camillo vẫn cứ mải miết tìm việc để làm trong căn nhà thờ vắng vẻ. Viên cha xứ đặt một cái thang lên bậc trên cùng của bàn thờ. Ông đã khám phá ra một vết nứt trên phần gỗ của cây thánh giá. Sau khi trét kín vết nứt, bây giờ ông đang sơn lên đó một lớp sơn nâu để che đậy chỗ đã sửa chữa.
Don Camillo buông một tiếng thở dài. Đức Chúa nói bằng giọng rất khẽ khàng.
“Don Camillo, có việc gì quan trọng không? Mấy hôm nay ta trông con có vẻ thất thần. Con cảm thấy không khỏe hay sao? Cảm cúm gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cha,”, Don Camillo thú tội mình mà không dám ngẩng đầu lên, “con sợ”.
“Con sợ? Nhưng sợ cái gì nào, nhân danh Cha Ta?”
“Con không biết. Nếu con biết mình sợ gì thì con đã không bị hoảng hốt đến vậy. Có một điều gì đó không bình thường, một cái gì đó trong không khí, một cái gì đó mà con có cảm tưởng mình không thể chống lại được nó. Nếu có 20 người võ khí tận răng tấn công con, con cũng không sợ bằng. Con chỉ nổi dóa vì chúng nó tới 20 người mà con chỉ có một mình không tấc sắt trong tay. Nếu con lênh đênh giữa biển khơi mà chính mình lại không biết bơi, con sẽ nghĩ ‘chỉ trong chốc lát nữa thôi mình sẽ chìm nghỉm như một con mèo con’, điều đó có thể làm con xốn xang nhiều lắm nhưng không làm con sợ. Khi người ta hiểu được sự nguy hiểm, lúc ấy người ta không còn sợ nó nữa. Nhưng nỗi sợ mang theo nó sự nguy hiểm chỉ có thể cảm được chứ không hiểu được. Giống như một người bị bịt cả hai mắt đi trên con đường chưa từng bước qua bao giờ. Cái cảm giác ấy thật là tệ.”
“Con đã đánh mất đức tin của con vào Thiên Chúa rồi phải không, Don Camillo?”
“Thưa Cha, không! linh hồn con thuộc về Thiên Chúa, nhưng thể xác con là ở trên mặt đất này. Đức Tin là một điều vĩ đại nhưng nỗi sợ của con là có thực ngay trước mắt con. Con có thể vẫn còn giữ được đức tin mạnh mẽ, nhưng nếu không có nước trong 10 ngày con sẽ chết vì khát. Đức Tin cốt ở lòng kiên trì, nhẫn nại chịu đựng rằng cơn khát ấy chỉ là một sự thử thách của Thiên Chúa. Thưa Cha, con sẵn sàng chịu đựng hàng ngàn những nỗi sợ hãi như thế này vì lòng thương yêu của Cha. Nhưng, dù thế nào, con vẫn cảm thấy sợ hãi.”
Đức Chúa mỉm cười.
“Thưa Cha, cha có khinh bỉ con không?”
“Không đâu, Don Camillo à! Nếu con không biết sợ hãi thì liệu có chút giá trị nào không nằm trong sự can đảm của con?”
Don Camillo cẩn thận phết thêm một lớp sơn mới trên chỗ nứt của cây thánh giá vừa được trét kín. Mắt ông nhìn vào bàn tay của Chúa. Bỗng nhiên, bàn tay ấy nhúc nhích như vừa nhận được sự sống. Cũng vừa vào lúc ấy, một tiếng súng nổ vang chát chúa trong nhà thờ.
Một kẻ nào đó đã từ cửa sổ nhà nguyện bên hông nhà thờ bắn vào.
Tiếng chó sủa, rồi tiếng một con khác đáp lại; từ phía xa xa, vọng lại những tràng súng máy nổ rời rạc, ngắt quãng. Rồi sau đó là sự im lặng. Don Camillo nhìn mặt Đức Chúa, đôi mắt lộ rõ vẻ sợ hãi.
“Thưa Cha, con cảm thấy bàn tay cha đang đặt lên trán con!”
“Con đang mơ ngủ đấy, Don Camillo ạ!”
Viên cha xứ hạ mắt xuống chỗ bàn tay của Chúa. Ông há hốc miệng vì kinh ngạc.
Viên đạn vừa rồi đã bắn trúng cổ tay Chúa.
Don Camillo hoảng sợ nói. “Thưa Cha, Cha đã đẩy đầu con ra để cánh tay của Cha hứng trọn viên đạn vốn là dành cho con!”
“Don Camillo!”
Don Camillo kêu lên.
“Viên đạn đã không nằm lại trên cây thánh giá. Hãy xem chỗ nó ngừng lại kìa!”
Phía sau cây thánh giá, ở bên phải, treo một khung hình trái tim màu bạc. Viên đạn đã xuyên qua lớp kính và dừng chân ngay chính giữa trái tim.
“Đầu con ở ngay đúng vị trí đó. Cánh tay của Cha đã bị trúng đạn vì cha đã đẩy đầu con ra một bên.”
“Don Camillo, bình tĩnh nào!”
Nhưng Don Camillo đã hoàn toàn hoảng sợ. Nếu như ông không đột nhiên bị lên cơn sốt dữ dội thì chỉ có Đức Chúa biết ông ta sẽ làm những gì sau đó. Hiển nhiên, Đức Chúa đã biết nên ngài khiến cho vị cha xứ phải nằm nghỉ trên giường bệnh hai ngày trong tình trạng yếu ớt như một con mèo con bị nhúng nước.
***
Cửa sổ nhà nguyện, nơi một kẻ nào đó đứng để bắn phát súng vào nhà thờ, nhìn ra một khu đất trống nho nhỏ trong khuôn viên đất nhà thờ. Viên trung sĩ cảnh sát cùng với cha xứ đang xem xét chung quanh bức tường bao bọc nhà thờ.
Chỉ vào 4 lỗ hổng trên mặt tường xi măng, ngay phía dưới chân cửa sổ, viên trung sĩ nói. “Bằng chứng đây này!”
Ông ta rút trong túi ra một con dao nhỏ, xoáy vào một trong những lỗ hổng, và rút ra một vật gì đó.
Viên trung sĩ giải thích. “Theo tôi, toàn bộ sự việc khá đơn giản. Thủ phạm đứng từ một khoảng cách xa cửa sổ, dùng súng tiểu liên Tommy bắn vào cửa sổ lúc ấy đang sáng đèn. 4 viên trúng bức tường, viên thứ năm xuyên thủng cửa kính vào trong.”
Don Camillo lắc đầu.
“Ta đã nói đó là một cây súng lục và được bắn từ một cự ly gần. Ta chưa đến nỗi già cả lẩm cẩm để không thể phân biệt được tiếng nổ của một cây súng lục với tiếng nổ của một tràng đạn súng máy liên thanh! Súng lục được bắn trước từ vị trí chúng ta đang đứng. Tiếp sau đó mới là một tràng đạn liên thanh bắn từ xa.”
Viên trung sĩ không đồng ý. “Nếu thế, chúng ta phải tìm thấy vỏ đạn rơi rớt chung quanh. Nhưng hiển nhiên là chúng ta đã không tìm thấy.”
Don Camillo nhún vai. “Chắc ngài sẽ cần phải mời một nhà phê bình âm nhạc từ La Scala đến đây để phân tích sự khác biệt giữa tiếng nổ phát ra từ một cây súng lục và một cây súng máy. Cái người bắn súng lục hẳn đã cẩn thận nhặt theo mình vỏ đạn vừa bắn ra.”
Viên trung sĩ nghe thế bèn lùng sục hiện trường kỹ hơn. Cuối cùng, ông ta tìm thấy thứ muốn tìm ở dưới gốc một cây đào ở khoảng cách chừng 2 hay 3 mét với bức tường nhà thờ.
“Một trong những viên đạn đã trượt qua gốc cây trên đường đi.” Viên trung sĩ vừa nói vừa gãi đầu ra chiều tư lự.
“Có lẽ mình phải thử trò chơi trinh thám xem nào!”
Ông ta nhặt một cây gậy, cắm xuống đất phía trước một trong những cái lỗ trên tường. Sau đó vừa đi vừa ngắm thẳng chỗ có vết đạn trên cây đào, khi ông bước sang trái, khi ông bước sang phải cho đến khi ở vị trí thẳng một đường với cây gậy cắm cạnh cửa sổ trước đó. Nhìn lại chung quanh, ông trung sĩ thấy mình đứng trước một hàng rào. Phía bên kia hàng rào là một cái mương và một lối đi.
Don Camillo bèn cùng với viên trung sĩ xem xét cẩn thận hai bên bờ rào. Tìm tòi sục sạo một lúc rồi khoảng 5 phút sau Don Camillo kêu lên.
“Nó đây rồi!”, và nhấc lên một vỏ đạn súng Tommy. Sau đó, họ còn tìm thấy 3 cái vỏ nữa.
Viên trung sĩ hí hửng. “Như vậy chứng tỏ là tôi đúng. Thủ phạm đã đứng từ đây bắn vào bên trong qua cửa sổ.”
Don Camillo tiếp tục lắc đầu không đồng ý. “Ta không biết rõ lắm về súng máy nhưng ta lại biết rất rõ rằng tất các viên đạn bắn ra từ những loại súng khác không bao giờ đi một đường cong. Ngài xem lại đi!”
Lúc ấy, một viên cảnh sát xuất hiện. Ông ta báo cáo với viên trung sĩ rằng ở ngoài thị trấn không có sự bất ổn nào xẩy ra cả.
Don Camillo nhận xét. “An lành quá phải không? Không có ai tìm cách nã đạn vào quần chúng. Chỉ có ta là đích nhắm của chúng thôi!”
Viên trung sĩ bèn mượn cây súng dài từ người cảnh sát thuộc quyền, nằm dài trên mặt đất, nhắm hướng cây súng vào khung trên của cửa sổ, nơi ông ta nghĩ viên đạn đã chạm vào đó trước khi bay vào bên trong.
Don Camillo hỏi. “Bây giờ nếu ngài bắn thì viên đạn sẽ đi đâu?”
“Trừ phi viên đạn được bắn với mục tiêu là bàn thờ, còn thì bình thường nó không thể vượt quá bàn thờ, nhất là khi nó tự tách ra làm hai hướng. Điều ấy chỉ có thể cho thấy rằng, hễ bị lúng túng khi thực hiện một công việc gì thì sự lúng túng ấy đã đủ khiến cho người ta phải vặt tóc bứt tai! Cha không thể bằng lòng với chỉ một phát tấn công. Thưa cha, nhất định là không: cha phải thực hiện ít nhất hai lần. Một phát bắn từ phía dưới chân cửa sổ và phát thứ hai từ phía sau hàng rào cách xa chừng 20 mét.”
Don Camillo đồng ý. “Ta sẽ làm chính xác như vậy đó. Ta vốn không bao giờ biết tằn tiện.”
Cùng buổi chiều hôm đó, Peppone cho gọi tất cả thuộc hạ và các cán bộ đảng đến họp ở trụ sở đảng bộ.
Peppone nói bằng một giọng không lấy gì làm phấn khởi. “Các đồng chí! Một sự việc mới vừa xẩy ra khiến tình hình hiện nay thêm rối rắm. Tối qua, một kẻ vô danh nào đó đã nổ súng vào cái gọi là linh mục chánh xứ và bọn phản động đã lợi dụng việc này để ném bùn vào đảng của chúng ta. Phản ứng của chúng, vốn ngu ngốc và hèn hạ như thường lệ, là thay vì có đủ dũng lược để buộc tội chúng ta công khai, chúng đã dùng thủ đoạn tuyên truyền rỉ tai hòng trút trách nhiệm về sự việc này lên vai chúng ta.”
Lungo giơ tay xin phát biểu. Peppone ra dấu cho phép gã nói.
“Trước hết, chúng ta yêu cầu bọn phản động phải trưng bằng cớ về một mưu toan nhằm ám sát vị linh mục chánh xứ. Cho đến nay, chúng ta chưa nghe nói có người nào đã chứng kiến được sự việc. Ngài linh mục chính xứ có thể đã lấy súng ra bắn lung tung rồi phịa tin mình bị ám sát để lấy cớ mà tấn công chúng ta trong tờ báo dơ bẩn của ông ta! Chúng ta phải đòi cho được chứng cớ trước đã,”
Cử tọa đồng thanh hoan hô. “Đúng lắm! Lungo nói hoàn toàn đúng!”
Peppone vội can thiệp. “Khoan đã! Có thể Lungo nói đúng nhưng tất cả chúng ta đều biết rõ Don Camillo và chúng ta cũng có thể không tin ông ta dùng đến cái thủ đoạn gian dối đó…”
Spocchia, tay bí thư một chi bộ đảng ở Molinetto, ngắt lời Peppone. “Đồng chí Peppone, chớ có quên rằng một lần là tu sĩ sẽ đời đời là tu sĩ! Đồng chí đã để mình bị cái thứ tình cảm ủy mị chi phối. Nếu trước đây đồng chí nghe lời tôi thì cái tờ báo phản động của ông ta sẽ không bao giờ ra đời và hôm nay, đảng ta không phải chịu đựng những lời bóng gió dè bỉu về cái vụ tự tử của Pizzi! Với kẻ thù của nhân dân, chúng ta không thể đem lòng thương hại! Bất cứ kẻ nào thương hại kẻ thù của nhân dân đều là những tên phản bội nhân dân!”
Peppone đập nắm đấm xuống mặt bàn, hét lên. “Tôi không cần những lời rao giảng của đồng chí!”
Spocchia có vẻ như vẫn không nao núng. “Còn bây giờ đây, thay vì chống đối, đồng chí hãy để cho chúng tôi hành động trong khi vẫn còn thời gian,” Hắn tiếp tục gào to. “Chúng ta không thể nào bị thụ động bởi sự hiện diện của một lũ phản động dơ bẩn! Tôi…”
Spocchia là một gã thanh niên gầy gò, khoảng cỡ 25 tuổi, có mái tóc rậm và dầy. Gã chải ngược tóc, túm lại trên chóp đỉnh rồi thả tóc dọc theo hai bên thái dương, làm thành một cái bờm như bờm ngựa. Mắt gã nhỏ ti hí, môi mỏng dính. Peppone tiến về phía gã, mắt trừng trừng, gầm gừ: “Đồ ngốc!”
Mặt Spocchia xanh lè, nhưng không dám nói gì.
Trở lại bàn chủ tọa, Peppone tiếp tục nhiệm vụ. “Lợi dụng lời phát ngôn của một vị linh mục, bọn phản động đã phát động một chiến dịch vu cáo hòng làm giảm uy tín của nhân dân. Các đồng chí cần phải tỏ ra quyết tâm hơn bao giờ hết…”
Cũng vừa lúc ấy, đột nhiên Peppone cảm thấy một điều gì kỳ lạ xẩy ra với hắn mà trước đây chưa bao giờ xẩy ra. Hắn nghe như mình đang nói gì đấy. Hình như hắn cảm thấy mình đứng trong hàng ngũ cử tọa của một buổi nói chuyện:
“…và thể xác của chúng đã bị đem bán, bọn làm thuê cho kẻ thù của giai cấp vô sản, những người lao động chân chính bị bỏ đói… tay tu sĩ lừa đảo… bọn nhà nước hắc ám… nước Mỹ… tài phiệt…”
Tai vừa lắng nghe, đầu óc của Peppone vừa suy nghĩ, “tài phiệt là cái quái quỷ gì? Sao mà cái anh chàng ấy huyên thuyên về nó nhưng lại chẳng hiểu nó mang ý nghĩa gì?”
Peppone nhìn xung quanh mình, nhìn những khuôn mặt mà hắn không thể nào nhận ra được. Những ánh mắt quỷ quyệt, và đầu mưu mô thủ đoạn nhất định phải thuộc về gã Spocchia. Hắn nghĩ đến tên thuộc hạ trung thành của mình là Brusco, nhưng gã này đang đứng tận cuối phòng, hai tay khoanh lại và đầu cúi xuống.
“Nhưng chúng ta phải cho kẻ thù biết rằng, chúng ta, phong trào kháng chiến không bị suy yếu… chúng ta đã cầm lấy vũ khí để bảo vệ cho nền dân chủ tự do…”
Và bây giờ thì Peppone nghe thấy tiếng của chính mình đang nói huyên thuyên như một kẻ rồ dại. Tiếng vỗ tay hoan hô đã khiến hắn bừng tỉnh.
“Nói hay lắm, đồng chí ạ!”, Spocchia thì thầm bên tai Peppone khi cả hai cùng bước xuống lầu. “Đồng chí chỉ cần phán một lời là tất cả chúng tôi sẽ sẵn sàng trong vòng một tiếng đồng hồ.”
Peppone vỗ vai Spocchia, nói. “Bảnh lắm!”. Nhưng có vẻ như hắn đang tự đánh mình, hắn chẳng hiểu tại sao mình lại có cảm tưởng ấy nữa.
Còn lại Peppone một mình với Brusco. Cả hai giữ sự im lặng cho riêng mình.
Cuối cùng, Peppone phá vỡ sự im lặng. “Hey, Brusco! Bị câm rồi hả? cậu chẳng buồn khen bài diễn văn của tớ một tiếng!”
Brusco bảo. “Cậu hùng biện lắm. Bảnh lắm! Hay nhất từ trước tới nay!”
Rồi cả hai lại rơi vào sự im lặng.
***
Peppone đang cặm cụi viết trên một quyển sổ. Đột nhiên, hắn cầm lấy miếng chặn giấy bằng thủy tinh, ném mạnh xuống sàn nhà, miệng gầm lên một tràng dài những lời báng bổ đầy giận dữ khó hiểu.
Brusco nhìn hắn.
Peppone giải thích. “Tớ làm vấy mực, bẩn hết cả quyển sổ cái rồi.” Nói xong , hắn đóng quyển sổ lại.
“Chắc cũng tại cây viết quái quỷ của tên ăn cướp già Barchini chứ gì,” Brusco đưa ra nhận xét bâng quơ, nhưng gã cẩn thận không nhắc đến chi tiết cây viết mà Peppone đang sử dụng chỉ là viết chì, nên việc cây viết vấy mực lên quyển sổ không thể nào xẩy ra được.
Khi rời tòa nhà bước vào bóng đêm, cả hai lẳng lặng sánh bước cho đến một khúc rẽ. Tại đây, Peppone dừng lại như muốn nói với Brusco một điều gì đó. Nhưng hắn chỉ khẽ nói: “Mai gặp lại nhé!”
“Mai nhé, sếp! Chúc sếp ngủ ngon!”
“Chúc ngủ ngon!”
G.G.
