Tenderly Yesterday – Nguồn: emmavelde.com
Ngày hôm qua, trời mưa cả ngày. Tôi đi ngủ sớm và tôi dậy sớm.
Đêm không có mưa. Tôi chỉ mở cửa sổ lá sách nhìn ra ngoài nhà: cái sân không có nước chảy tràn. Là đêm qua không có mưa. Tôi cảm thấy thật lạnh. Tôi đã mặc tới ba lớp áo. Cái áo tôi mặc ngoài cùng là Field Jacket, còn mới, dày, sao vẫn cứ lạnh. Tôi nhớ ngày xưa, đi trận, có nhiều lúc mưa gió tả tơi, tôi thèm một chiếc field jacket như cái áo của ông Đại Đội Trưởng tôi mặc. Vài người lính cũng có. Tôi thèm thôi. Hơn một năm sau tôi mới có nhờ một người Lính đi phép xa về mua giùm ở chợ trời Hố Nai, Biên Hòa…Lâu lắm rồi, từ năm 1967 đến nay, 2025, những quần áo cũ kỹ đều không còn. Cách nay hai năm, một đứa cháu ở New Jersey mua cho tôi một chiếc field jacket và gửi cho tôi. Chiếc áo mới toanh. Tôi đang mặc là năm thứ hai. Mới giặt chỉ một lần. Sẽ giặt thêm lần nữa sau mùa Đông này. Năm nay mùa Đông kéo dài lâu quá… Mặc áo ấm mà ở trong nhà hay ra xe, ngồi xe bus hay vào chợ… đâu cũng có máy điều hòa thì mồ hôi mình cũng rịn ra. Vậy mà… Cũng coi như vậy là: Tôi ở dơ quá!
Tôi hít hà tôi. Thôi kệ. Mình chẳng hề gần gũi ai thì nếu có mùi hôi… chẳng phiền. Tôi vào bàn giấy, bật đèn, mở laptop. ra dạo internet tìm bài đọc chơi…
Bạn à, có câu chuyện này, ngộ lắm, tôi đọc qua, tôi copy và bây giờ bạn cùng tôi mình đọc chung nha!
CHUYỆN TRÊN CHUYẾN TÀU VỀ QUÊ !
Ngay gần cô là một ông lão ngồi bên cạnh cửa sổ. Ông đang vui vẻ kể với mọi người rằng ông thật may mắn khi mua loại vé đứng mà vẫn tìm được một ô ghế trống trên tàu.
Nhìn thấy cô gái bé nhỏ giữa đám người đông đúc, ông lão quan tâm hỏi: “Cháu gái à, cháu về đâu vậy?”
“Dạ, cháu về Hà Nam ông ạ”.
“Thế thì phải chiều tối mai mới đến nơi, xa như vậy mà cháu phải đứng thế này thì chịu sao được! Thế này đi, khi nào ông xuống cháu có thể ngồi vào đây.”
“Dạ, thế cũng được ạ. Cảm ơn ông.” Cô gái nói với giọng nghẹn ngào, khuôn mặt tỏ ra đầy biết ơn.
Một lát sau khi nhân viên soát vé đi kiểm tra, anh nhìn đi nhìn lại vé của cô gái rồi ngạc nhiên hỏi: “Không phải vé của cô là vé ngồi sao? Tại sao phải đứng thế này?” Rồi anh liếc về phía ông lão đang ngủ và hỏi cô: “Sao cô không nói với ông ấy? Chẳng lẽ ông ấy không biết đó là chỗ của cô à?”.
Cô gái mỉm cười, nhìn về phía ông lão ra vẻ thông cảm: “Ông ấy chắc cũng 70 tuổi rồi, nếu để ông đứng thì cũng tội…”. Cô cúi mặt xuống, hai má ửng hồng vì ái ngại.
Nhân viên soát vé gật đầu, có lẽ anh cũng hiểu được tấm lòng của cô gái trẻ. Anh nhỏ nhẹ: “Đi theo tôi, tôi có thể giúp cô tìm một chỗ ngồi”. Những người xung quanh đều nghe thấy, họ khen cô tốt bụng và biết nghĩ cho người khác, rồi họ dẹp sang nhường lối để cô đi.
Cô gái cúi xuống, lấy từ dưới ghế ra cây nạng của mình…
Những người xung quanh vừa rồi bị cảm kích tấm tòng lương thiện của cô, nay lại càng chấn động hơn nữa.
*
Chuyện tào lao? Chuyện lãng xẹt? Chuyện cảm động? Chuyện thường ngày ở Huyện? Chuyện qua đường? Chuyện qua đò?
Tôi nghĩ: Tôi đang có bạn. Bạn đấy!
Tôi cũng nghĩ: Tôi vớ vẩn, ai cần làm bạn với tôi nữa? Các bạn trang lứa tuổi tôi, còn rất ít, ở rất xa, tôi có nhớ mà gọi phone thăm thì ai cũng giống ai: chuông reo, không bắt máy. Những bạn cùng trang lứa (dăm, bảy người) và những người lớn tuổi hơn… chết rồi. Có người tôi có đến thăm. Hầu hết thì không. Tôi biết ơn họ, nhân dịp họ chết tôi mới biết Nghĩa Trang ở Mỹ ra sao. Cái nào cũng mênh mông bát ngát. Hầu hết bia để nằm ngang mặt đất cho người đứng đọc phải cúi xuống. Có nhiều khu dành cho giai cấp cao, bia rườm rà… Đặc biệt: Nghĩa Trang nào cũng đẹp. Đẹp mê hồn. Cỏ được cắt tỉa cẩn thận. Không thấy thú vật nào thấp thoáng ở đây. Ruồi muỗi, không. Ong bướm, không. Trong số vài chục ngàn ngôi mộ có chừng vài mươi ngôi có bình hoa, bó hoa. Thương thật là thương: vài ngôi mộ xa, xa lắm cũng thấy có vài bình hoa. Tôi hay tò mò xem người chết trong mộ sinh năm nào. Có người từ giữa Thế Kỷ Mười Chín. Họ vẫn còn… Tất cả đấy. Ai chết cũng còn mà không ai làm bạn với tôi. Những cái bắt tay, lát nữa; hay những câu chào hello, hi… sẽ có – không phải cái gì để mình nâng niu, ngoài không khí!
Câu chuyện cô gái què tôi dẫn ở phần trên bài này… chắc cô ấy đã có chỗ ngồi rồi. Mình quên cô ấy nhé! Tôi sẽ mời bạn “thưởng thức” chuyện khác…
Mai nha?
*
Tôi hứa với tôi… ngưng bút, tôi sẽ viết tiếp vào ngày mai. Ngày mai đó qua ba ngày rồi, từ… chưa đổi giờ mùa Đông, hôm nay đang là giờ mùa Hạ. Tôi không khỏe. Với tuổi không còn đi đứng thong dong nữa, tôi thấy tôi mắc nhiều lỗi quá! Cái xe tôi dùng hàng ngày cũng thế – nó già cỗi, đời 1994… còn chạy được là đã biết bao công o bế. Việc đó dành cho người sửa sang xe cộ, mình chỉ chi tiền và làm những thủ tục với cơ quan Lộ Vận thôi. Thế mà cũng phiền ghê… Tiền. Đi tới đi lui nơi công sở. Chiều chiều đợi người đưa thư trao cho cái thư đến từ DMV! Mây bay trên đầu, trước ngõ, thản nhiên…
Dài dòng coi như cân hồ! Tôi nghĩ về Bùi Diệp – một người làm thơ, viết văn, long đong lao đao… Học hành cũng chưa ra chi dù rất danh giá: Năm Thứ Hai Đại Học Ngữ Văn Đại Học Sài Gòn (nay là Thành Phố Hồ Chí Minh), hai năm nữa sẽ tốt nghiệp Sư Phạm, sẽ có lương đủ sống hay để sống tạm bợ trên Cõi Đời Tạm Bợ này và giúp phần nào trả ơn sinh thành… nếu có thể! Thế mà chàng trai Phan Rang, nhà quê nhà mùa đành nhắm mắt xuôi tay sau khi rời bỏ trường một cách tức tưởi, coi như dở dang hẳn, để về gấp quê nhà lo chăm sóc cha già lâm trọng bệnh! Bùi Diệp về quê, chăm Cha và làm ruộng. Đúng nhất là làm thuê kiếm được đồng nào hay đồng nấy, việc thuốc thang cho Cha là chính. Bùi Diệp làm thêm… Thơ và viết Văn. Tác phẩm thành hình, chưa thể ưng ý nhưng cũng thành công: gửi cho báo đăng, có chút đỉnh nhuận bút. Dạo trên internet, Bùi Diệp gửi bài ra thế giới… may mà có trang Tương Tri. com động mắt, động lòng. Bài đăng báo trong nước thì có nhuận bút, từ năm tới mười đô la Mỹ, bõ bèn thôi. Bài đăng trên thế giới là gửi gió cho mây ngàn phương…
Bùi Diệp, tôi không quen, chỉ biết nhờ tôi có đọc vài tờ báo trong nước có khi người mình lén lút bán ở chợ bên Mỹ. Lén lút và có khi là vì “hoàn cảnh” kỳ kỳ của lịch sử nước mình và lối sinh hoạt của người mình bỏ nước ra đi sau biến cố 30 tháng Bốn năm 1975. Tôi không ra đi mà vào Trại Học Tập Cải Tạo, chỉ đi sau khi ra tù, ba chuyến vượt biển “bể hết trơn” phải “xin xỏ” đi bằng máy bay và đi được sau Mười Lăm Năm nặng mùi của khúc quanh thời cuộc… Từ năm 1989, đến Mỹ, ở Mỹ, được Mỹ nuôi ăn, nuôi bệnh, đến nay năm thứ ba mươi sáu vẫn là như thế. Hít thở được không khí tự do không phải được hẳn Tự Do, vì mình… có Tự Ái và đã nguội phần nào lòng Tự Trọng! Bài Đức Dục, nhà trường xưa, chỉ dạy cho học trò Lòng Tự Trọng, Tự Tin, Tự Hào chớ không hề dạy Lòng Tự Ái, Tự Kiêu, Tự Mãn… Đúng mà! Mình có hay còn Tự Ái là xấu – không xấu ít đâu, trái lại xấu nhiều, xấu lắm… lận! Tôi không Tốt!
Ba năm nay, tự dưng tôi có địa chỉ của Ông Bà Trần Văn Nghĩa ở Phan Rang, chúng tôi kết bạn nhau và biết hơi rõ ràng về “thân thế và sự nghiệp “vắn vỏi” và ngắn ngủi” của Bùi Diệp – nguyên quán Ninh Thuận / Phan Rang- Tháp Chàm.
Nói trước: Trần Văn Nghĩa, cùng quê tôi, Phan Thiết, Trần Văn Nghĩa gốc Đức Nghĩa, tôi gốc Xuân Phong, cùng xã Châu Thành Phan Thiết, một tình Bình Thuận. Tôi lên Đà Lạt học từ năm 1958 rồi vào trường Sư Phạm, vào Lính. về dạy học lại vẫn là Lính. Trần Văn Nghĩa lên Đà Lạt học Sư Phạm từ năm 1972, ra trường Sư Phạm năm 1975… chính thức thành Thầy Giáo trong chế độ mới từ 1975 đến nghỉ hưu. Bây giờ già rồi. Trần Văn Nghĩa là nhà thơ có tên tuổi từ lâu nhờ tài Làm Thơ, bài đăng trên các báo rất uy tín tại Sài Gòn (Tuổi Ngọc, Tuổi Hoa, Bách Khoa, Thời Nay…) trước 4 – 1975 nhiều năm). Thơ Trần Văn Nghĩa rất dễ thương, gợi cảm mà đôn hậu. Trần Văn Nghĩa hiền lành, đẹp người, lọt vào mắt biếc của cô Sinh Viên Văn Khoa Viện Đại Học Đà Lạt là nàng Thái Thị Lý cũng là Nhà Văn Thái Lý, chuyên viết Truyện Ngắn với bút danh Thái Lý. Trần Văn Nghĩa kết hôn với Thái Thị Lý, ở lì luôn quê vợ, hai vợ chồng là Thầy Cô Giáo của tỉnh này (có thời nó là Thuận Hải gần như ai cũng nói là Tỉnh Sợ Hãi). Cả hai đều đã về hưu, sống với tiền hưu mà chủ yếu là nhờ ruộng rẫy. Cũng nhờ ít con, chỉ có hai, đã có gia thất, vững chãi… Tôi thích lối viết của Thái Lý. In ít yêu thơ Trần Văn Nghĩa, nhiều nhiều là tình mến thân ràng buộc người cùng một nghề gõ đầu con nít.
Chị Thái Thị Lý có bà con xa gần với Bùi Diệp.
Trần Văn Nghĩa rất yêu thương và phục tài Bùi Diệp. Lý nói: Bùi Diệp mất, từ lúc nghe tin đến ba ngày sau, Nghĩa khóc dài dài, cầm nước mắt không được dù hai người không ruột rà gì cả… Tới bây giờ, Bùi Diệp vẫn là nỗi đăm chiêu tồn tại bền vững của Trần Văn Nghĩa…
Tôi có bàng hoàng. Tôi có ưu tư. Tôi không hiểu sao tôi thích thơ văn của Bùi Diệp một cách ngẩn ngơ hơn mười năm rồi… Chắc chắn là Bùi Diệp viết hay quá đi, trải lòng ra như lòng trời lòng đất. Ba năm nay biết rõ hoàn cảnh sống, học, làm lụng của Bùi Diệp tôi càng thấy Bùi Diệp đang tôn trọng. Một chút này: Bùi Diệp có người em cùng cha khác mẹ (Ông già bước thêm), nó không ngoan, không chăm chỉ, lại còn hoang phí, ai ai cũng… không chịu thế, nhưng Bùi Diệp lại rất thương em, chia sẻ và nhường nhịn cho em, vì em… Hai anh em đều đã già. Nay thì thằng em là ộng Cụ còn Bùi Diệp là bóng mây… Bùi Diệp khi lập gia đình, may mắn Trời Phật thương, Bùi Diệp có người vợ Tốt, có các con Tốt…, lúc nào cũng coi Bùi Diệp vẫn còn tại thế!
Tôi nói về “cái chất” của con người Bùi Diệp, thật tình về Thơ, Văn của Bùi Diệp, tôi nghiêng mình kính cẩn. Coi như tôi tìm thanh cổ kiếm mà bỗng gặp Giai Nhân! Tôi tra cứu nhiều người Thầy trong đời tôi: Giai Nhân là người Con Gái Đẹp mà cũng là Người Tốt. Vũ Hoàng Chương từng nhá thơ: “Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương!”. Trọn đời Vũ Hoàng Chương chỉ “đáng ghét” ở chỗ là ông không bỏ được Nàng Tiên Nâu nhưng ông nhớ thương hoài Mỹ Nhân! “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng!”. Tướng tài… thì còn tên chớ không thấy ai còn “thọ”! Ôi là đau! Trần Hưng Đạo là tướng giỏi đời nhà Trần vẫn “bị” gọi bằng “mày”: “Mày anh hùng, tao cũng anh hùng, mày tao cùng một gánh Non Sông!”. Thơ đấy, đáng địt mẹ thôi hà.
Tôi dẫn ra đây một số bài của Bùi Diệp được đăng trên trang tuongtri.com:
